Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 160
GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM KHI GIA NHẬP CÁC HIỆP
ĐỊNH THƯƠNG MẠI FTA VÀ TPP
TS. Nguyễn Thị Thúy
Khoa Kinh tế - Quản lý, Trường Đại học Thăng Long
Email: [email protected]
Tóm tắt: Việt Nam đang mở ra những bước tiến mới trong hội nhập kinh tế thế giới,
bằng những hiệp định thương mại đa phương và song phương nhằm tăng thế và lực trong
tăng trưởng bền vững nền kinh tế. Bài này đưa ra phân tích những thuận lợi và khó khăn
thách thức phải vượt qua của nền kinh tế nói chung, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
xuất khẩu nói riêng. Tác giả kiến nghị những giải pháp đón đầu thực thi có hiệu quả các hiệp
định thương mại sắp tới.
Từ khóa: FTA, TPP, Việt Nam, toàn cầu hóa, hiệp định thương mại.
Đặt vấn đề: Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực - thỏa thuận
thương mại giữa các khối quốc gia - đã tăng cường trong những năm gần đây. Sự phát triển
này có nghĩa là các công ty có nhiều khả năng thâm nhập toàn khu vực trong cùng thời gian.
Một số quốc gia đã hình thành khu vực thương mại tự do hay cộng đồng kinh tế - nhóm các
quốc gia được tổ chức để hoạt động hướng về các mục tiêu chung trong quy chế thương mại
thế giới. Những cộng đồng bao gồm các tổ chức. Hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
(APEC), Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), và Khu
vực thương mại tự do Mỹ Latinh (MERCOSUL).
APEC: Hai mươi mốt quốc gia ven bờ Thái Bình Dương, bao gồm các nước thành
viên NAFTA, Nhật và Trung Quốc, đang làm việc để hình thành một khu vực mậu dịch tự do
Liên Thái Bình Dương dưới sự bảo trợ của diễn đàn APEC. Cũng có những nỗ lực tích cực
hội nhập kinh tế khu vực Caribbean, Đông Nam Á, và các phần của Châu Phi.
EU: EU bao gồm 25 nước thành viên với hơn 454 triệu người tiêu dùng, và chiếm
23% xuất khẩu của thế giới. EU có đồng tiền chung, đồng euro, và cung cấp cơ hội thương
mại to lớn cho các công ty không thuộc Châu Âu. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những mối đe
Hoa Kỳ, Malaysia, Việt Nam, Canada, Mexico và Nhật Bản). Đàm phán TPP hiện đang là
một trong những đàm phán thương mại quan trọng nhất của Việt Nam. Theo đánh giá của các
chuyên gia thì TPP là một hiệp định của thế kỷ 21 vì độ lớn và tầm vóc ảnh hưởng của nó
(Luật sư Trần Hữu Huỳnh - Chủ tịch Ủy ban tư vấn về chính sách thương mại quốc tế,
Trưởng Ban pháp chế của VCCI). Ngoài ra, ông Jay L. Eizenstat, Esq, luật sư cao cấp về
chính sách của Công ty Miller & Chevallier của Hoa Kỳ cho rằng: TPP là một hiệp định
thương mại tư do khu vực toàn diện có thể đem đến những cơ hội rất lớn cho Việt Nam kết
nối nền kinh tế của mình với Hoa Kỳ và các thành viên TPP khác. Nó có thể mang lại lợi ích
kinh tế lớn cho Việt Nam trong việc phát triển kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu, tạo thuận lợi
cho thương mại và hiệu quả trong chuỗi cung ứng, hiện đại hoá các lĩnh vực dịch vụ, đẩy
nhanh cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, mở cửa thị trường mua sắm; thuận lợi trong
tiếp cận thị trường tất cả các nước TPP, trong đó có các lĩnh vực quan trọng của Việt Nam
như nuôi trồng thuỷ sản, dệt may, da giầy, đồ nội thất; được giảm thuế đối với hàng hoá xuất
khẩu sang Hoa Kỳ, cắt giảm thuế đối với nhà nhập khẩu Hoa Kỳ; cải thiện các biện pháp hạn
chế nhập khẩu; có cơ hội được công nhận là nền kinh tế thị trường sớm hơn
Như vậy, về phạm vi, so với các hiệp định khác và trong WTO, Hiệp định thương mại
xuyên Thái Bình Dương mở rộng hơn cả về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu
tư, sở hữu trí tuệ và còn cả những vấn đề phi thương mại như môi trường, lao động, hỗ trợ
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mua sắm của chính phủ (luật sư Trần Hữu Huỳnh), trong
đó thương mại hàng hóa giữ vị trí hàng đầu.
Với phạm vi như vậy, cùng với các cam kết sâu và mở ra cho các nước tham gia có
trình độ phát triển khác nhau yêu cầu giống nhau (một mẫu số chung) nên chắc chắn có ảnh
hưởng rất lớn cho sự phát triển một khối và cho từng thành viên tham gia. Người ta dự báo lợi
ích mang lại cho một khối trên 1.000 tỷ USD, mà các nước đang phát triển thu về trên 2/3 số
đó.
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 162
Do đó, mốc thời gian 2015 sẽ là một năm thuộc thời gian rất quan trọng vì là năm mà
Nam, nhất là của các tập đoàn lớn. Nếu biết tận dụng thời cơ này, Việt Nam sẽ hưởng lợi lớn
từ làn sóng đầu tư mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm, hình thành năng lực sản xuất mới để
tận dụng các cơ hội xuất khẩu và tham gia các chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu do TPP
đem lại.
Ba là: Thực hiện các hiệp định thương mại chúng ta có được vị thế bình đẳng như các
thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh
nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi
ích của đất nước, của doanh nghiệp. Số liệu thống kê cho thấy, khu vực Đông Á, bao gồm
ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc luôn chiếm tỷ trọng rất
lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, thường xuyên ở mức trên 60%, nếu tính
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 163
riêng nhập khẩu thì lên tới trên 75%. Với sự gần gũi về vị trí địa lý, việc Đông Á chiếm tỷ
trọng lớn trong quan hệ thương mại với Việt Nam là việc khó tránh. Tuy nhiên, tỷ trọng trên
là quá lớn, có thể tiềm ẩn rủi ro khi kinh tế Đông Á có biến động bất lợi. Đàm phán và ký kết
FTA với một số thị trường trọng điểm như Mỹ, EU có thể giúp chúng ta khắc phục tình trạng
mất cân đối này.
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế
trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc thực hiện cam kết
theo hiệp định và hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong
nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.
Năm là: Điều đặt biệt quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài là tiến trình đổi mới kinh tế
theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đã từng bước xuất hiện một đội ngũ những nhà
doanh nghiệp mới, có kiến thức, năng động và tự tin, dám chấp nhận mạo hiểm, dám đối đầu
với cạnh tranh. Đào tạo được hàng trăm ngàn lao động có tay nghề cao. Đây là nguồn lực quý
báu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sáu là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại, việc gia nhập
WTO và thực hiện các hiệp định thương mại những năm qua đã nâng cao vị thế của ta trên
cấu hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng mềm; nguồn nhân lực. Mặc dù ta có chủ trương trong 5
năm từ 2011 tới 2015 cần có 3 đột phá chiến lược (1): Hoàn thiện thể chế kinh tế; phát triển
nhanh nguồn nhân lực; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhưng đã trải qua gần 3 năm ta chưa
tạo ra được sự đột phá như mong muốn.
Ở cấp độ doanh nghiệp: Về cơ bản doanh nghiệp vẫn chưa tận dụng được cơ hội từ
việc Việt nam là thành viên để tổ chức nâng cao trình độ quản trị hiện đại, tham gia tích cực
và vững vàng trên thị trường trong nước và quốc tế.
Về khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam hì ngoài những sản phẩm có lợi thế tự
nhiên, hầu hết hàng hóa còn lại sức cạnh tranh yếu bởi 3 yếu tố giá, phẩm chất, kiểu cách.
Nhiều hàng hóa có nguy cơ thất bại ngay trên thị trường nội địa.
Các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức
cạnh tranh quốc gia.
Hai là: Trên thế giới sự "phân phối" lợi ích của toàn cầu hóa là không đồng đều.
Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự "phân
phối" lợi ích cũng không đồng đều. Mỗi bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn
bị tác động tiêu cực của toàn cầu hóa; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ
thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hóa giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách
phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng:
"Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước phát triển".
Ba là: Hội nhập kinh tế trong một thế giới toàn cầu hóa, phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị
trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính
sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải
tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực
trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ
thống pháp luật chưa hoàn thiện. Chẳng hạn, về sở hữu trí tuệ đối với thuốc bảo vệ thực vật,
phân bón và dược phẩm. Mỹ đề nghị tăng cường mức độ và thời gian bảo hộ sẽ tăng, chi phí
sản xuất nông nghiệp và an sinh xã hội khả năng tiếp cận khoa học, tài sản văn hóa tinh thần.
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý như bảo hộ thương hiệu sẽ dẫn đến nguy cơ rủi ro nếu không nhanh
nước Đông Nam Á Nếu không chuyển đổi được vùng nguyên liệu, hàng xuất khẩu của Việt
Nam sẽ không được hưởng ưu đãi thuế. Vấn đề đặt ra là dệt may chẳng phải là nhóm hàng
duy nhất vấp phải rào cản này. Bởi ngoài nông sản, phần lớn các sản phẩm xuất khẩu thế
mạnh của Việt Nam (giầy dép, đồ gỗ, điện tử, công cụ ) đều đang sử dụng đa số nguyên liệu
nhập khẩu từ Trung Quốc, các nước ASEAN… Bởi vậy, các doanh nghiệp Việt Nam hiện có
những yếu thế cần được khắc phục đó là:
- Thiếu vốn để tổ chức sản xuất và kinh doanh qui mô lớn.
- Phương tiện sản xuất, công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất
cao.
- Hàng xuất khẩu phần lớn dưới phương thức hợp đồng gia công (lấy công làm lãi).
+ Hàng dệt may, điện tử… thì thực hiện ứng nguyên liệu, chi phí, bao tiêu sản phẩm.
+ Hàng nông sản thì mua thức ăn, mua giống thuốc phòng chống sâu bệnh, vi rút…
tiêu thụ sản phẩm qua thương lái nhập cho Công ty đầu mối xuất khẩu.
Thực chất người sản xuất và người lao động không được trực tiếp hưởng ưu đãi do các
hiệp định thương mại tự do đưa lại.
Việt Nam đã từng tự làm giảm sức mạnh về xuất khẩu của mình: chính sách lấy xuất
khẩu để tăng trưởng kinh tế là cần thiết và đúng đắn đối với nền kinh tế đang phát triển như
nước ta. Tuy nhiên trong cơ cấu về số lượng và giá trị xuất khẩu hàng năm luôn trên 60%
thuộc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đi theo đó là chính sách ưu tiên “mềm mại”
đối với vốn đầu tư nước ngoài cùng với năng lực quản lý yếu kém như để họ chuyển giao trốn
thuế… là một minh chứng. Hiện tượng đó còn lặp lại nếu không được nâng cao năng lực và
quan điểm quản lý. Hiện Việt Nam đang đàm phán để đi đến ký kết các hiệp định thương mại
tự do (FTA) giữa Việt Nam - EU và giữa Việt Nam - Liên bang Nga, Belamét, Kazastan;
Hiệp định xuyên Thái bình dương (TPP). Trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 166
đang oằn lưng vì nợ xấu, không tiếp cận được vốn vay Ngân hàng, thế mà các nhà đầu tư
nước ngoài đang đổ xô vào Việt Nam đầu tư vào các ngành có thế mạnh được ưu đãi lãi suất
khẩu lớn như dầu thô, hải sản, các sản phẩm nông nghiệp như cao su, gạo, cafê. Đặc biệt với
thế mạnh xuất khẩu hàng dệt may cần được quan tâm và phát triển đúng hướng. Đồng thời mở
rộng mặt hàng thuộc sản phẩm công nghiệp như điện tử, sắt thép (đang tồn kho lớn) nhằm
giải phóng vốn, thu hút lao động là rất cần thiết. Trên cơ sở đó nên có những kiến nghị dưới
đây:
Về chính sách và quản lý vĩ mô:
Một là: Định hướng tập trung cho hoạt động xuất khẩu vào 2 thị trường lớn, thuế suất
nhập khẩu thấp. Đó là các đối tác thương mại tự do (FTA) giữa EU - Việt Nam và các liên
minh Hải quan giữa Liên bang Nga, Benlarut, Kazatstar - Việt Nam. Các đối tác thuộc Hiệp
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 167
định Xuyên Á Thái Bình Dương (TPP) gồm 12 quốc gia là : Úc, Brunay, Canada, Chile, Nhật
Bản, Malaysia, Mexico, Newzealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam.
Hai là: Có chính sách ưu đãi phát triển nguyên liệu trong nước như trồng bông, kéo sợi
cho dệt may. Thức ăn gia súc, phân bón, thuốc phòng trừ dịch bệnh… cho sản phẩm nông nghiệp
xuất khẩu, sản phẩm sau chế xuất dần, buôn đỏ trong sản xuất bo xít, đát hiếm… cho sản xuất sản
phẩm công nghiệp xuất khẩu.
Ba là: Hướng dẫn từ sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu nhằm vào tăng cường
năng lực về vốn phát triển và đổi mới công nghệ nên theo phương thức kinh doanh liên kết
các doanh nghiệp trong nước là liên doanh với các tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài để khép kín chu trình sản xuất mặt bằng xuất khẩu (như kéo sợi, nhuộm, dệt và may)…
Cần có chính sách phù hợp đúng đắn việc cấp phép và quản lý chặt chẽ đúng đắn các
doanh nghiệp FDI. Sản xuất hàng xuất khẩu mà Việt Nam đang có lợi thế. Nếu cấp phép tràn
lan, quản lý không chặt chẽ thì chỉ có được lợi thế thu hút lao động mà còn triệt tiêu năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, cùng với phù phép chuyển giá, trốn thuế… thì Việt
Nam chỉ là nơi họ mượn đất thuê lao động và lợi dụng lợi thế ưu tiên mà Việt Nam được
hưởng mà thôi.
Đối với các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu
xuất khẩu củ lực” ngày 25/09/2013
[2]. Các Ngọc, “Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Quy tắc
xuất xứ như một chìa khóa”, Bài báo Sài Gòn tiếp thị, ngày 31/10/2013
[3]. Tài liệu phục vụ Hội thảo "Hành trang cho doanh nghiệp khi tham gia TPP", Hà
Nội, tháng 12/2013.
[4]. Trần Đình Thiên – Viện Kinh tế Việt Nam, "Kinh tế Việt Nam trước ngưỡng cửa
TPP", Tài liệu Hội thảo "Hành trang cho doanh nghiệp khi tham gia TPP".
[5]. TPP – Cơ hội đan xen thách thức cơ hội cho nền kinh tế và Ngành Ngân hàng
Việt Nam, xem tại website http://www.sacombank.com.vn/nhadautu/bantinnhadautu.
[6]. Http://m.voatiengviet.com/a/vietnam-va-hiep-dinh-tpp-thach-thuc-va-co-hoi.
WHILE PROMOTING THE BENEFITS JOIN THE AGREEMENT TRADE AND
TPP FTA
Abstract: Vietnam is opening up new step in the integration of the world, by the
multilateral trade agreements and bilateral in order to increase the power generation and
sustainable growth economy. This paper made analysis of the advantages and challenges to
be overcome in the economy generally, the enterprises producing export business in
particular. The author also contribute recommendations prepared solutions proactively
enforce trade agreements coming.
Keywords: FTA, TPP, Việt Nam, Globalization, trade agreements.