Một số giải pháp để phát triển công ty điện lực thành phố Hồ chí minh đến năm 2010 và 2020 - Pdf 26


MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
Chương I: Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của Công ty
Điện lực TP.Hồ Chí Minh (CTĐLHCM).................................1
1.1. Giới thiệu tổng quát về Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh ....... 1
1.2. Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
ngành điện lực............................................................................3
1.3. Đánh giá thực trạng và phân tích các tồn tại trong sản xuất
kinh doanh của Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh trong thời
gian qua ...................................................................................... 6
1.3.1. Một số đặc điểm mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của
Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh............................................... 6
1.3.1.1. Hệ thống các văn bản pháp lý của chính phủ chi phối hoạt
động kinh doanh điện hiện nay của công ty Điện lực
Tp.Hồ Chí Minh.................................................................... 6
1.3.1.2. Đặc điểm về thò trường, khách hàng của Công ty Điện lực
Tp.Hồ Chí Minh.................................................................... 8
1.3.1.3. Bối cảnh hoạt động của Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh10
1.3.2. Đánh giá thực trạng và phân tích các tồn tại trong sản xuất
kinh doanh của Công ty CTĐLHCM thời gian qua................... 11

1.3.2.1. Về phương thức tổ chức và hiệu quả sản xuất kinh doanh
của CTĐLHCM ....................................................................11
1.3.2.2. Về công tác kinh doanh điện năng........................................14
1.3.2.3. Về kế hoạch sản xuất kinh doanh . ....................................... 18
1.3.2.4. Về công tác quản lý kỹ thuật và vận hành lưới điện ............ 21
1.3.2.5. Về công tác đầu tư xây dựng ................................................26

1

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn.
Điện năng là một sản phẩm đặc biệt, nó có vai trò rất quan trọng trong sự
phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân. Hoạt động sản xuất kinh doanh điện
có 3 khâu chính là sản xuất, truyền tải và phân phối điện. Các khâu đó có quan hệ
chặt chẽ với nhau trong việc cung cấp điện trong một đòa bàn nhất đònh. Khâu phân
phối điện năng là khâu cuối cùng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp điện
năng cho sản xuất và sinh hoạt đời sống nhân dân. Đồng thời, khâu phân phối điện
năng là khâu trực tiếp bán sản phẩm, tạo doanh thu bù đắp lại chi phí của khâu sản
xuất và truyền tải điện. Vai trò của ngành điện đã được Lê-Nin đề cập trong bản
đề cương báo cáo sách lược của Đảng cộng sản Nga, trình bày tại Đại hội lần thứ
III của quốc tế cộng sản, ở mục "Cơ sở vật chất của chủ nghóa xã hội và kế hoạch
điện khí hoá nước Nga". Lênin đã viết: "Một nền đại công nghiệp thích ứng với
trình độ kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo được nông nghiệp, đó là việc điện
khí hoá toàn nước Nga". Tư tưởng của Lênin đã chỉ rõ tầm quan trọng của ngành
điện và phải là ngành phát triển trước một bước để thúc đẩy các ngành khác cùng
phát triển. Với vò trí đó của ngành điện, việc nghiên cứu để phát triển ngành này
luôn được Đảng, Nhà nước và mọi người cùng quan tâm.
Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh (CTĐLHCM) là một đơn vò trực thuộc
Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) được thành lập từ năm 1995, với nhiệm vụ
quản lý, vận hành và kinh doanh điện năng trên đòa bàn Tp.Hồ Chí Minh. Từ ngày
thành lập đến nay CTĐLHCM đã có những bước phát triển đáng kể về qui mô,
trình độ kỹ thuật công nghệ và trình độ quản lý, về cơ bản đã cung cấp đủ điện cho
nền kinh tế và sinh hoạt của nhân dân. Độ tin cậy cung cấp điện và an toàn ngày
càng cao, uy tín đối với khách hàng dùng điện được cải thiện đáng kể.
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 theo đường lối
của Đảng với mục tiêu là công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, CTĐLHCM
đang đứng trước những cơ hội phát triển đồng thời đối mặt với nhiều thách thức
mới. Đường lối kinh tế đổi mới của Tp.Hồ Chí Minh mở ra một thò trường tiềm
năng có tốc độ phát triển nhu cầu phụ tải điện 10-15%/năm trong suốt giai đoạn
2000 – 2020. Với khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật và uy tín trên thò trường

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 60 trang, 12 bảng biểu, hình ảnh.
Chương 1: Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của Công ty Điện lực
Tp.Hồ Chí Minh.
Chương 2: Một số giải pháp phát triển Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh.

4

CHƯƠNG I
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP.HỒ CHÍ MINH1.1. Giới thiệu tổng quát về công ty điện lực Tp.Hồ Chí Minh.
- Công ty Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh (CTĐLHCM) là doanh nghiệp
Nhà nước hạch toán kinh doanh độc lập, trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam
(EVN). CTĐLHCM được thành lập năm 1994, tiền thân là Sở điện lực Tp.Hồ Chí
Minh.
CTĐLHCM có chức năng chính là sản xuất và kinh doanh điện năng trên
đòa bàn Tp.Hồ Chí Minh, phương châm của công ty là "Chất lượng ngày càng cao,
dòch vụ ngày càng hoàn hảo". Ngoài ra CTĐLHCM còn có các chức năng tư vấn
thiết kế, tư vấn giám sát các công trình điện trên phạm vi toàn quốc, sản xuất, kinh
doanh, xuất nhập khẩu các loại vật tư thiết bò điện.
- Từ khi thành lập, công ty chỉ có hơn 500.000 khách hàng, đến giữa năm
2004 số khách hàng của công ty tăng lên 1,21 triệu. Trong những năm qua,
CTĐLHCM đã không ngừng đầu tư đổi mới nhiều mặt, từ cơ sở vật chất kỹ thuật
đến nâng cao trình độ của người làm công tác kinh doanh - dòch vụ khách hàng,
nhằm đáp ứng được nhu cầu điện năng của Tp.Hồ Chí Minh và tích cực phục vụ
khách hàng ngày hơn. Chính sách đổi mới kinh tế và tính năng động của Tp.Hồ Chí
Minh đã làm tốt thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, các khu chế xuất, khu công

chức, hội thảo, hội nghò kỹ thuật, tham quan, khảo sát học tập trao đổi kinh nghiệm
trong và ngoài nước. Đối với cán bộ quản lý được công ty phối hợp với các trường
Đại học, Viện, Trung tâm nghiên cứu để tổ chức các lớp học bồi dưỡng, nâng cao
nghiệp vụ quản lý, tài chính, ngoại ngữ. Nhờ đó năng lực của đội ngũ cán bộ quản
lý được nâng lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành. Đối với công nhân kỹ
thuật và nhân viên kinh doanh hằng năm đều tổ chức cho ôn tập, bồi dưỡng qui
phạm quản lý kỹ thuật, qui trình kinh doanh điện năng, sau đó tổ chức thi kiểm tra
đạt yêu cầu mới cho tiếp tục công tác.
- Bộ máy tổ chức của công ty gồm Giám đốc công ty, giúp việc cho giám
đốc có 3 phó giám đốc, kế toán trưởng. Công ty có 13 phòng chức năng, 1 trạm y
tế, 15 điện lực khu vực, 3 xí nghiệp, 4 trung tâm, 1 ban quản lý dự án và nhà máy
điện. Các đơn vò trực thuộc công ty đều hạch toán phụ thuộc theo kế hoạch của
công ty.
Sơ đồ tổ chức của CTĐLHCM được trình bày trong phụ lục 1.
- Quá trình sản xuất kinh doanh điện năng gồm 3 khâu chủ yếu có liên quan
mật thiết với nhau. Đó là khâu sản xuất điện, truyền tải điện (chuyển điện năng từ
các nhà máy điện đến nơi tiêu thụ) và phân phối điện (nhận điện từ trạm truyền tải

6

điện đến cung cấp cho các hộ sử dụng điện). Quá trình sản xuất kinh doanh điện
năng có thể tóm tắt trong hình 1.4 sau đây:

Khâu sản xuất
điện
Khâu truyền
tải điện

phần sau.
1.2. Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành
điện lực.
(1) Sản phẩm chính của ngành điện lực có tính đặc thù:
Ngành điện lực kinh doanh sản phẩm chính chiếm hơn 95% doanh số đó là
“điện năng”. Điện năng là loại sản phẩm có quá trình sản xuất và quá trình sử
dụng xảy ra đồng thời và hầu như không thể dự trữ một cách trực tiếp được. Sản

7

phẩm điện năng có tính chất không thể thấy và không có Sản phẩm tồn kho. Tuy
vậy trong quá trình truyền tải và kinh doanh sản phẩm điện năng bò tổn hao. Tổn
thất điện năng trong quá trình quản lý kinh doanh là phần chi phí chiếm tỉ lệ khá
cao trong tổng chi phí.
Tổn thất điện năng bao gồm hai phần đó là tổn thất kỹ thuật và tổn thất phi
kỹ thuật. (1) Tổn thất kỹ thuật là loại tổn thất xảy ra bởi các quá trình vật lý, tất
yếu và nó phụ thuộc vào tình trạng dây dẫn và các thiết bò trên lưới điện. Các loại
dây dẫn có điện trở suất thấp, các loại thiết bò điện hiện đại được lắp trên lưới sẽ
gây tổn thất kỹ thuật thấp. (2) Tổn thất phi kỹ thuật hay còn gọi là tổn thất trong
khâu kinh doanh xảy ra hoàn toàn do chủ quan của người làm công tác kinh doanh
như điện kế hoạt động không chính xác, ghi chỉ số điện sai, người tiêu dùng ăn cắp
điện… thông thường phần tổn thất kỹ thuật chiếm tỉ trọng cao hơn nhiều so với phần
tổn thất phi kỹ thuật.
Sản phẩm điện năng được giao đến nhà khách hàng không phải bằng phương
tiện vận tải mà nó được giao đến nhà khách hàng bằng hệ thống lưới điện phân phối.
Đặc điểm này đã tạo nên nguồn gốc độc quyền của ngành điện trong thời gian qua.
(2) Ngành điện là ngành có nguồn gốc độc quyền.
Nguồn gốc độc quyền của ngành điện lực xuất phát từ các lý do sau đây:
- Công suất nguồn của hệ thống điện Việt Nam chiếm trên 60% là thủy
điện. Các nguồn năng lượng sơ cấp để xây dựng thủy điện là tài nguyên do nhà

Việc xác đònh vùng, đòa phương để đầu tư đưa điện về cũng chòu sự quản lý
của nhà nước, với mục tiêu phát triển đồng đều giữa các vùng, không theo lợi ích
của cục bộ ngành điện.
(4) Ngành điện hoạt động với trách nhiệm và đạo đức kinh doanh cao.
Điều này thể hiện ở các điểm sau đây:
- Ngành điện rất quan tâm đến vấn đề an toàn điện trong xã hội, bên cạnh
việc kinh doanh điện năng, ngành điện luôn tuyên truyền qui đònh sử dụng điện an
toàn và hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn do điện giật ngoài nhân dân.
- Không chỉ quan tâm nâng cao sản lượng điện bán được, ngành điện còn
hướng dẫn khách hàng cách sử dụng điện sao cho tiết kiệm, hiệu quả cao.
- Không chỉ quan tâm đến việc tối đa hoá lợi nhuận, ngành điện phải tìm đủ
mọi cách để có đủ nguồn cung cấp cho mức nhu cầu của xã hội, đặc biệt là trong
những thời kỳ nguồn điện khan hiếm. Trong những tình huống cụ thể, công ty điện
lực phải mua điện của các khách hàng có máy phát điện với giá cao để bán lại cho
khách hàng theo giá qui đònh của chính phủ với giá thấp hơn. Nếu chỉ chạy theo lợi
nhuận hoặc lợi ích cục bộ thì cách giải quyết trên không phải là tối ưu.

9

- Khía cạnh đạo đức kinh doanh của ngành điện lực còn thể hiện trong qui
trình kinh doanh điện năng: Một số khách hàng vi phạm hợp đồng mua bán điện ăn
cắp điện, sau xử lý xong ngành điện không thể ngưng bán điện vô thời hạn.
Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện đã
quyết đònh những chính sách kinh doanh của nội bộ ngành đồng thời là cơ sở để
chính phủ có những qui đònh và tác động chi phối hoạt động của ngành điện để
ngành điện là động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác trong xã hội.
1.3. Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty Điện lực thành
phố Hồ Chí Minh thời gian qua.
1.3.1. Một số đặc điểm trong sản xuất kinh doanh của công ty Điện lực
thành phố Hồ Chí Minh.

- Thẩm đònh phê duyệt các dự án đầu tư các công trình điện
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm
trong hoạt động điện lực.
Nghò đònh 45 không qui đònh rõ cơ quan nào thực hiện chức năng điều tiết
điện lực. Một số chức năng điều tiết hiện nay được đưa vào như là một phần chức
năng quản lý nhà nước của Bộ công nghiệp và Chính phủ. Bộ công nghiệp vừa
đóng vai trò cơ quan quản lý nhà nước vừa là cơ quan điều tiết các hoạt động điện
lực.
Bộ công nghiệp không có quyền điều chỉnh giá bán điện mà chỉ là cấp thẩm
đònh và trình chính phủ phê duyệt. Nghò đònh 45 không nêu tên các nguyên tắc
chung cho việc đònh giá điện. Riêng giá bán điện của các nhà máy điện BOT hoặc
IPP cho EVN thì do hai bên thoả thuận. Chỉ trong trường hợp đặc biệt, khi hai bên
không thoả thuận được thì phải kiến nghò lên chính phủ giải quyết.
Bộ công nghiệp được giao nhiệm vụ lập qui hoạch tổng thể phát triển lưới
điện quốc gia và cấp giấy phép hoạt động điện lực, cấp phép đầu tư theo phân cấp
của chính phủ, chòu trách nhiệm thanh tra giải quyết các tranh chấp, khiếu nại tố
cáo và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động điện lực, qua đó đảm bảo quyền
lợi của các bên tham gia mua và bán điện.
Nghò đònh 45 xác đònh việc cấp điện cho vùng nông thôn là nội dung thuộc
chính sách xã hội của Đảng và nhà nước, nhằm làm cho các vùng trong lãnh thổ
phát triển đồng đều.
Nghò đònh 45 qui đònh quan hệ giữa các đơn vò điện lực là quan hệ mua bán,
thể hiện cụ thể trong hợp đồng mua bán điện theo nguyên tắc bình đẳng, sòng

11

phẳng, rõ ràng và cùng có lợi, đồng thời nó cũng qui đònh điều kiện đấu nối vào
lưới điện quốc gia.
1.3.1.2. Đặc điểm về thò trường, khách hàng của công ty điện lực Thành phố
Hồ Chí Minh.

2003. Phân loại theo mục đích sử dụng điện, khách hàng mua điện của CTĐLHCM
chia ra làm 05 loại chính là nông lâm nghiệp; công nghiệp; thương nghiệp, dòch vụ;
sinh hoạt tiêu dùng và các hoạt động khác. Trong đó tỉ trọng điện cho công nghiệp
có giá trò cao nhất là 46,88%

Sinh hoạt
39,89%
N/Nghiệp, Lâm nghiệp,
Thủy Sản
0,16%
Dòch vụ, T/Nghiệp, K/Sạn
9,69%
Khác
3,39%
Công nghiệp,
xây dựng
46,88%

Hình 1.3.2. Tỉ trọng điện thương phẩm tương ứng với các thành phần phụ tải.
Hộ công nghiệp trong giai đoạn 1995 - 2003 đạt tỉ lệ trung bình từ 41%, năm
2003 đã tăng lên 46,88%, điều này chứng tỏ các chính sách thúc đẩy công nghiệp
phát triển của Đảng và Chính phủ đã phát huy tác dụng tốt. Ba loại hộ tiêu thụ
nông nghiệp, thương nghiệp dòch vụ và hoạt động khác chiếm tỉ lệ thấp trong tổng
sản lượng điện thương phẩm của CTĐLHCM. Tuy nhiên từ năm 1998 trở lại đây,

tạo tiền đề và kinh nghiệm trong việc cải tiến mô hình quản lý, nâng cao hiệu quả
trong lónh vực sản xuất và kinh doanh điện năng.
- Nền kinh tế nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng nhanh, sự phát triển của các
ngành kinh tế tạo nhu cầu và thò trường lớn hơn cho ngành công nghiệp Điện cả qui
mô và phạm vi thò trường.
- Công cuộc đổi mới gắn liền với những cơ chế quản lý mới của nền kinh tế,
mà trong đó các doanh nghiệp được trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
Đồng thời thông qua cơ chế tài chính và những lần tăng giá điện trước đây đã tạo
được nguồn nội lực của ngành điện nói chung và của công ty điện lực Tp.Hồ Chí
Minh nói riêng, làm cho khả năng đầu tư được đảm bảo.
(2) Những khó khăn thách thức:
- Sự thiếu đồng bộ trong khuôn khổ pháp lý: Luật điện lực làm cơ sở pháp lý
nhất quán, tạo điều kiện cho các hoạt động của ngành và cho sự giám sát khách

14

quan của Chính phủ đối với ngành Điện lực chậm được ban hành; nhiều văn bản
pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hoá, khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia đầu tư và quản lý ngành điện còn chậm được ban hành và
sửa đổi cho phù hợp.
- Xu hướng hình thành thò trường điện, tạo ra sự cạnh tranh trong lónh vực
sản xuất và phân phối điện góp phần nâng cao hiệu quả chung, nhưng cũng đòi hỏi
Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh phải có đònh hướng giải pháp mới để có thể giữ
vững và phát triển thò trường, đáp ứng được nhu cầu điện năng cho xã hội.
- Về nguy cơ tụt hậu: Tuy đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể sau hơn một
thập kỷ đổi mới, nhưng ngành công nghiệp điện vẫn ở mức phát triển thấp. Sự lạc
hậu thể hiện rõ qua số lượng chất lượng, công nghệ mới thiếu đồng bộ và kể cả về
cơ chế quản lý.
- Về vốn đầu tư phát triển và giá điện: Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ
tải và khắc phục tình trạng lạc hậu hiện nay, mỗi năm CTĐLHCM cần nguồn vốn

xây dựng kế hoạch phải đổi mới về cách thức và phương pháp tiếp cận. Nếu như
trước đây, khi còn là một đơn vò hạch toán phụ thuộc thì công tác kế hoạch chỉ chú
trọng nhiều đến kế hoạch cung cấp điện là chủ yếu, mọi chi phí đều do cấp trên
cấp phát, thì khi chuyển sang cơ chế hạch toán độc lập, ngoài kế hoạch cung cấp
điện, hàng loạt chỉ tiêu kế hoạch cần phải được nghiên cứu và tính toán như kế
hoạch giá thành, kế hoạch đầu tư xây dựng, kế hoạch lợi nhuận, phân tích và thẩm
đònh hiệu quả đầu tư của dự án... sao cho vừa phải đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu
về cung ứng điện, vừa phải đảm bảo điều hành sản xuất kinh doanh có lợi nhuận
để đảm bảo thu nhập cho cán bộ công nhân viên và tích luỹ nguồn vốn để tái đầu
tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Công tác kế hoạch trong lónh vực đầu tư xây dựng được thực hiện chủ
động, nhờ đó hằng năm giải ngân được 500-600 tỉ đồng cho các công trình cải tạo
và phát triển lưới điện từ các nguồn vốn khấu hao cơ bản, vốn vay, vốn phụ thu...
Nhờ đó trong giai đoạn 1995 - 2002 đã hoàn tất được hai dự án quan trọng: (1) dự
án điện khí hoá nông thôn ngoại thành 575 tỉ đồng và (2) dự án cải tạo phát triển
lưới điện phân phối dùng vốn vay ngân hàng thế giới 64 triệu USD. Hai dự án lớn
này đã giúp cho lưới điện Thành phố Hồ Chí Minh được phát triển, phủ kín lưới
điện vùng ngoại thành, nâng cao khả năng mang tải.
Trong việc theo dõi các dự án đạt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, công ty điện
lực Thành phố Hồ Chí Minh đã dùng các chương trình theo dõi, quản lý tiến độ các
công ty như Microsoff project, chương trình quản lý đầu tư xây dựng... nhờ đó từ
khâu thiết lập danh mục công trình đến lập báo cáo đầu tư, quyết đònh đầu tư, thiết
kế kỹ thuật, tổng dự toán, đấu thầu, thi công, nghiệm thu đã được thực hiện đúng
qui đònh của nhà nước và đạt được tiến độ tổng công ty giao.

16

- Đã thực hiện được các qui chế phân cấp trong công tác thực hiện kế hoạch,
phân đònh được nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp, phát huy được
tính chủ động ở các bộ phận trực thuộc CTĐLHCM. Đến cuối năm 2003


Tính trung bình mỗi năm số khách hàng tăng khoảng 10% và điện thương
phẩm tăng 11,54%. Các biểu đồ ở hình 1.3.1 và hình 1.3.2 cho thấy sự phát triển
của lượng khách hàng và điện thương phẩm trong giai đoạn 1995 đến 2003.

1.196.000
1.063.000
955.000
861.000
760.469
674.411
604.096
504.347
546.700
0
(Năm)
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
SỐ LƯNG KHÁCH HÀNG
(Số khách hàng)
0 (Năm) Hình 1.3.2 Sự phát triển của điện thương phẩm qua thời kỳ 1995 - 2003.
Tổn thất điện năng là một thành phần chi phí chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng
chi phí hằng năm. Công tác giảm tổn thất điện năng là một công tác quan trọng
xuyên suốt, liên tục trong nhiều năm qua với sự nỗ lực phấn đấu trong toàn công ty
từ khâu quản lý kỹ thuật đến quản lý kinh doanh. Công ty đã và đang tập trung đầu
tư, từ việc nâng cao khả năng truyền tải và phân phối điện, thực hiện đầu tư cải tạo
lưới điện trong toàn hệ thống điện Thành phố Hồ Chí Minh, vận hành tối ưu hệ
thống điện đén việc tăng cường các nghiệp vụ chống tổn thất trong kinh doanh như
kiểm tra; kiểm chứng điện kế, chống lấy cắp điện, thực hiện tốt công tác đo hiệu
suất từng khu vực hạ thế để xác đònh các khu vực có tổn thất cao để thực hiện các
giải pháp nhằm giảm tổn thất.
Trong 8 năm liên tục vừa qua, công ty đã phấn đấu giảm tỉ lệ tổn thất điện
năng, trung bình mỗi năm giảm được 1%, từ một lưới điện có tổn thất gần 18%, đến
nay tổn thất còn 8,91% (năm 2003). Dự kiến từ đây đến 2010 sẽ giảm tỉ lệ tổn thất
còn lại dưới 7,5%. Biểu đồ trong hình 1.3.3 cho thấy công tác giảm tổn thất điện
năng từ 1995 – 2003.
19

TỈ LỆ TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
20

Theo lộ trình tăng giá điện của nhà nước vào các năm: 1995, 1996, 1997,
1999 và năm 2002 giá bán điện bình quân của công ty gia tăng đều qua các năm,
tốc độ tăng giá bán điện bình quân của công ty tăng nhanh hơn so với mức tăng giá
của chính phủ do các thành phần phụ tải có giá điện cao như kinh doanh dòch vụ,
du lòch, thương nghiệp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh
hơn các thành phần khác. Về mặt chủ quan yếu tố quan trọng làm nâng cao giá bán
điện bình quân chính là việc thực hiện đúng các mức giá điện do nhà nước qui đònh
cho từng đối tượng khách hàng sử dụng điện, khiến giá bán điện bình quân của
công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh luôn ở mức cao nhất trong toàn tổng công
ty điện lực Việt Nam. Ưu thế này dẫn đến lợi nhuận của CTĐLHCM hằng năm
đứng hàng đầu trong các công ty phân phối của EVN.
GIÁ BÁN ĐIỆN BÌNH QUÂN (Đ/KWH)
Đồng/KWH
Năm Hình 1.3.4. Biểu đồ tăng trưởng giá bán điện bình quân của CTĐLHCM
trong giai đoạn 1995 – 2003.
1.3.2.3. Về công tác quản lý kỹ thuật và vận hành lưới .
Từ năm 2000 đến nay , cùng với sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh,
công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước tiến vượt bậc cả về
chất lượng lẫn năng lực quản lý điều hành lưới điện. Nhờ sự năng động trong việc
Hình1.3.6 Biểu đồ phát triển lưới trung thế từ năm 1997 đến nay.
250.0

0.0

0.0

50.0

0.0

1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003

LƯỚI ĐIỆN CAO THẾ

66Kv (km)

110Kv (km)
Km

278


3500
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Km
Năm

Hình 1.3.7. Biểu đồ phát triển lưới trung thế từ 1997 đến 2003.
Đánh giá chung về công tác quản lý kỹ thuật và vận hành lưới điện đến cuối
năm 2003 công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được các thành quả như
sau:
- Từ năm 2002 đã chấm dứt được tình trạng quá tải các máy biến thế tại các
trạm trung gian 110KV. Từ tháng 06/2003, hệ thống điện áp 66KV đã được nâng
cấp hoàn toàn lên 110KV làm tăng khả năng truyền tải cũng như đảm bảo chất
lượng 110KV cung cấp cho lưới điện.
- Từ cuối năm 2003, sau khi đóng điện nâng cấp từ điện áp 66KV lên
110KV cho đường dây xa lộ Bến Thành và tiến hành thử kết nối các mạch vòng
đường dây 110KV liên kết các trạm 220KV Thủ Đức 3 x 250MVA. Nhà Bè 2 x
250, Phú Lâm 2 x 250 MVA đã giải quyết cơ bản tình trạng vận hành quá tải cho
đường dây 110KV Nhà Bè - Phú Đònh, đảm bảo tính an toàn, độ tin cậy của lưới
điện 110KV cấp nguồn cho các trạm biến áp khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí
Minh như các trạm Hùng Vương, Bến Thành, Phú Đònh, Chánh Hưng, Phú Đònh.
Đồng thời tất cả hệ thống tự đóng lại trên các đường dây 110KV thuộc công ty
quản lý cũng đã được đưa vào vận hành làm tăng mức độ vận hành ổn đònh cho
lưới điện truyền tải 110KV khu vực TP.HCM

23

- Thiết bò điện từng bước được công ty tiêu chuẩn hóa theo hướng hiện đại
hợp lý: sử dụng công nghệ GIS cho các trạm trung gian 110KV khu vực nội thành
ngày càng nhiều. Chú trọng nhiều hơn và thực hiện tốt công tác đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật, mỹ quan cho lưới điện trung hạ thế. Các đường dây phân phối khu vực nội

dựng và đang đưa vào ứng dụng một số giải pháp công nghệ nhằm hiện đại hóa
sản xuất kinh doanh của công ty như sau:
- Áp dụng công nghệ GIS (gas Insulated Swithgear) cách điện bằng khí trong
hệ thống truyền tải, các trạm cấp nguồn mới, công nghệ này đã được áp dụng thí
điểm ở dự án xây dựng trạm truyền tải 220/110/15-22KV Nhà Bè và ngầm hóa
lưới điện 220KV Nhà Bè – Tao Đàn. Đây là công trình trạm và đường dây 220KV
hiện đại nhất từ trước tới nay ở Việt Nam để đưa nguồn điện 220KV từ trạm biến
áp Nhà Bè ở ngoại ô vào tận trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần giải
quyết nhanh chóng quá tải và có dự phòng nguồn điện cung ứng cho khu vực trung
tâm thành phố trong giai đoạn 2005 và năm 2010. Sự xuất hiện của trạm biến áp
220KV Tao Đàn nói trên là cơ sở để phân bố tối ưu lại cấu trúc lưới điện truyền tải
khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời qua công tác quản lý dự án lực lượng
kỹ sư, cán bộ kỹ thuật của công ty điện lực học tập và tích lũy kinh nghiệm để triển
khai thực hiện GIS hóa các trạm 110KV khu vực nội thành.
- Đã triển khai dự án NIMS/GIS (Network information system/ geography in
formation system) dùng công nghệ thông tin đòa lý để hỗ trợ cho công tác cập nhật,
quản lý vận hành, quản lý kinh doanh và công tác thiết kế công trình điện.
- Triển khai chương trình quản lý phía nhu cầu DSM (Demand side
Management) để điều hòa đồ thò phụ tải của hệ thống điện thành phố, tạo sự cân
bằng phụ tải giữa giờ cao điểm và giờ thấp điểm nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là
tiết kiệm chi phí đầu tư nguồn điện để huy động phát vào giờ cao điểm (chi phí đầu
tư 1MW là khoảng 1 triệu USD).
- CTĐLHCM đang triển khai thí điểm dự án CIS/MIS (Customer information
system/Management information system) dùng công nghệ quản lý thông tin khách
hàng để giúp giải quyết toàn diện các vấn đề trong quản lý kinh doanh điện năng.
- Từ năm 1998 đến nay, CTĐLHCM đã thực hiện chương trình ngầm hóa
lưới điện phân phối cho khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh công nghệ
ngầm hóa này hạn chế đến mức thấp nhất khả năng sự cố và nâng cao chất lượng
cung ứng điện năng cho hộ tiêu thụ, đồng thời thu gọn lưới điện ngoài trời làm tăng
mỹ quan đô thò. Ngầm hóa lưới điện đi song song với việc đầu tư trang bò hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status