TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN VĂN VIẾNG ANH
TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
SINH SẢN CÁ NGÁT
(Plotosus canius Hamilton, 1822) LUẬN VĂN ĐẠI HỌC
TÓM TẮT
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Ngát ngoài tự
nhiên. Mẫu cá được thu tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng dọc theo
tuyến sông Hậu từ các ngư dân và các chợ địa phương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cá Ngát (Plotosus canius) có sự tương quan chặt
chẽ giữa sức sinh sản tuyệt đối và tọng lượng cá theo phương trình có dạng
y=2.3003x
0.9514
với hệ số tương quan R
2
=0.809. Độ béo của cá biến đổi trong
các tháng quan sát như sau: Độ béo Fulton thay đổi từ (0.16-3.52%) và độ béo
Clack thay đổi từ (0-3.34%). Độ béo tăng cao nhất vào khoảng tháng 11. Hệ số
thành thục (GSI) trung bình của cá thấp thay đổi từ (0.145-3.55%) thấp nhất
vào khoảng tháng 9. Sức sinh sản trung bình tuyệt đối của cá Ngát là 2125
trứng/cá thể và sức sinh sản tương đối là 1692 trứng/Kg. Đường kính trứng
trong bình của cá dao động từ 0.37-0.68 cm, lớn hơn nhiều so với các loài cá
khác.
Hiện nay trên thị trường, cá có trọng lượng trên 1kg được bán với giá từ 40.000
- 50.000 đồng.(Google, 2008)
Do có giá trị kinh tế cao nên nhiều ngư dân đã khai thác tích cực đối tượng này
dẫn đến sự cạn kiệt dần nguồn cá ngoài nhiên. Trên cơ sở điều tra của Trung
Tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản An Giang, bước đầu có thể nhận
định cá Ngát hoàn toàn có thể nuôi được trong các lồng bè đặt nơi có dòng
chảy tốt và đây có thể được xem là một đối tượng nuôi mới rất hiệu quả trong
tương lai. Nhưng những nghiên cứu về đối tượng này còn rất ít và qui trình sản
xuất giống chưa ổn định để đáp ứng nhu cầu trong tương lai. Chính vì vậy Lê
Thái Nguyên (2008) đã tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh học sinh sản của cá Ngát
nhưng thời gian thực hiện chỉ mới từ tháng 1-5. Xuất phát từ tình hình trên
được sự phân công của Khoa thủy sản, Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, đề tài
“Tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Ngát (Plotsus canius)
được tiến hành.
1.1 Mục tiêu của đề tài
Góp phần hoàn chỉnh những dẫn liệu về sinh học sinh sản nhằm cung cấp cơ sở
khoa học cho những nghiên cứu tiếp về sản xuất giống nhân tạo loài cá Ngát
(Plotosus canius Hamilton, 1822)
1.2 Nội dung
1.2.1. Tiếp tục khảo sát hình thái các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
qua các tháng còn lại trong năm.
1.2.2. Biến động độ béo qua các tháng thu mẫu.
Clark
Fulton
phía nam Ấn Độ, chạy về phía đông Sri Lanka đến bờ biển Bangladesh and
Myanmar, xuyên qua Châu Úc (Indo-Australian Archipelago) and Philippines.
(Fishbase, 2008) Hình 1: Bản đồ phân bố của cá Ngát trên Thế giới
2.1 Đặc điểm hình thái phân loại cá Ngát
2.1.1 Vị trí phân loại
Theo dẫn liệu từ Fishbase (2008) và Itis (2008) hệ thống phân loại của cá Ngát
được xác định như sau:
Giới: Animalia Linnaeus, 1758 - animals
Ngành: Chordata Bateson, 1885 - chordates
Lớp: Osteichthyes Huxley, 1880 - bony fishes
Bộ: Siluriformes - catfishes
Họ: Plotosidae - eeltail catfishes
Giống: Plotosus La Cepède, 1803
Loài: Plotosus canius Hamilton, 1822
Cá Ngát Plotosus canius còn có các đồng danh sau (Fishbase ,2008):
+ Plotosus canius Hamilton, 1822
+ Plotosus horridus Bleeker, 1846
+ Plotosus multiradiatus Bleeker, 1846
+ Plotosus unicolor Valenciennes, 1840
+ Potosus viviparus Bleeker, 1846
Hiện nay tên Plotosus canius Hamilton, 1822 của cá Ngát được nhiều tác giả sử
dụng phổ biến trên thế giới (Fishbase, 2008 và Itis, 2008).
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) và Rainboth (1996) họ
Plotosidae chỉ có một giống Plotosus. Theo Itis (2008) và Fishbase (2008) họ
Plotosidae có 10 giống cá với tên khoa học như sau:
+ Anodontiglanis Rendahl, 1922
+ Cnidoglanis Günther, 1864
Thân dài, phần trước tròn, phần sau dẹp bên, mỏng và mềm mại. Đường bên
hoàn toàn chạy từ mép trên lỗ mang đến điểm giữa gốc vi đuôi. Cá có hai vi
lưng, gốc vi lưng thứ nhất ngắn, có gai độc, gốc vi lưng thứ hai và vi hậu môn
nối liền với vi đuôi nhỏ. Vi đuôi không chẻ hai. Vi ngực có gai độc. Gai độc
trước các vi ngực và vi lưng rất nhọn, cạnh trước và sau có răng cưa sắc. Cơ ở
gốc vi phát triển và da ở vi dày.
Mặt lưng của thân và đầu có màu nâu đen đến nâu đỏ nhạt dần xuống bụng.
Bụng cá và mặt dưới của đầu có màu trắng sữa. Mặt trên của vi ngực, vi bụng
màu xám, mặt dưới màu trắng sữa. Râu mép và râu mũi sậm hơn râu hàm dư
ới.
2.2 Phân bố và môi trường sống
2.1.1 Thế giới
Bộ Siluriformes phân bố rất rộng người ta đã tìm thấy chúng ở Bắc, Trung,
Nam Phi, Châu Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á…Ngoại trừ 2 họ (Aridae và
Plotosidae) phân bố ở nước lợ nhưng di cư vào nước ngọt để tìm mồi. (Google,
2008)
Cá Ngát phân bố rộng ở vùng nhiệt đới, vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương
(Fishbase, 2008; Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006), xuất hiện
nhiều ở các cửa sông, hồ, vịnh, đầm phá nước lợ, biển, chúng cũng có thể sống
ở cả những vùng nước ngọt sâu trong nội địa (Fishbase, 2008). Chúng được tìm
thấy ở các nước: Úc, Bangladesh, Brunei Darsm, Campuchia, Ấn Độ,
Indonesia, Lào , Malaysia, Papua Guin, Myanmar, Philippines, Singapore, Sri
Lanka, Thái Lan, và Việt Nam (Fishbase, 2008).
Loài cá Ngát chó (Plotosus canius) sống đáy, vùng nước ngọt, nước lợ và nước
mặn, phân bố chủ yếu ở: vùng ven biển các nước Bangladesh, Myanmar, Thái
Lan, Sundaland, Sulawesi, Moluccas, Ấn Độ, và bên trong hạ lưu sông
Mekong.
2.1.2 Việt Nam
Ở nước ta có 2 loài cá thuộc giống Plotsus là:
Loài Plotosus canius tìm thấy ở Nam Bộ và sông MêKông (Nguyễn Hữu
những loài cá có tính ăn thiên về động vật sẽ có chỉ số L
i
/L
O
(tỷ lệ chiều dài
ống tiêu hóa và chiều dài thân) ≤1, cá ăn tạp có L
i
/L
O
=1-3 và cá ăn tạp có L
i
/L
O
≥ 3.
Ngoài ra, để xác định tính ăn của cá người ta còn căn cứ trên lược mang, cấu
tạo của dạ dày, răng hầu, …Theo Nikolxki, 1964 cá ăn thịt có lược mang ngắn,
thưa, dạ dày to, manh tràng và răng hầu phát triển .
Tính ăn của cá thay đổi theo kích thước cơ thể. Lúc còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) cá
dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng, khi cá hấp thu hết chuyến sang ăn thức
ăn bên ngoài nhưng chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ. Theo Vahta; Nguyễn
Văn Kiểm, (1997) cá Trơn ở giai đoạn cá con thức ăn gồm: giáp xác nhỏ,
rotifer, phytoplankton,… Số ngày tuổi càng tăng thì tỉ lệ giáp xác nhỏ càng
giảm trong khi giáp xác lớn càng tăng. Ngoài ra cá Trơn cũng có thể ăn thức ăn
đáy như giun ít tơ, ấu trùng Chironomus.
Theo Nguyễn Bạch Loan (2000), cá Ngát là loài ăn tạp thiên về động vật với
phổ thức ăn rộng (Mùn bã hữu cơ, động vật phù du, cá con, thực vật thủy sinh,
thực vật phù du, giáp xác, nhuyễn thể, giun).
Hầu hết các loài cá Ngát ăn động vật thân mềm, giáp xác, cá có vẩy, động vật
đáy, mùn bã hữu cơ, giun nhiều tơ và một số loại thức ăn khác (Fishbase,
những đặc điểm khác biệt có thể nhận biết được bằng mắt thường. Bậc thang
thành thục cho phép đánh giá nhanh mức độ thành thục và khả năng sinh sản
của một số lượng lớn cá thể.
Rất nhiều tác giả đã đưa ra các bậc thang thành thục của cá (Qasim, 1957;
Kesteven, 1960; Nikoxki, 1963; Laevastu, 1965; Crosland, 1977; Beumer,
1979). Các tác giả này đã chia bậc thang thành thục ra nhiều giai đoạn (4-5
giai đoạn thậm chí nhiều hơn: 7-8 giai đoạn). Sự phân chia bậc thang thành
thục ra nhiều giai đoạn cho phép phân chia khá chính xác mức độ thành thục
của các cá thể trong cùng một loài hay giữa các loài cá khác nhau. Tuy nhiên,
đánh giá nhanh bằng mắt chỉ có thể phân chia một cách tương đối số lượng
trung bình của mẫu vật quan sát. Cho nên không thể sử dụng bậc thang thành
thục có quá nhiều giai đoạn. Bậc thang thành thục có ít hơn 8 giai đoạn được
xem là thích hợp cho việc đánh giá hầu hết các loài cá (Holden và Raitt,
(1974) trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Các bậc thang thành thục còn được sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng thành
thục của tuyến sinh dục trong điều kiện ít trang thiết bị khảo sát và cho phép
khảo sát một lượng lớn mẫu ngoài hiện trường. Nhìn chung, có 2 bậc thang
thành thục sinh dục thường được sử dụng:
Bậc thang thành thục 7 giai đoạn dành cho các loài cá đẻ trứng một lượt. Các
loài đẻ trứng một lượt có buồng trứng phát triển đồng nhất và tất cả các loài
trứng đều rụng cùng một thời điểm. Xác định giai đoạn thành thục các loài cá
này thường không khó, vì hầu hết các tế bào trứng đều phát triển với cùng một
giai đoạn trong cùng một thời điểm.
Bậc thang thành thục 5 giai đoạn dành cho các loài đẻ trứng nhiều đợt. Việc
xác định giai đoạn thành thục ở các loài cá này là vấn đề khá khó khăn vì thời
gian sinh sản của cá kéo dài và cá đẻ thành nhiều đợt. Buồng trứng của các
loài này có nhiều lứa trứng với các giai đoạn thành thục khác nhau.
Bảng 2.2: Bậc thang thành thục của cá đẻ trứng một lượt (theo Kesteven
(1960), trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Giai đoạn Mức độ thành thục Mô tả
Trưởng thành
Sinh trưởng Sinh trưởng & dinh
dưỡng Thành thục
Rụng và đẻ trứng Thoái hóa
bằng mắt thường.
Tuyến sinh dục bắt đầu phát triển và dài
thêm. Tinh sào có màu hơi đục, màu hơi
xám đến hồng. Chiều dài tuyến sinh dục
chiếm khoảng ½ hay hơn so với chiều dài
xoang bụng. Hạt trứng nhỏ và có thể quan
sát được bằng kính lúp. Các cá thể sau khi
đẻ trứng cũng được xếp vào giai đoạn này.
Tuyến sinh dục mờ đục, màu hơi đỏ với
nhiều mạch máu chiếm khoảng ½ thể tích
xoang bụng. Buồng trứng chứa đầy những
II
III
IV
V
VI
Cá thể non chưa thành thục sinh dục
Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường
không nhìn thấy hạt trứng.
Giai đoạn thành thục. Bằng mắt thường nhìn thấy
những hạt trứng. Khối lượng tuyến sinh dục tăng
lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong, chuyển
sang màu hồng nhạt.
Giai đoạn chín muồi. Tuyến sinh dục có kích thướt
lớn nhất, nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục
chưa chảy ra.
Giai đoạn đẻ trứng. Các sản phẩm sinh dục chảy ra
khi ấn nhẹ vào bụng cá. Khối lượng tuyến sinh dục
từ đầu đến cuối giảm đi rất nhanh.
Giai đoạn sau khi đẻ. Các sản phẩm sinh dục được
phóng thích hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh
dục trong dạng túi mềm nhão. Ở con cái thường có
những trứng nhỏ còn sót lại, ở con đực còn sót lại
một ít tinh trùng
2.3.2.2 Phương pháp xác định mức độ thành thục theo chiều dài cơ thể:
(trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Trong những trường hợp thực tế, việc thu mẫu để xác định mức độ thành thục
Trọng lượng của buồng trứng phụ thuộc chủ yếu vào số lượng trứng có trong
buồng trứng. Nhiều tác giả đã khẳng định sự tăng sức sinh sản với sự gia tăng
trọng lượng của buồng trứng Bagenal, 1963; Bhatnagar, 1964; Varghese,
1980). Tuy nhiên, ở hầu hết các loài cá có số lượng trứng không thay đổi khi
vào mùa sinh sản, sự gia tăng khối lượng buồng trứng là do sự tăng khối lượng
nước và các vật chất hữu cơ nhận được từ thức ăn (Bagenal, 1967).
Mối tương quan giữa sức sinh sản với chiều dài, trọng lượng cơ thể hay trọng
lượng buồng trứng sẽ tạo ra một đồ thị với sự phân bố rãi rác các điểm. Khi
đó mối tương quan giữa sức sinh sản (F) với mỗi chữ số của các biến số độc lập
khác (X1) thường được biễu diễn bằng phương trình tổng quát sau (Bagenal,
1967)
F = a X
1
b
Đồ thị của mối tương quan giữa log của sức sinh sản với log của mỗi chỉ số
độc lập khác sau đó sẽ được vẽ lên và đường biểu diễn mối tương quan thích
hợp nhất sẽ được xác định bằng phương pháp phân tích hồi qui bình phương
nhỏ nhất. Phương trình của đường hồi qui này có dạng:Log F = log a – b log X
i
PHẦN III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Mẫu cá Ngát dùng trong nghiên cứu được thu mua
từ các thủy vực tự nhiên như: sông, cửa sông và biển ven bờ, thông qua các ngư
cụ khác nhau như: cào đáy, câu, đăng,…
b. Dụng cụ và hóa chất:
- Formol công nghiệp 38%
-Thước bàn, thước cây,
- Khai nhựa, cal nhựa, chai nhựa, ống nhỏ giọt
Trường Đại học Cần Thơ để phân tích, sau đó mẫu được bảo quản dung dịch
formol 5-6%
3.4 Phương pháp xử lý mẫu
3.4.1 Giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
Quá trình phát triển của tuyến sinh dục cá Ngát ngoài tự nhiên được đánh giá
dựa trên cơ sở quan sát hình dạng, kích cỡ, màu sắc tuyến sinh và xác định
bằng thang thành thục sinh dục với 6 bậc của Xakun và Buskaia (1968), trích
bởi Nguyễn Bạch Loan, 2008)
Giai đoạn Mô tả
I
II
III
Cá thể non chưa thanh thục sinh dục
Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy
hạt trứng.
Giai đoạn thành thục. Bằng mắt thường nhìn thấy những hạt trứng,
khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu
trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt.
IV
V
VI
Giai đoạn chín muồi. Tuyến sinh dục có kích thước lớn nhất,
nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra.
Giai đoạn đẻ trứng. Các sản phẩm sinh dục sẽ chảy ra khi nhấn nhẹ
vào bụng cá. Khối lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giai đoạn
đẻ trứng giảm đi rất nhanh
3.4.3 Sức sinh sản của cá
Sức sinh sản của cá phụ thuộc nhiều vào chiều dài và trọng lượng cá. Có thể
tính sức sinh sản của cá bằng cách đếm tất cả số trứng có trong buồng trứng
đếm mẫu đại diện.
o Sức sinh sản tuyệt đối được tính bằng công thức (Bagenal, 1968, trích
bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
F = (n * G)/g
Trong đó:
F: sức sinh sản tuyệt đối
n: số lượng trứng trong mẫu đại diện
G: trọng lượng buồng trứng
g: trọng lượng mẫu đại diện
o Sức sinh sản tương đối: có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất giống vì
khi biết số lượng trứng trên kg cá cái sẽ dễ dàng tính được tổng sổ trứng trên
một đơn vị khối lượng cơ thể trên cá cái. Sức sinh sản tương đối được tính
bằng công thức:
F
A
= Số trứng có trong buồng trứng/Trọng lượng thân cá cái
3.4.4. Hệ số thành thục: (GSI) được tính theo công thức
GSI =Wg *100/Wb
Trong đó:
Wg: Khối lượng tuyến sinh dục
Wb: Khối lượng toàn thân cá
3.4.5. Đường kính trứng
Trứng ở 3 vị trí đầu, giữa và cuối buồng trứng sẽ được lấy đưa lên kính hiển vi
quan sát và đo bằng trắc vi thị kính. Đường kính trứng của cá là giá trị trung bình
đường kính của 30 trứng ở các vị trí nêu trên.
3.4.5. Mối quan hệ giữa sức sinh với kích cỡ cá
Mối liên quan giữa sức sinh sản và trọng lượng được biểu diễn bằng một phương
Xử lý số liệu
Tất cả số liệu thu thập được phân tích và so sánh kết quả bằng phần mềm Excel
PHẦN IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Ngát
3.1.1 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục của cá cái
Noãn sào cá Ngát có hình ống hơi bầu, có màu vàng nhạt đến màu vàng rơm.
Bên trong noãn sào có vách ngăn ngang (tấm trứng), có nhiều mạch máu. Đoạn
cuối của noãn sào kết hợp nhau và dẫn ra ngoài lỗ huyệt thông qua ống dẫn
trứng.
Dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, kích thước noãn bào kết hợp với sự phân
chia các giai đoạn thành thục có thể chia quá trình thành thục sinh dục của noãn
sào cá Ngát thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn I: Noãn sào là hai dãy băng nhỏ, màu trắng trong, dài khoảng 1/3
chiều dài xoang bụng. Chưa thấy các mạch máu phân bố trên bề mặt noãn sào.
Mắt thường không nhìn thấy được hạt trứng. (Hình 5)
Giai đoạn II: Noãn sào bắt đầu phát triển và dài hơn, chiếm hơn ½ chiều dài
xoang bụng. Trên bề mặt noãn sào có nhiều mạch máu nhỏ phân bố nên noãn
nằm trong xoang nội quan.
Hình 9: Giai đoạn VI
Hình 7: Giai đoạn III Hình 8: Giai đoạn IV
Giai đoạn I: Chỉ gặp ở cá thể non, chưa thành thục sinh dục. Tinh sào chỉ là hai
sợi chỉ mãnh dài.
Giai đoạn II: Buồng tinh có hai dãy mỏng dài khoảng 1/3-1/2 chiều dài xoang
bụng, có màu hồng nhạt, một mặt chia thùy. Tinh sào màu trắng trong hoặc hơi
hồng do có nhiều mạch máu nhỏ. (Hình 10)
Giai đoạn III: Tinh sào tiếp tục gia tăng kích thước và phân chia thành các thùy
với hình dáng rõ ràng. Buồng tinh có màu hồng nhạt. (Hình 11)
Giai đoạn IV: Buồng tinh đạt kích thước lớn nhất, dãy phân thùy sâu màu trắng
sữa, phần sau buồng tinh có các thùy màu xanh ngọc. (Hình 12)
Giai đoạn V: Không gặp trong quá trình thu mẫu. 3.2 Hệ số thành thục
Hình 10: Giai đoạn II
Hình 12: Giai đoạn IV
Hình 11: Giai đoạn III
Hệ số thành thục là một trong các chỉ số để xác định mùa vụ sinh sản và là một
trong những điều kiện cần thiết để nhận biết mức độ chín mùi của sản phẩm
sinh dục.
HSTT
0.14
dân tại các điểm thu mẫu
Tháng
I-II III III-IV IV
9 95.65 4.34 0 0
10 95.83 4.16 0 0
11 100 0 0 0
12 92.72 0 1.81 5.45
1 74.28 0 11.42 14.28
2 97.36 2.63 0 0
3 82.08 2.98 2.98 11.94
Hình 13: Hệ số thành thục của cá qua các tháng thu mẫu
Bảng 3.1: Theo dõi các giai đoạn thành thục qua các tháng thu mẫu
0%
20%
40%
60%
80%
100%
9 10 11 12 1 2 3
IV
III-IV
III
I-II
Hình 14: Biến động giai đoạn của cá theo thời gian
Kết quả từ và Hình 14 cho thấy, cá Ngát có tuyến sinh dục ở giai đoạn IV vẫn
xuất hiện ở các tháng 12, 1. Đến tháng 2, 3 bắt gặp cá con có trọng lượng 1,16
gam và có chiều dài 5,7 cm, điều này có nghĩa là đàn cá con có trong tháng 2-3
được sinh ra từ 1-2 tháng trước. Kết hợp với kết quả nghiên cứu về đường kính
0
1.35
0.16
0.12
1.28
3.34
0.63
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
9 10 11 12 1 2 3
Fulton
ClackKết quả từ (Bảng 3.2) và (Hình 15) cho thấy giá trị độ béo của cá biến động từ
0,16% - 3,52% đối với độ béo Fulton và độ béo Clack biến động từ 0% - 3,34%
qua các tháng quan sát. Độ béo thấp nhất vào khoảng tháng 10 và cao nhất vào
khoảng tháng 11. Nguyên nhân có thể là vào thời điểm này (tháng 11-12) là
mùa lũ nên nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, kết hợp với nghiên cứu về sự thành
thục sinh dục của cá vào khoảng tháng 11 thì đa số cá đang ở giai đoạn II, đây
là thời gian vào cuối vụ sinh sản nên cá cũng tăng cường tích lũy lại năng
lượng cho mùa vụ sinh sản mới.
Tương quan giữa hệ số thành thục và độ béo của cá