Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 vùng dân tộc thiểu số học tốt phân môn tập làm văn dạng bài tả cảnh - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 VÙNG DÂN
TỘC THIỂU SỐ HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN,
DẠNG BÀI TẢ CẢNH

Người thực hiện: Hà Thị Khoa
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nam Động
SKKN thuộc lĩnh vực: Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC

Trang
1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Lí do chọn đề tài
1
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2

17
- Tài liệu tham khảo
- Danh mục sáng kiến kinh nghiệm đã được xếp loại


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong nhà trường, tiếng Việt tồn tại với tư cách vừa là một môn học, vừa
là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh. Do đó, trình độ tiếng Việt (vốn từ,
kiến thức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập, giao tiếp) có
vai trò ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tập các môn học của học
sinh. Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc thiểu số càng học lên lớp trên thì
khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp. Một trong những
nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng này là do sự thiếu hụt về vốn
sống, vốn ngôn ngữ. Để giải quyết vấn đề chất lượng giáo dục vùng miền núi dân tộc, ngoài các yếu tố về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, tổ chức dạy học
phù hợp thì ngôn ngữ là rào cản cần khắc phục một cách căn bản ngay từ cấp
Tiểu học. Trong đó, trọng tâm là phải tập trung vào việc phát triển các kĩ năng
sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) cho các em… [10]
Trong đó phân môn Tập làm văn chiếm một vị trí quan trọng. Nó không
chỉ quan trọng đối với các em khi còn học bậc Tiểu học mà còn là nền tảng
xuyên suốt trong các bậc học cao hơn và trong cả cuộc sống sau này của các em.
Khi đã diễn đạt lưu loát, cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong từng cảnh vật, cuộc
sống xung quanh, các em sẽ thấy lạc quan, yêu cuộc sống hơn.
Là giáo viên được phân công giảng dạy ở lớp 5 nhiều năm, tôi nhận thấy
phân môn Tập làm văn là phân môn “khó dạy” trong các phân môn của môn
Tiếng Việt, nhiều giáo viên có tâm lí "ngại dạy" phân môn này, khi chọn các tiết
để thao giảng thường rất ít khi chọn những tiết Tập làm văn. Nguyên nhân là do
khi dạy phân môn Tập làm văn, ngoài năng lực hướng dẫn nó còn đòi hỏi giáo
viên phải ứng xử linh hoạt trong quá trình dạy. Bên cạnh đó, nhiều học sinh có
tâm lí "ngại học", trong khi vốn từ của các em còn rất nghèo nàn. Đa số các em

- Nội dung chương trình, phương pháp dạy học phân môn Tập làm văn
lớp 5 dạng bài tả cảnh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Khi viết sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã sử dụng một số phương pháp
sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp quan sát, điều tra.
- Phương pháp đọc, phân tích tài liệu.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp phân tích các bài văn mẫu.
- Phương pháp thống kê để so sánh, đối chiếu kết quả.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm qua tiết trả bài.
- Phương pháp tham khảo, trao đổi lấy ý kiến đồng nghiệp.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Văn miêu tả là một kiểu văn bản có vị trí rất quan trọng trong chương
trình tiếng Việt cấp Tiểu học. Vì thế, trong chương trình Cải cách giáo dục trước
đây và Chương trình Tiểu học hiện nay, văn miêu tả đều được đưa vào giảng dạy
ngay từ lớp 2, lớp 3 nhằm rèn cho học sinh một số kỹ năng bộ phận, ban đầu,
giúp các em làm quen với dạng văn này. Lên đến lớp 4, lớp 5, học sinh sẽ được
rèn luyện những kỹ năng viết văn miêu tả ở mức cao hơn để từ đó có thể tạo lập
những văn bản miêu tả hoàn chỉnh, mang đạm dấu ấn cá nhân. [9]
Học các tiết Tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp
của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi phân tích đề
Tập làm văn, học sinh lại có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ được định
hướng trong các đề bài. Các bài Tập làm văn tạo cơ hội cho học sinh thể hiện

- Bầu trời mùa hè "rất nóng và cháy lên những tia sáng của ngọn lửa".
- Còn buổi sáng tháng chín thì bầu trời rất đẹp, "được rửa mặt sau cơn
mưa"; "bầu trời xanh biếc", "bầu trời ghé sát mặt đất", có "những đám mây xám
đang từ phương Bắc trôi tới"…
* Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự so sánh khi lũ trẻ cảm nhận bầu trời
thu: "Bầu trời xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao".[4]
Mặt khác, do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 5 đang ở thời kỳ
đầu của tuổi dậy thì nên các em có nhiều thay đổi về tâm lý và hành động. Khả
năng chú ý thiếu tập trung, ham chơi và lơ là trong học tập. Đặc biệt là học sinh
dân tộc thiểu số, các em còn hạn chế nhiều về ngôn ngữ, khi chuyển từ ngôn ngữ
địa phương sang ngôn ngữ chung (Tiếng việt) các em khó diễn đạt, ít hiểu nghĩa,
nên dẫn đến những bài văn tả cảnh thiếu sáng tạo, khô khan, nghèo nàn về ý,
vụng về trong cách dùng từ đặt câu…
Vì vậy việc hướng dẫn học sinh biết làm một bài văn tả cảnh có đầy đủ ba
phần, diễn đạt trôi trảy, trình bày rõ ràng mạch lạc, giàu hình ảnh, có cảm xúc.
Góp phần nâng cao trình độ tư duy khi viết văn, tạo nền tảng cho các em học tốt
môn Ngữ văn ở các lớp trên và có vốn từ phong phú cho cuộc sống sau này là
vấn đề quan trọng.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến ở trường Tiểu
học Nam Động- Quan Hóa
2.2.1. Về phía giáo viên
+ Về ưu điểm: Giáo viên được phân công giảng dạy và chủ nhiệm ở khối
lớp 5 đều là những giáo viên có trình độ trên chuẩn, năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy ở lớp 5.
Giáo viên dạy đúng chương trình sách giáo khoa và chuẩn kiến thức kỹ
năng, soạn bài đầy đủ, chuẩn bị đồ dùng trước khi lên lớp.
+ Về hạn chế: Sách giáo viên là tài liệu để tham khảo nhưng khi thiết kế
bài dạy, nhiều giáo viên còn phụ thuộc tài liệu này và rập khuôn theo giáo án cũ.
Thiếu tính sáng tạo, chưa có sự đầu tư, tìm tòi dẫn đến việc truyền đạt lúng túng
về phương pháp và nội dung.

ý, không đọc lại bài văn khi hoàn thành.
Khi tả cảnh chỉ chú ý đến tả cảnh thiên nhiên chưa chú ý đến cảnh vật,
con người.
Học sinh dùng từ đặt câu chưa logic, chưa sáng tạo, còn mang tính liệt kê,
không biết lựa chọn từ ngữ để tả, nhớ đến đâu tả đến đó.
Diễn đạt như văn nói, đưa cả từ ngữ địa phương vào bài văn.
Trong bài văn không biết dùng các biện pháp nghệ thuật, chưa biết bộc lộ
5


cảm xúc dẫn đến bài văn khô cứng.
Rất nhiều học sinh viết câu chưa thành thạo nên đặt dấu câu tùy tiện, làm
sai lệch nghĩa của câu.
Do đặc thù ngôn ngữ địa phương, ở nhà các em giao tiếp chủ yếu bằng
tiếng mẹ đẻ, khi đến trường các em chuyển sang giao tiếp bằng tiếng phổ thông,
nên nhiều từ khiến các em không biết diễn đạt như thế nào trong cả văn nói và
văn viết. Đó là nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bài văn.
Trước thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy, cuối tháng 9 tuần 4
tôi đã tổ chức cho lớp tôi làm bài tập kiểm tra Tập làm văn dạng bài tả cảnh.
Đề bài: Tả ngôi nhà của em.
Tôi cho học sinh làm bài nghiêm túc, chấm đúng thực tế và thu được kết
quả như sau:

Lớp

5A

Sĩ số

12

không có học sinh hoàn thành tốt.
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò,
trách nhiệm của người giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi đã thực hiện các
biện pháp sau đây, nhằm nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn của lớp.
2.3. Các biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt phân môn Tập làm văn
dạng bài tả cảnh
2.3.1. Biện pháp 1. Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững qui trình
chung của dạng bài Tập làm văn tả cảnh
Thông thường để viết một bài văn ở lớp 5 thường trải qua các qui trình sau:
+ Tìm hiểu xác định yêu cầu của đề, quan sát đối tượng được tả, lập dàn
ý, viết bài văn hoàn chỉnh, rút kinh nghiệm qua tiết trả bài. Cụ thể:
Bước 1: Tìm hiểu đề
Trước hết giáo viên cần cho học sinh đọc đề nhiều lần. Xác định rõ đề bài
thuộc thể loại văn gì ? Đối tượng miêu tả là cảnh gì ? Ở đâu ? Phạm vi không
gian, thời gian làm toát lên cảnh đó, phần nào là trọng tâm giáo viên cần nhấn
6


mạnh và gạch chân các từ ngữ của phần đó. Bước tìm hiểu đề cần được coi trọng
để giúp học sinh hiểu đúng yêu cầu của đề.
Bước 2: Quan sát đối tượng miêu tả.
Quan sát từ bao quát đến cụ thể, từ xa đến gần…
Quan sát bằng các giác quan, lưu ý đến các yếu tố: màu sắc, hình ảnh, âm
thanh…
Bước 3: Lập dàn ý
Lập dàn ý là bước có vai trò quan trọng, là khâu quyết định nội dung bài
văn. Dàn ý được lập trên cơ sở tìm được những ý đúng với đề tài và trọng tâm
của đề bài. Muốn lập dàn ý đạt yêu cầu tốt các em phải có vốn từ phong phú,
biết cách quan sát, sắp xếp, chọn lọc ý. Sắp xếp nội dung theo từng phần của dàn
ý. Điều quan trọng khi lập dàn ý các em phải xác định được đâu là trọng tâm của

+ Quan sát theo tâm lý:
Khi quan sát cần thấy đặc điểm riêng nổi bật, gây hứng thú và gây cảm
xúc nhất thì tả trước, các cảnh vật khác tả sau.
Ví dụ: Đề bài: Tả một cơn mưa.
Trước tiên tôi hướng dẫn các em quan sát bầu trời rồi chọn các từ ngữ tả
phù hợp với thời điểm đó:
* Cơn mưa bắt đầu đến:
- Mây: Các từ tả mây; mây đen xám xịt, nặng và đặc xịt, lổm ngổm đầy
trời…
- Gió: Thổi mạnh, thổi giật, gió ào ào, gió rít lên từng hồi…
* Cơn mưa đến:
- Tiếng mưa lúc đầu: Lách tách, lẹt rẹt, lẹt đẹt…
Cơn mưa to dần, tiếng mưa khác hơn: Rào rào, mưa ù ù, mưa đồm độp,
mưa đập bùng bùng vào tàu lá chuối.
- Tiếng nước chuyển động: lăn xuống, xiên xuống, kéo xuống, giọt ngã,
giọt ngửa .
- Tiếng sấm, chớp: đùng đùng, rạch ngang trời.
Những từ ngữ tả con vật, bầu trời:
+ Trong mưa: lá đào, lá chuối,…vẫy tai run rẩy. [7]
Chú ong thợ ướt đẫm cánh bay về tổ, mối già, mối trẻ bay cao.
- Cuối cơn mưa, vòm trời tối thẩm đen kịt.
+ Sau cơn mưa: trời sáng dần, rạng dần. Chim bay ra hót, gà mẹ tục tục
đàn con. Bầu trời cao và trong vắt. Mọi người vội vã trở lại với công việc.
2.3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh biết tả cảnh bằng các giác
quan
Để giúp bài văn có hồn hơn, tôi gợi ý hướng dẫn các em biết tả bằng các
8


giác quan như:

cho mình bằng cách thường xuyên đọc sách, báo rồi ghi vào sổ tay văn học của
mình. Cuối mỗi tuần trong tiết sinh hoạt, tôi cho các tổ tự thống kê, bình bầu cá
nhân, tổ ghi được nhiều từ mới, từ hay. Như vậy mới giúp học sinh nhớ được các
từ ngữ, các hình ảnh, thậm chí cả câu văn hay của các bài Tập đọc đó.
9


Dạy phân môn Luyện từ và câu cũng tạo cho học sinh ý thức sử dụng
ngôn ngữ khi viết văn tả cảnh là cách để các em hiểu rõ từ, mở rộng chúng khi
dùng những từ gần nghĩa, trái nghĩa, từ nhiều nghĩa.
Ví dụ: Khi dạy bài "Luyện tập về từ nhiều nghĩa" tôi nêu lên cho học sinh
thấy cũng là từ “chín” còn có hàng loạt từ ngữ khác: chín vàng, chín học sinh,
chín chắn…. Mỗi từ đều mang nét nghĩa riêng.
Việc học và mở rộng từ láy cũng có ý nghĩa tích cực với việc tích luỹ vốn
từ ngữ tả cảnh của học sinh.
Ví dụ: "Tả cơn mưa" tôi gợi ý cho các em sử dụng các từ láy như: xối xả,
ào ào, ầm ầm, đùng đùng…
Khi học sinh có được vốn từ rồi, tôi hướng dẫn các em cần trau chuốt, lựa
chọn từ ngữ, hình ảnh sao cho phù hợp với dạng văn tả cảnh. Việc xác định một
từ ngữ hay hình ảnh phải tìm tòi, chọn lọc thì hình ảnh, từ ngữ đó mới thích hợp,
mới gợi cảm.
Song song với việc hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn từ ngữ tôi hướng dẫn
học sinh sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong bài văn tả cảnh.
Để viết một đoạn văn hay, một bài văn hấp dẫn đòi hỏi trong từng đoạn
văn phải có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá,… thì
bài văn mới sinh động. Việc hướng dẫn các em biết sử dụng các biện pháp nghệ
thuật trong văn tả cảnh là rất cần thiết. Tôi thường hướng dẫn học sinh sử dụng
một số biện pháp nghệ thuật sau:
* Sử dụng biện pháp so sánh:
"So sánh là đối chiếu 2 sự vật hiện tượng cùng có một dấu hiệu chung nào

mắc phải để sửa chữa kịp thời.
2.3.7. Biện pháp 7: Hướng dẫn học sinh sắp xếp các từ, các ý tìm được
thành bài văn hoàn chỉnh
- Dựa vào các ý đã lập được tôi hướng dẫn học sinh viết từng đoạn: Mở
bài, thân bài và kết bài. Yêu cầu viết đoạn, viết câu, liên kết các câu chặt chẽ và
chính xác mà các em đã học trước đó.
+ Đoạn mở bài thường dẫn người đọc vào bài.
Khi viết đoạn mở bài tôi hướng dẫn học sinh cần giới thiệu được nội dung
định tả, lựa chọn một trong hai cách mở bài trực tiếp hoặc mở bài gián tiếp.
Cảnh đó ở đâu? Em tả nó vào thời điểm nào…?
Ví dụ: Tả cơn mưa.
Các em phải xác định được tả cơn mưa vào thời điểm nào? (Tả cơn mưa
vào buổi sáng sớm khi em bắt đầu đi học cách mở bài sẽ khác với tả cơn mưa
vào giữa trưa nắng hoặc chiều tối).
Ví dụ: Mở bài trực tiếp của đề: Tả cảnh cơn mưa vào buổi sáng.
Cơn mưa đến nhanh quá, ánh bình minh chưa kịp bừng sáng thì cơn mưa
đã ập xuống.
Mở bài gián tiếp của đề: Tả cơn mưa.
Đám mây xám xịt từ đâu kéo về phủ kín cả bầu trời. Gió cuồn cuộn thổi.
Bụi bay mù mịt. Rồi, những hạt mưa mát lạnh từ trên trời bất ngờ lao xuống.
* Với hai cách mở bài khác nhau, tôi gợi ý để học sinh nhận thấy cái hay
cái đẹp ở mỗi cách, đặc biệt cách mở bài gián tiếp.
+ Đoạn thân bài: "Đây là phần trọng tâm của một bài văn, một thân bài
sáo rỗng, hời hợt, không giải quyết được đầy đủ các yêu cầu đặt ra ở phần đề bài
thì chưa phải là một bài văn hay". [5]
Để xây dựng một thân bài tốt tôi hướng dẫn học sinh: bám sát vào dàn bài
12


chi tiết; dùng các từ ngữ giàu hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật. Sử dụng các từ

có cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt, xác định xem học sinh đã làm bài đúng
thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những chỗ
hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng học sinh.
Khi chấm bài xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của
13


từng học sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy và những thiếu sót cần sửa
chữa, bổ sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới.
*. Trả bài viết.
Với nhiều giáo viên thì đây là tiết học luôn bị xem nhẹ, nhưng với tôi,
đây là tiết rất quan trọng trong phân môn Tập làm văn.
Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết lớp 5, có
3 hoạt động chính:
1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp.
2. Chữa bài.
3. Đọc tham khảo các bài văn hay.
Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, tôi lấy thông tin từ bài viết của học sinh
(đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) rồi thực hiện các hoạt động trả bài một cách
nghiêm túc, linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp.
Hoạt động 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau:
Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài: ghi đề, học sinh
đọc đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm. Đánh giá tình
hình bài làm của lớp về mặt nhận thức đề. Tuyên dương cá nhân, cả lớp...
Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết. Đọc một vài đoạn văn đã chọn sẵn
cho học sinh nghe và nhận xét, cuối cùng giáo viên đánh giá chung về nội dung
đoạn văn đó.
Hoạt động 2: Chữa bài.
Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn đạt:
Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở bài làm của cả lớp trong quá

rất tự tin khi đến tiết học Tập làm văn.
Tiến bộ hơn nữa là các em đã tích lũy được vốn từ cho mình, mạnh dạn
hơn trong giao tiếp với giáo viên và mọi người. Từ chỗ hiểu các từ ngữ các em
đã tiến bộ nhiều trong trả lời các câu hỏi (đọc hiểu) của phân môn Tập đọc.
Điều đó giúp tôi tự tin, sự phấn khởi, hăng say và yêu thích dạy phân môn
tập làm văn hơn. Kết quả chất lượng đạt được sau khi áp dụng các kinh nghiệm:

Lớp

5A

Sĩ số

12

Số bài đạt mức Số bài đạt mức Số bài chưa hoàn
hoàn thành tốt
hoàn thành
thành
SL

TL

SL

TL

SL

TL

giao. Mỗi một bài văn đều có tính sáng tạo, ít lặp từ, giàu hình ảnh và cảm xúc.
Đặc biệt các em đã biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong cả văn nói và
văn viết một cách thành thạo, tự nhiên.
Các em đọc diễn cảm, lưu loát hơn. Chữ viết của lớp cũng tiến bộ rõ rệt.
Chất lượng đại trà được nâng lên không chỉ ở phân môn Tập làm văn mà cả ở
các môn học khác.
Tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn
cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, người giáo viên cần phải:
Tăng cường học hỏi ngôn ngữ, tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán địa
phương, gần gũi học sinh và có thể diễn đạt cho học sinh hiểu khi gặp khó khăn
trong giao tiếp bằng tiếng phổ thông.
Soạn giảng đầy đủ, nghiên cứu chuẩn bị trước các từ, câu, phương pháp
cụ thể cho mỗi tiết Tập làm văn.
Lồng ghép ngôn ngữ địa phương khi giải nghĩa từ, giúp các em hiểu và
chọn từ ngữ chính xác hơn trong văn tả cảnh nói riêng và trong phân môn Tập
làm văn nói chung.
Rèn thói quen sử dụng từ ngữ, khả năng quan sát, cách quan sát cho học
sinh một cách bền bỉ thường xuyên.
Đưa các em vào hoạt động giao tiếp bằng nhiều hình thức.
Dạy cách dùng từ, đặt câu, biết suy nghĩ, tìm tòi, diễn tả chính xác những
cái hay, cái đẹp, sự phong phú của tiếng Việt. Rèn cho học sinh có ý thức tự giác
trong học tập, lúc viết phải diễn tả ý làm sao cho logic, gọn gàng,chặt chẽ, chính
xác và hay.
Cần lựa chọn hình thức dạy học phong phú, tạo không khí giờ học sôi nổi,
gây hứng thú cho học sinh, trong khi học phát huy năng lực tư duy, tưởng tượng,
khuyến khích nhiều học sinh được nói, viết về vấn đề mình thấy, được nhận xét
16


bài làm của bạn.

Hà Thị Khoa

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Xuân Trường - Giáo viên Trường Tiểu học Trần Phú, huyện
Krong Ana, tỉnh Đăk Lăk. "Một số biện pháp giúp học sinh học tập hiệu quả
dạng văn tả cảnh trong phân môn Tập làm văn lớp 5" - Năm học 2014- 2015.
2. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng lớp 5 - Bộ giáo dục và
đào tạo - Nhà xuất bản giáo dục, năm 2009.
3. Luyện tập cảm thụ văn học ở Tiểu học - Trần Mạnh Hưởng - Nhà xuất
bản Giáo dục, năm 2001.
4. Nâng cao Tiếng việt 5 - Tạ Đức Hiền, T.S Phạm Minh Tú, T.S Nguyễn
Việt Nga - Nhà xuất bản Hà Nội, năm 2006.
5. Ôn tập Tiếng việt 5 (Kiến thức tổng quát) - Đỗ Thị Sương - Nguồn
Internet.
6. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5- Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2009.
7. Sách giáo viên Tiếng Việt Lớp 5- Bộ giáo dục và Đào tạo - Nhà xuất
bản Giáo dục, năm 2006.
8. Tạp chí giáo dục Tiểu học - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Tập 28,
năm 2008.
9. Tạp chí giáo dục Tiểu học - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Số 32,
năm 2008
10. Tạp chí giáo dục Tiểu học - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam - Tập
53, năm 2011.
11. Tuyển chọn những bài văn hay lớp 5- Vũ Tiến Quỳnh - Nhà xuất bản
tổng hợp Đồng Nai, năm 2000.

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status