luận văn đại học hằng hải khai thác đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng tác hội hoạ - Pdf 26

Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
MỤC LỤC
Ví như một vầng trăng khuyết được thay bằng một khối cầu, hay như một tảng băng
đang nửa chìm nửa nổi trên mặt nước, hay một cơ thể con người có nhiều bộ phận,
song ở đó chúng ta cũng chỉ nhìn thấy vẻ bề ngoài của nó. Như vậy ngoại cảnh khi đi
vào sáng tác hội họa không đơn giản là cái ta trông thấy, nghe thấy, sờ thấy, hay nắm
bắt được mà nú cũn được hiện hữu cá tính hữu hình của chúng. Người họa sĩ luôn
luôn tìm hiểu khám phá bằng nhận thức riêng của mình để tạo ra những điều mới lạ -
những tác phẩm bất hủ. bởi thế ngoại cảnh luôn là nguồn vô tận cung cấp mẫu vẽ cho
các họa sĩ – tạo nên những tác phẩm có giá trị chân thực. Leonardo da Vinci nói “Đối
với tôi – tiếng gọi của thiên nhiên là sự quyến rũ hơn cả, vì đó là một trong những tác
phẩm lớn của tụi”. Lu-na-xai-xki cũng khẳng định rằng: Giới tự nhiên đang tồn tại
vĩnh cửu nú luụn chuyển động như một nhịp đập của trái tim. Bởi lẽ ngay cả khi
thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên ta cũng trào lên những cảm xúc đến tuyệt đỉnh rồi
ứng tác 26
TRANH MINH HOẠ 55
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Tâm sinh lý thị giác là một quá trình nhận thức rất đặc trưng của con
người. Nú cú vai trò to lớn trong cuộc sống, lao động, học tập và nghiên cứu.
Trong hoạt động sáng tạo nói chung và hoạt động nghệ thuật nói riêng tâm
sinh lý thị giác đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nờn ý
tưởng và phong cách sáng tạo của người họa sĩ. Vì vậy, tâm sinh lý thị giác là
một vấn đề được nhiều họa sĩ, nhà phê bình mỹ thuật quan tâm nghiên cứu.
Có thể nói thị giác là cơ sở ban đầu, là điều kiện đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo nên hứng thú, cảm xúc, trí tưởng tượng sáng tạo của
người họa sĩ. Nó là nhân tố làm nền tảng, liên kết và huy động các quá trình
tâm lý, thực chất đó là cả quá trình tiếp nhận một cách tinh túy, nhạy cảm sự
tác động của thế giới hiện thực khách quan, biến hiện hiện thức khách quan
thành tri thức mỹ thuật dưới khả năng tri giác và sự cảm nhận tinh tế qua giác

Đó có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề thị giác như:
- Luận văn Đại học, 2003 của Nguyễn Trần Anh đã nghiên cứu về con mắt
hội hoạ.
- Luận văn tốt nghiệp Đại học, 2007 của Ngyễn Thị My mới chỉ đề cập
khái quát về cỏi nhìn Phương Đông trong tranh
- Một số tác giả có các bài viết liên quan đến đặc điểm tâm sinh lý thị giác.
Song nhìn chung, các tác giả trên chỉ mới chỉ dừng lại ở những đánh giá có
tính chủ quan về cách tiếp cận và thưởng ngoạn hội họa, phong cách hội họa
qua sự cảm thụ của thị giác mà chưa có những nghiên cứu một cách toàn diện
cả về vấn đề lý luận và thực tiễn về đặc điểm và vai trò của tâm lý thị giác và
cách khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng tác hội họa.
3. Mục đích nghiên cứu.
2
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
- Nghiên cứu, tìm hiểu vai trò của thị giác trong nghệ thuật tạo hình.
- Nghiờn cứu đặc điểm tâm sinh lý thị giác và vai trò của nó trong sáng tác
hội họa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu.
+ Đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng tác hội họa.
- Phạm vi nghiên cứu.
+ Một số tác phẩm hội họa thể hiện bằng các chất liệu tạo hình khác nhau.
+ Mối quan hệ giữa tâm lý thị giác với sự hình thành tác phẩm hội họa
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiờn cứu cơ sở lý luận: nhằm tổng hợp vấn đề.
- Phương pháp sưu tầm: nhằm thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho đề
tài nghiên cứu.
- Tổng kết kinh nghiệm
6. Đóng góp của luận văn
- Khẳng định được vai trò, tầm quan trọng của tâm sinh lý thị giác trong

- Nhỡn bao quỏt, nhìn tập trung
- Ảo giác
- Thói quen thị giác
5
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Nếu óc quan sát chính là yếu tố ban đầu giúp người họa sĩ tìm ý tưởng
cho việc hình thành tác phẩm. Các họa sĩ thường diễn đạt nhận thức thị giác
trong tác phẩm một cách sống động, hiện thực. Cũng có khi tác phẩm được
nâng cao hơn hiện thực, hoặc tưởng tượng, diễn tả theo một cách nhìn dữ dội,
khác biệt. Kinh nghiệm quan sát và cách nhìn tinh tế góp phần phát triển khả
năng sáng tạo nghệ thuật qua đó tác động trở lại làm cho quá trình thị giác của
người họa sĩ càng trở nên sắc bén và hiệu quả hơn. Thì sự nhìn, cái mà phần
lớn chúng ta nhìn thấy đã được lưu lại trong bộ nhớ của não. Mắt là cơ quan
nhìn nhận ngoại biên có khả năng thu nhận những thông tin mang tính thị giác
như: hình dáng, kích thước, màu sắc và các chiều không gian. Khi mắt nhìn
cảnh vật, hệ thần kinh dẫn các thông tin tới trung tâm não, tại đây có sự so
sánh cực nhanh với tất cả những thông tin mà bộ nhớ của nóo đó ghi nhận để
giải thích và hệ thống hóa các thông tin mới nhận được. Truyền đạt thị giác
cần sử dụng ngôn ngữ có hiệu lực về những dữ liệu phục vụ thị giác, nó được
hệ thống hóa và có dấu hiệu như tất cả các ngôn ngữ khác: Hình dáng, không
gian, đường nét, màu sắc, ánh sáng, đậm nhạt là những dấu hiệu mà hầu hết
các nghệ sĩ sử dụng để diễn đạt trong tác phẩm. Sự diễn đạt, miêu tả xuất phát
từ nhận thức tác động tới kinh nghiệm quan sát thực tế. Chính quan sát thực tế
làm nên thói quen của thị giác và mang lại cho chúng ta nhận biết về các luật
nhìn trong không gian và trong tác phẩm.
Khi nhìn bất cứ cái gì tức là chúng ta đã tác động tới những kích thích thị
giác và tạo ra những hình ảnh chủ quan. Mọi người không phải ai cũng có
cùng một cảm nhận, cùng một khả năng đánh giá khi nhìn thấy một đồ vật
hoặc một hình tượng. Nhiều nhà bác học đã khám phá ra trí não con người có
xu hướng theo đuổi những “Quy tắc” chính xác khi trí não đã hình thành một

Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Do tính chất sai lệch, hình ảnh không bao giờ phản ánh đúng kích thước và
hình dáng thật của vật thể. VD: Miệng lọ có hình tròn lại có dạng elip, mặt
bàn hình chữ nhật lại có dạng hình thang hay một tứ giác không đều… hình
dáng và kích thước của mọi vật đều bị sai lệch như vậy khi ta đứng gần lại
hay xa dần vật thể.
Khi vật đang chuyển động thì hình ảnh còn bị hoen nhòe và biến dạng
nhiều hơn, đi đến méo mó tùy theo chất của chuyển động.
Như vậy là ở trạng thái tĩnh hay động, hình ảnh nào cũng đều thiếu hoàn
chỉnh và không phản ánh đầy đủ thực chất của sự vật, nhưng sự xuất hiện
hình ảnh đối với thị giác vẫn mang tính quy luật: với một vật như thế, điều
kiện nhìn như thế, hình ảnh tất phải hiện ra như thế và ai cũng thấy thế. Nhờ
đó ta nhận định về sự vật vẫn đúng.
Do những đặc điểm nói trên, việc truyền đạt không gian lên mặt phẳng
mới thực hiện được. Một elip được trình bày trên mặt phẳng làm ta liờn tưởng
đến hình tròn trong không gian. Cũng vậy hai đường thẳng gặp nhau có thể
gợi cảm nghĩ về sự song song, bởi vì đấy là hiện tượng rất quen mắt trong
thực tế.
Hình ảnh có hai trường hợp: vật nổi và hình nổi.
Vật nổi: Là một khối có vị trí trong không gian. Có hai nguyờn nhân gây
nên hiệu quả nổi:
- Sự chồng hai kết quả ghi nhận tương đối khác nhau của hai mắt trước
cùng một đối tượng (Trường hợp nhìn bằng hai mắt)
- Sự ảnh hưởng không đồng đều của ánh sáng vào các diện khác nhau trên
bề mặt của vật (Trường hợp nhìn bằng một mắt hay nhìn bằng hai mắt khi vật
ở xa).
Nhờ đấy, có thể nhận thức được vật nổi từ một điểm nhìn hay hai điểm
nhìn.
8
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa

vật khác cùng loại sau khi nhận dạng được.
Đối với hội họa lối so sánh này càng có ý nghĩa, bởi vì đấy là một gợi ý rất
hay cho việc thể hiện chiều thứ ba của không gian trên mặt phẳng bằng cách
so sánh và đối chiếu, ta đã dễ dàng đưa vào tranh các khoảng cách theo chiều
rộng, chiều cao và sự giảm dần khối lượng để làm tăng chiều sâu nên kết hợp
với giảm dần sắc độ bao giờ cũng có ý vị hơn.
1.2.3. Nhìn bao quát và nhìn tập trung
Sự nhạy bén của thị giác giúp ta nắm bắt sự vật rất nhanh, nên chỉ trong
khoảnh khắc, mắt ta có thể thu được một lượng hình ảnh khá lớn. Tuy nhiên
trong cùng một lúc ta không thể hiểu ngay tất cả mà cần có một khoảng thời
gian vừa đủ để nhận định, phân tích, sắp xếp và ghi nhớ, rồi mới truyền đạt lại
được. Ví dụ: Khi nhìn vào một trang sách cho thấy ngay cỏc dũng chữ, nhưng
muốn biết nội dung của trang sách đó, ta phải đọc lần lượt từng chữ từng
dòng theo đúng trình tự từ trên xuống dưới.
Nhìn cảnh vật tuy không giống như đọc sách, nhưng cũng phải có trình tự
thì nhận thức mới đầy đủ và màu sắc. Thật vậy, có rất nhiều trường hợp người
ta chỉ trông chứ không nhìn, hoặc chỉ thấy chứ không hiểu, dẫn tới kết quả
nhìn sai và không truyền đạt đúng. Vì vậy cảm thụ thị giác cũng được chia
thành các cấp độ: Trụng, nhìn, ngắm, quan sỏt.v.v… vỡ võy khi nói đến nhỡn
đỳng hay biết nhìn là nói đến phẩm chất ghi nhận của người quan sát trước
đối tượng.
Để có kết quả đúng về đối tượng chúng ta cần kết hợp cân đối hai quá
trình của sự nhìn là:Nhỡn bao quát và nhìn tập trung.
- Nhìn bao quát là khả năng nghi nhận một lúc nhiều hình ảnh, nhưng
không phải từng thứ riêng rẽ, mà từng ấy thứ không tách rời nhau, đồng thời
cùng lọt vào mắt ta, chỉ giây lát cũng đủ để ghi nhận tất cả.
10
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Khả năng này tạo thuận lợi cho việc nhận xét, dựng hình, bố cục.v.v… và
nâng cao trí tưởng tượng, giúp ta hình dung được một tác phẩm còn nằm

không thể đồng quy, nhưng khi chúng có hướng đi vào chiều sâu, dường như
có khuynh hướng đồng quy.v.v…đú chớnh là nhìn thấy thế này mà hiểu ra thế
khỏc, thỡ đú chớnh là ảo giác có tính chất tâm lý.
+ Ảo giác sinh lý: Là hiểu thế này nhưng lại thấy thế khác, do khả năng
hạn chế về sinh lý của thị giác. Ta có thể tìm thấy rằng loại ảo giác này chỉ
xảy ra trong mối quan hệ giữa các yếu tố tạo hình như: Nét, sắc độ hay màu
sắc, cũng có khi giữa các yếu tố đó với nhau, đưa đến nhận định sai về kích
thước, chiều hướng, độ sáng tối, màu sắc.v.v…
Nhận định sai về kích thước: Do cách bố trí hoặc có sự xen lẫn của một vài
chi tiết phụ, một đoạn thẳng bỗng cho cảm giác dài thêm hoặc ngắn bớt so với
độ dài thực tế của nó. Đối với diện tích hay hình khối cũng vậy. Gặp những
trường hợp tương tự sẽ cho ta cảm giác chúng to ra hay nhỏ đi. (Hình 1 trang
55)
Nhận định sai về chiều hướng là những đường đi theo hướng bình thường
bỗng bị những yếu tố khác xen vào hoặc gây nhiễu sẽ cho cảm giác bị lệch
hướng. (Hình 2 trang 55)
Nhận định sai về không gian: Sự phối hợp đường nét có thể tạo nên phối
cảnh của các hình khối và cho ta cảm giác về ba chiều không gian. Tuy vậy
nhận định về chiều sâu vẫn có những hạn chế, nếu không có sự tham gia của
những yếu tố tạo hình khác nữa, thì việc xem xét hình dạng các khối sẽ không
tránh khỏi bị ngộ nhân. (Hình 3 trang 56)
12
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Nhận định sai về đậm nhạt, độ sáng tối hay đậm nhạt của một mảng nào
đấy sẽ cho cảm giác tăng lên hay giảm đi một cách khác thường do những
thay đổi về kích thước cũng như về quan hệ giữa nó với nền hoặc với mảng
xung quanh. (Hình 4 trang 56)
Nhận định sai về màu sắc: cũng như các độ sáng tối hay đậm nhạt, ảnh
hưởng qua lại của màu sắc thường gây rất nhiều ngộ nhận. Trong những
nguyên nhân làm cho màu sắc thay đổi. Trước hết phải kể đến các hiệu ứng

là nhỏ xíu, ta không hề có ý nghĩ đấy là những người tí hon, mà luôn luôn
hình dung ra bằng con người thật.
14
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Thói quen ấy có những mặt lợi, hại là đã giúp cho việc ghi nhận và đánh
giá các hiện tượng được bình ổn, nhưng đồng thời cũng tạo nên một sức ì,
khiến các nhược điểm của tâm lý thị giác nhiều khi rất khó sửa, ví dụ: Luụn
luôn đánh giá sai kích thước thực tế của các công trình, thường là phóng to
những cái nhỏ và thu nhỏ những cái lớn, như một cái cốc được coi là to nếu
dung lượng của nó vượt qua yêu cầu về uống, trong khi ấy một cái vại chứa
nước có hình dáng lớn hơn lại bị xem là nhỏ chỉ vì thể tích của nó chưa đủ
đáp ứng yêu cầu về đựng. Hay một ví dụ nữa đền Pỏc-tờ- nụng ở Hi Lạp trái
lại, không lớn lắm nhưng lạ gây được cảm giác đồ sộ nhờ ở những diềm phù
điêu chạy dài được trang trí bằng các hình nhân vật giống như người thật
nhưng chiều cao thực tế chỉ bằng già nửa cỡ người thật.
Ta còn phải xét đến những thói quen có thể thay đổi và chỉ có tác dụng đối
với từng cá nhân hay từng quần thể nào đó, do ảnh hường của môi trường
sống, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, xã hội.v.v… Điều rõ ràng là có những
hiện tượng rất quen thuộc với người này nhưng lại lạ lùng với người khác
hoặc ngược lai. Do võy thúi quen thị giác cũng mang tính truyền thống và
thường chuyển biến chậm so với thực tế. Vì vậy trong việc xây dựng phong
cách nghệ thuật và bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ, sự tác động của ý thức tự giác
vào thói quen đó là rất cần thiết.
Qua những điều vừa trình bày chúng ta đã thấy được thị giác thật không
đơn thuần như những gì chúng ta đã nghĩ, mà nhiều lúc con mắt cũng cho
chúng ta những hình ảnh tưởng chừng như là đúng, mà lai không đúng. Vậy
để tránh được những cái nhìn sai lệch về sự vật, thể giới khách quan, chúng ta
phải nắm vững được những đặc điển tâm sinh lý của thị giác thì cái nhìn mới
cho ta hình ảnh đúng.
1.3. VAI TRÒ THỊ GIÁC TRONG NGHỆ THUẬT TẠO HèNH.

Trong xã hội mà quyền lực tập trung vào giai cấp thống trị, thì hội hoạ
phải đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của nó. Phải vẽ cho thật giống
hình mẫu định thể hiện là rất quan trọng. Người ta không còn thể hiện những
điều mình nhìn thấy và thuần tuý vẽ ra, mà họ chủ định quan sát thực tế để
diễn tả (nhất là tranh, tượng chân dung). Tuy nhiên, nghệ thuật cổ Ai Cập
cũng để lại những tác phẩm tuyệt đẹp mà người ta cho là những tác phẩm của
đỉnh cao Nghệ Thuật tạo hình Lưỡng Hà. Bức chạm “Sư tử cái bị thương”
(của At-xy-ri ở Viện bảo tàng Bristish Musesum, Luân Đôn) (Hình 6 trang
57) là đỉnh cao nhất của nghệ thuật tạo hình Lưỡng Hà, và là một trong những
tác phẩm thể hiện hỡnh thỳ đẹp nhất của mỹ thuật thế giới, qua đó chúng ta
thấy nghệ sỹ có một nhận xét tinh vi và thể hiện cái nhìn của mình một cách
sắc sảo, tài tình. Xem kỹ tác phẩm này thì chúng ta thấy người nghệ sỹ đã tận
dụng các điểm mạnh của thị giác, quan sát và có nhận xét sâu sắc về hình ảnh
con thú và sau đó đã thể hiện vẽ rất sống động. Nghệ sỹ đã thể hiện một con
sư tử cái bị bắn ba mũi tên; một mũi tên vai và hai mũi tên ở phần thân sau
con vật. Những mũi tên ghim sâu ở thân làm tê liệt hai chân sau con thú, cho
nên nó phải rỏng chỳt sức tàn còn lại, chống hai chân lên trước, chồm tới
kháng cự lại đối phương, mà trên bức chạm tác giả không thể hiện, con vật hỏ
mõm, nhe răng, nhíu da trên sống mũi lại, hai vành tai cụp lại phía sau tỏ ra
một sự đau đớn và giận dữ đến tột độ của một con dã thú trước khi chết.
Đường nét mềm mại và chính xác của chu vi con vật kéo lê hai chân sau bị tê
liệt mà cũn rỏng chống trả lại kẻ thù là một sáng tạo thiên tài của nghệ sỹ.
Ông đó cú một đầu óc nhận xét sắc sảo và vươn tới tầm cao của nghệ thuật để
thể hiện rất điờu luyờn, tinh xảo tác phẩm của mình.
Các họa sĩ thời Thời Phục Hưng đạ cụ thể hóa những ảnh hưởng của thị
giác với nghệ thuật tạo hình bằng cách cho ra đời Luật viễn cận. Đây là những
cơ sở nền tảng cho nghệ thuật hiện đại sau này.
17
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Tuy nhiên phải đến thời kỳ Ấn tượng, nghệ thuật thị giác mới được chú

chiều, lá cây rơi, cóng nước vỗ bờ….Nột bỳt to khoẻ và nhậy bén của hoạ sỹ
nhanh chóng thâu tóm được những hơi thở của tự nhiên. Không gian mà
Monet thể hiện mang đậm nét chiều sâu thăm thẳm của cảnh vật, của con
người, nó như quyện chặt trong nhau, như bao bọc chặt lấy nhau. Có thể núi
ụng là người hoạ sỹ của thiên nhiên, của những gì nhìn thấy - cảm nhận thấy.
19
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Trong thời kỳ này, các hoạ sỹ ấn tượng đã để ý, quan tâm rất nhiều tới ánh
sáng. Họ đã tìm hiểu, quan sát và nghiên cứu về ánh sáng trong tự nhiên và
thể hiện lại trong những tác phẩm của mình như một đặc thù riêng của phái ấn
tượng. Do vậy các chi tiết cầu kỳ, quá kỹ càng một cách rườm rà đã được giản
bớt mà phần đáng kể nhường chỗ cho sự quan tâm thoả đáng về ánh sáng màu
sắc. Đặc điểm này được các hoạ sỹ ứng dụng trong suốt cả thời kỳ ấn tượng.
Những tác phẩm của họ vẫn được xây dựng chủ yếu ngay tại hiện trường
trong thiên nhiên, nhờ thị giác đưa lại. Các hoạ sỹ ấn tượng dùng con mắt
(yếu tố thị giác) quan sát những hiện tượng thiên nhiên. Họ nhận ra rằng, phải
dùng khả năng thị giác bẩm sinh mới có thể nắm bắt được từng hiện tượng
thiên nhiên để nhận ra cái đặc thù của nó, mỗi người dùng khả năng và trí
thức mà tiếp cận thực tại. Họ không chấp nhận và quy thuận bất cứ một quy
ước định sẵn nào. Họ chỉ tuân theo thiên nhiên, học và vẽ thiên nhiên. Qua
bức tranh “Mựa thu ở Argentenil” (1973) của Claude Monet (Hình 8 trang
58) người ta thấy không có bất cứ một chi tiết nào cả mà chỉ thấy một cảnh
mênh mông, rộng lớn, cú cõy, có nước, cú mõy, có nhà ở đằng xa…tất cả chi
tiết được giản ước để chỉ thấy một cảm giác về cảnh vật của thiên nhiên. Điều
này không thể sáng tạo được khi người hoạ sỹ không trực tiếp quan sát, nhìn
thấy thiên nhiên và cảm nhận nó. Do vẽ tại hiện trường, quan sát và nhìn thấy
sự chuyển biến của thiên nhiên, họ đã làm tiền đề để cho nhiều trường phái
nghệ thuật sau này. Nghệ thuật ấn tượng là nghệ thuật do con mắt đưa lại.
Những bài học của thiên nhiên đã tạo nên những tác phẩm của họ và chính họ
đã tạo tiền đề cho các thế hệ tiếp theo càng tôn vinh thêm cái đẹp tự nhiên.

Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
Hiện nay, các hoạ sỹ có xu thế tái tạo lại thực tế bằng chính cuộc sống của
họ, bằng chính cái nhìn của họ. Hội hoạ Việt Nam đang trên con đường phát
triển, vai trò của thị giác càng được đề cập đến nhiều hơn. Đại hội Mỹ thuật
Việt Nam lần thứ XV ngày 17/12/1999 có đoạn viết “Nghệ thuật phải cùng
sống với hiện thực” điều đó khẳng định ở Việt Nam nghệ thuật và hiện thực
có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau, mà trong đó giá trị thị giác
có một vai trò hết sức quan trọng.
Trải qua một thời kỳ phát triển của hội họa từ khi phôi thai từ thủa hồng
hoang của loài người rồi qua nền văn minh Ai Cập – Phục Hưng … đến nay
và trong những trường phái hội họa khác nhau, từ hội họa Phương Tây đến
Phương Đông ta đều thấy sự có mặt của thị giác cho dù đó là thị giác đơn giản
(những gì mà ta nhìn thấy), hay thị giác cao ( những gì mà ta cảm nhận thấy).
mọi ý đồ sáng tác của họa sỹ dường như đều xuất hiện trong cuộc sống và sự
nhìn nhận về hiện thực xã hội Điều đó lại càng khẳng định giá trị của thị
giác rất quan trọng trong việc hình thành tác phẩm nghệ thuật.
Văn học nghệ thuật nói chung và nghệ thuật hội họa nói riêng đều xuất
phát từ hiện thực cuộc sống, người họa sĩ phải tự cảm nhận được tự nhiên,
cảm nhận được hiện thực cuộc sống, bằng thị giác và thông qua thị giác để
sáng tác, truyền đạt lại cho công chúng. Do đó không phải ngẫu nhiên người
ta lại cú cõu “Nghệ thuật hội họa là nghệ thuật của con mắt”.
22
Khai thác những đặc điểm tâm sinh lý thị giác trong sáng trác hội họa
CHƯƠNG II
MỐI QUAN HỆ GIỮA CẢM NHẬN VÀ HỨNG THÚ THỊ GIÁC.
2.1. NGOẠI CẢNH VÀ NỘI TÂM (CẢNH VÀ TèNH)
2.1.1. Ngoại cảnh
Thế giới quanh ta có thể xem như một cuốn sách mở rộng dành riêng cho
tất cả mọi người, ai cũng cơ thể đọc để tìm hiểu nghiên cứu, phải khai thác và
vận dụng vào cuộc sống.

Tóm lại cả năm nhân vật múi trờn đều nhìn thấy đối tượng của mình.
Nhưng kết quả thu nhận ở mỗi người khác nhau. Hay thử đặt một tình huống
khác, nếu cả năm người đều là họa sĩ thì người vẽ chất liệu sơn mài sẽ chú ý
đến việc tả chất; người vẽ đồ họa lại tập trung vào đường nét; người chuyên
vẽ lụa lại quan tâm đến mảng; người chuyên sơn dầu thì tập trung vào hiệu
quả của màu sắc; người ký họa lại tập trung vào những chi tiết cần ghi chép
lại của nó.
Hay một giả định khác: Nếu cả năm người đều là họa sĩ vẽ sơn dầu thì
cùng với đối tượng này họ sẽ có năm cách nhìn và cách thể hiện khác nhau
mặc dù đều giống hệt một đối tượng.
24

Trích đoạn Sự khác biệt giữa cái nhìn Phương Đông và Phương Tõy. NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ CÁI ĐẸP. NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status