MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP5
HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
I/LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đổi mới phương pháp giảng dạy ở các bậc học nói chung và đổi mới
phương pháp giảng dạy trong bậc tiểu học nói riêng, từ lâu đã được ngành
giáo dục và toàn xã hội quan tâm. Trong bậc tiểu học cần đổi mới phương
pháp, nhằm hướng tới một mục đích chung là bước đầu giáo dục căn bản toàn
diện cho các em học sinh qua các môn học, trong đó có môn Tiếng Việt.
Trong chương trình Tiểu Học, môn Tiếng Việt là một trong những môn học có
vị trí quan trọng. Vì qua môn Tiếng Việt bước đầu hình thành và rèn luyện
cho các em những kĩ năng cần thiết “Nghe, nói, đọc, viết”, do đó mà môn
Tiếng Việt được phân bố thời lượng nhiều nhất so với các môn học khác.
Trong đó phân môn Tập làm văn lại chiếm phần nhiều thời lượng trong môn
Tiếng Việt. Vì vậy, việc dạy Tập làm văn có vai trò hết sức cần thiết và quan
trọng, nó là nền tảng để giúp các em học sinh học tốt các môn học khác.
Để đổi mới phương pháp dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
Tập làm văn nói riêng một cách có hiệu quả, quan trọng nhất vẫn là những
người giáo viên biết nắm bắt thực tế đối tượng học sinh mình đang dạy, và từ
đó linh hoạt vận dụng phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả cao trong mỗi giờ
dạy. Đồng thời đòi hỏi giáo viên phải luôn tìm tòi, có sáng kiến mới trong mỗi
giờ dạy của mình, để giúp các em học tập tốt hơn.Tư tưởng coi học sinh là
trung tâm là muốn bổ sung nguồn kiến thức cho học sinh, dạy học không chỉ
là truyền dạy một khối kiến thức, mà phải chú ý phát triển kĩ năng cho người
học là hấp dẫn, hứng thú với vấn đề cần học. Trải qua nhiều năm công tác, từ
trong thực tiễn giảng dạy, bản thân tôi đã đúc kết cho mình một số kinh
nghiệm về dạy học phân môn Tập làm văn lớp 5. Với mong muốn góp một
1
phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung và
chất lượng của học sinh trong việc học phân môn Tập làm văn nói riêng. Từ
1/ Thuận lợi:
-Học sinh lớp 5 là lớp cuối cấp tiểu học nên các em có ý thức học tập tốt hơn
so với các em ở đầu cấp.
-Nhà trường luôn tạo điều kiện cho công tác giảng dạy, luôn được sự quan tâm
của ban giám hiệu, chính quyền địa phương cùng với phòng Giáo dục và đào
tạo. Bản thân nhiệt tình có kinh nghiệm trong công tác. Hầu hết các em là con
em sống trên địa bàn của xã, thuận lợi cho việc liên lạc giữa gia đình – nhà
trường.
2/ Khó khăn:
a. Khó khăn chủ quan:
- Chất lượng học sinh không đồng đều. kĩ năng học Tập làm văn của các em
còn hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quả học tập ở môn Tiếng Việt cũng như
các môn học khác. Phần lớn học sinh trong lớp học phân môn Tập làm văn rất
yếu. Qua một thời gian giảng dạy phân môn Tập làm văn theo chương trình
sách giáo khoa, tôi nhận thấy việc dạy và học phân môn Tập làm văn có một
số khó khăn nhất định đó là:
- Đa số học sinh tỏ ra lúng túng khi làm bài, do vốn từ ngữ của các em
còn nhiều hạn chế, chưa biết cách mở rộng câu đúng thành câu hay.
- Các em chưa nắm chắc cách trình bày bài văn.
- Chưa biết cách sử dụng câu nêu ý chính bao trùm cho cả đoạn văn,
cách chuyển ý giữa các đoạn, làm cho các đoạn văn trong bài văn còn rời rạc
và chưa logic.
- Trong khi viết các em chưa biết cách sáng tạo và bộc lộ cảm xúc của
mình.
3
- Một số em sử dụng biện pháp so sánh nhưng còn cứng nhắc.
b. Khó khăn khách quan:
- Tất cả học sinh lớp tôi sống ở ba buôn làng ( Buôn Liăp, Bôn Khăn và
Buôn Hoang), nên các em thỉnh thoảng nghỉ học ảnh hưởng tới chất lượng học
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
25 0 0 2 8 14 56 9 36
Nhận xét: Từ bảng 1.1 cho thấy tỉ lệ học sinh Khá – Giỏi thấp, tỉ lệ học sinh
yếu và học sinh trung bình chiếm tỉ lệ cao.
Qua một năm tìm tòi, sáng kiến các biện pháp rèn kĩ năng viết văn cho
học sinh, tôi nhận thấy các em có nhiều tiến bộ, kết quả đạt được cuối năm
học như sau:
B+ng1.2. Kh+o sát đánh giá chất lượng cuối năm học 2013-2014:
Tổng
số HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số
lượng
Tỉ lệ Số
lượng
Tỉ lệ
%
23 0 0 2 8,7 12 52,2 9 39,1
Nhận xét: Từ bảng 1.3 cho thấy tỉ lệ học sinh Khá – Giỏi thấp bằng tỉ lệ học
sinh yếu và học sinh trung bình chiếm tỉ lệ cao.
II/ các biện pháp gi+ng dạy:
Trong chương trình hướng dẫn giảng dạy phần Tập làm văn lớp 5 cũng đặt
ra một số vấn đề cơ bản, từ đó giáo viên vận dụng vào mỗi tiết học. Nhưng
thực tế giảng dạy có nhiều đối tượng học sinh với những khả năng khác nhau.
Đòi hỏi muốn giảng dạy có hiệu quả, đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi, sáng kiến.
Khi nghiên cứu chương trình Tập làm văn lớp 5, tôi nhận thấy phân môn Tập
làm văn trong chương trình lớp 5 gồm các tuyến kiến thức:
- Văn miêu tả gồm có: + Tả cảnh.
+ Tả người.
- Các loại văn bản khác: + Báo cáo thống kê.
+ Làm đơn.
+ Thuyết trình tranh luận.
+ Làm biên bản…
Trong đó thể loại văn miêu tả khá trọng tâm và quan trọng trong
chương trình Tập làm văn lớp 5. Bởi văn miêu tả là hình thức dùng ngôn từ
phác họa ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người…một cách sinh động,
cụ thể. Văn miêu tả giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang: “
Xem tận mắt, bắt tận tay”. Nhưng bản thân tôi khi vận dụng sáng kiến vào
giảng dạy, cũng chỉ mới áp dụng cho phần Tập làm văn miêu tả, mà chưa áp
dụng rộng ở các thể lại và phân môn khác. Đồng thời sáng kiến cũng chỉ là ý
kiến chủ quan của cá nhân đề xuất, nên phạm vi nghiên cứu còn hẹp. Vì vậy;
6
chưa dám khẳng định sẽ có hiệu quả cao, khi áp dụng cho những đối tượng
học sinh lớp khác và phân môn khác.
Đông, ông mặt trời từ từ dâng cao trên đỉnh núi”. Hoặc “Mặt trời vừa nhô lên
khỏi rạng tre, xua tan những đám sương mù dày đặc…”
+ Chim hót (câu đúng). Mở rộng: “Trong vòm lá xanh, con chim chào
mào hót líu lo như đón chào ngày mới”…
3. Tìm hiểu cấu tạo bài văn tả cảnh hoặc tả người;
- Từ một văn bản mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định mở bài,
thân bài, kết bài của bài văn tả cảnh, tả người.
- Cho học sinh rút ra ghi nhớ về cấu tạo của bài văn tả cảnh, tả người.
- Sau đó lưu ý cho học sinh về cách trình bày bài văn sao cho tách bạch
rõ 3 phần của một bài tập làm văn.
4. Phân tích các văn bản mẫu:
Với các văn bản mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh tập trung vào việc
tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong bài văn. Đồng thời cũng chú tâm vào việc tìm
hiểu cách sử dụng các giác quan khi quan sát và cách chọn lọc chi tiết để tả.
Ngoài ra còn có thể kết hợp với việc quan sát các cảnh vật thông qua tranh,
ảnh.
Ví dụ:
* Bài “ Luyện tập tả cảnh” - Sách Tiếng Việt 5- Tập 1 – trang 14.
- Cho học sinh đọc bài văn “ Buổi sớm trên cánh đồng”.
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh phân tích bài văn bằng các câu hỏi:
+ Tác giả tả những sự vật gì trong buổi sớm mùa thu?
+ Tác giả quan sát sự vật bằng những giác quan nào?
+ Tìm một chi tiết thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả.
8
- Sau khi tìm hiểu xong bài văn, giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh
thấy nghệ thuật quan sát và chọn lọc chi tiết tả cảnh của tác giả.
* Bài “ Luyện tập tả cảnh’ – Tiếng Việt 5- Tập 1- trang 21.
- Yêu cầu của bài này là học sinh phân tích hai văn bản “ Rừng trưa’’
và “ Chiều tối” để thấy được những hình ảnh đẹp trong mỗi bài văn.
Giáo viên gạch chân bằng phấn màu dưới các từ ngữ quan trọng để học
sinh chú ý. Nếu đối tượng miêu tả không thực tế và gần gũi với học sinh (Tả
cảnh con sông, tả cảnh ở công viên,…), thì giáo viên cần giới thiệu một số
tranh ảnh minh họa cho học sinh quan sát.
Hướng dẩn học sinh lập dàn ý từ những điều quan sát được.
Ví dụ: * Quan sát trường em. Từ những điều đã quan sát được, lập dàn
ý cho bài văn miêu tả ngôi trường (sách Tiếng Việt 5 - Tập 1 - Trang 43)
Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý, nhắc học sinh một số điểm lưu ý:
+ Có thể tả ngôi trường vào một thời điiểm nhất định (sáng, trưa, chiều
mùa đông - mùa hè ). Cũng có thể tả ngôi trường với cảnh sắc thay đổi theo
thời gian (Từ sáng đến chiều, từ mùa xuân đến mùa hè).
+ Nên tả theo trình tự quan sát từ xa đến gần, từ ngoài vào trong… hoặc
ngược lại, tả gần đến xa , từ trong ra ngoài.
+ Ngôi trường nào cũng gắn với các hoạt động của thầy và trò.Tuy
nhiên chỉ nên tả lướt qua hoạt động này, để không biến bài văn tả cảnh thành
bài văn tả cảnh sinh hoạt.
Sau khi nêu một số điểm lưu ý để học sinh nhớ, giáo viên hướng dẫn
học sinh cách lập dàn bài.
- Giúp học sinh nắm yêu cầu của bài: Miêu tả ngôi trường.
10
- Nhắc học sinh: Dàn ý cũng cần có đủ ba phần: Mở bài, thân bài, kết
bài.
- Phần mở bài cần giới thiệu bao quát:
+ Vị trí của ngôi trường: Ngôi trường nằm ở đâu? Quay mặt về hướng
nào?
+ Nêu đặc điểm nổi bật của ngôi trường.
Phần thân bài gồm các ý: Tả từng phần của cảnh trường:
+ Cổng trường (cổng như thế nào? Bảng tên trường ra sao?)
+ Sân trường (Sân trường ra sao? Cột cờ,cây cối như thế nào?)
- Đa phần các em rơi vào tình trạng liệt kê các chi tiết của cảnh, hoặc
của người.
Ví dụ: Con suối quê em rất dài, trên bờ có hàng cây, có nhiều cỏ, có
đàn bò…Vì vậy giáo viên cần lưu ý cách mở rộng câu đúng thành câu hay, để
học sinh vận dụng thì bài văn sẽ hay hơn.
- Điều quan trọng là lưu ý cho học sinh phải bám vào các chi tiết đã lập
ở dàn bài, để chuyển thành bài văn, đoạn văn. Tránh một số trường hợp học
sinh viết bài văn một cách ngẫu hứng, không bám theo dàn ý đã lập, làm cho
bài văn có thể sẽ mất đi tính lôgic hay tính cân đối, do không chủ động được
thời gian.
* Phần kết bài:
Có nhiều cách kết bài khác nhau: kết bài mở rộng, kết bài không mở
rộng, nhưng tất cả đều phải xuất phát từ nội dung chính. Vì vậy, giáo viên cần
giúp các em nêu cảm xúc một cách chân thực, tránh sáo rỗng. Đồng thời mở
rộng thêm về ý thức, trách nhiệm giữ gìn đối với cảnh và nêu việc làm cụ thể
để bày tỏ cảm xúc chân thực.
7. Viết thành bài văn hoàn chỉnh:
12
Để giúp học sinh viết một bài văn hoàn chỉnh, tôi tiến hành các bước:
+ Tập diễn đạt câu văn có hình ảnh và sử dụng một số biện pháp nghệ
thuật đã học.
- Để tiến hành, tôi gợi ý cho các em những câu hỏi dễ hiểu, dễ nhớ.
- Tôi luôn hướng dẫn các em biết cách lựa chọn chi tiết, diễn đạt bằng
câu văn có hình ảnh và sử dụng một số biện pháp tu từ đã học như: so sánh,
nhân hóa…trong các kiểu bài tập làm văn.
+ Tuy nhiên khi vận dụng những hình ảnh so sánh, nhân hóa đôi khi
học sinh dùng những hình ảnh chưa chính xác.
* Chẳng hạn với đề bài: “Tả một người thân trong gia đình em”. Có em
chọn tả chị gái của mình.Tôi hỏi:
trong cuộc đời)
Tương tự như vậy, tôi yêu cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc
nhận xét trước một sự vật, hay một hiện tượng bất kì. Bài văn của học sinh
tránh được những nhược điểm khô khan, liệt kê sự việc, mà ngược lại thể hiện
cảm xúc dồi dào của người viết.
III. HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG:
B+ngI.4. Kết qu+ cuối kì I năm học 2014-2015:
Tổng
số HS
Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
23 1 4,3 4 17,4 13 56,6 5 21,7
Nhận xét: Từ bảng 1.4 cho thấy tỉ lệ học sinh đạt điểm từ 7 đến 10
tằng lên tỉ lệ học sinh đạt điểm 5 và dưới 5 chiếm tỉ lệ giảm.
1. Đối với giáo viên: Đề tài đã được vận dụng vào quá trình giảng dạy,
lớp 5, làm nền tảng cho việc học tốt các môn học khác, đáp ứng nhu cầu về
15
chất lượng mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Trên đây là một số biện pháp mà trong quá trình giảng dạy phân môn
Tập làm văn tôi đã áp dụng vào việc giảng dạy trên lớp. Với kết quả nghiên
cứu của mình, tôi chỉ xin nêu một vài kinh nghiệm ít ỏi của cá nhân tôi đã tích
lũy được, một số bài học thực tiễn, mong muốn chia sẻ cùng với các bạn đồng
nghiệp.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp, Ban giám khảo để
việc giảng dạy bộ môn Tập làm văn trong nhà trường ngày càng nâng cao chất
lượng, giúp học sinh học tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
AyunPa, ngày 31 tháng 01 năm 2015
Người viết :
Lê Thị Đào
MỤC LỤC
Stt Tên mục Trang
A
I
Đặt vấn đề
Lí do chọn đề tài
1
1
16
II
1
2
II
Quan sát lập dàn ý chi tiết
Chuyển Một phần dàn ý thành đoạn văn
Viết thành bài văn hoàn chỉnh
Bộc lộ cảm xúc trong bài văn
Hiệu quả ứng dụng
Kết luận
2
2
2
2
2
3
4
4
5
6
7
7
7
8
10
11
12
13
14
AyunPa, ngày . . . tháng . . . năm………
Xác nhận của Hội đồng chấm Sáng kiến kinh nghiệm Ngành giáo dục.
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………