Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………I
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VŨ TRƯỜNG GIANG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
MỘT SỐ RỐI LOẠN SINH SẢN TRÊN ĐÀN BÒ CÁI NỘI
TẠI HUYỆN BÌNH GIA - TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TRẠCH
HÀ NỘI - 2008
i
LỜI CAM ĐOAN
đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS-TS Nguyễn Xuân
Trạch, người đã định hướng, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập,
thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội trong quá trình tôi nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân trọng cảm ơn lãnh đạo Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân,
Trạm Thú y, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê huyện Bình Gia, tỉnh
Lạng Sơn. Cảm ơn Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, bà con
nông dân hai xã Tô Hiệu và Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã
giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài tại địa phương.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Trung học Kinh tế
Lạng Sơn, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động
viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2008
Tác giả luận văn Vũ Trường Giang
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
4.3.1. Sử dụng progesterone 56
4.3.2. Sử dụng PGF2α 56
4.3.3. Sử dụng kết hợp progesterone và PGF2α 56
5. Kết luận và đề nghị 61
5.1 Kết luận 61
5.2. Đề nghị 62
Tài liệu tham khảo 63
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CAP 6-chloro-6-dihydro-17acetoxy-progesteron
CIDR Controlled Internal Drug Release
DHPA Dihydroxy progesteron acetophenide
F
1
Bò lai có 50% màu bò Holstein Friesian
F
2
Bò lai có 75% màu bò Holstein Friesian
Fe Sắt
FGA Flurogesterone acetate
FSH Follicle Stimulating Hormone
GnRH Gonadotropin Releasing Hormone
HCG Human Chorionic Gonadotropin
HF Holstein Friesian
HTNC Huyết thanh ngựa chửa
I
2
Iode
STT Tên hình Trang
2.1. Biến đổi hàm lượng các hormon trong chu kỳ động dục 10
2.2. Phục hồi tử cung và buồng trứng sau đẻ 13
2.3. Viêm âm đạo 17
2.4. Viêm nội mạc tử cung 20
2.5. Viêm cơ tử cung 21
2.6. Viêm tương mạc tử cung 21
2.7. Thiểu năng buồng trứng 24
2.8. Thể vàng tồn tại 26
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Bò là con vật được nuôi nhiều trên thế giới và cả ở Việt Nam. Đây là
loại gia súc dễ chăm sóc và nuôi dưỡng, thích nghi tốt trong nhiều điều kiện
môi trường chăn nuôi khác nhau. Ở nước ta, việc chăn nuôi bò có ý nghĩa
quan trọng đối với phát triển sản xuất nông nghiệp và đối với người nông dân.
Chăn nuôi bò là cơ sở để phát huy triệt để tiềm năng sẵn có cùng các lợi thế
so sánh của vùng, nhất là vùng trung du miền núi, làm đa dạng hóa sản xuất
nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện và bền
vững. Thực tế chăn nuôi bò ở Việt Nam trong những năm qua có tốc độ
tăng trưởng chậm, năng suất sản phẩm thấp, chăn nuôi phân tán với quy mô
nhỏ và mang tính truyền thống trên cơ sở khai thác tận dụng nguồn thức ăn
nuôi bò, khai thác có hiệu quả những tiềm năng và điều kiện thuận lợi của
tỉnh cho phát triển chăn nuôi bò. Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu
nhập cho người nông dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung và
ngành chăn nuôi ở Lạng Sơn đến năm 2010 và những năm tiếp theo.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
"Nghiên cứu đặc điểm sinh sản và biện pháp khắc phục một số rối loạn
sinh sản trên đàn bò cái nội tại huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn".
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò nội nuôi tại một số địa
phương thuộc huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn.
- Xác định một số rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò cái nội nuôi
tại địa phương.
- Thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng sinh sản trên
3
đàn bò cái nội tại huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn.
- Đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao năng suất sinh sản của đàn bò nội.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài này giúp cho các cấp quản lý về chuyên môn nắm được thực
trạng về tình hình sinh sản và nguyên nhân của những rối loạn sinh sản
thường gặp ở đàn bò cái nội nuôi tại huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn, làm
phong phú thêm tư liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của con bò.
- Cung cấp được những thông tin và số liệu cụ thể về một số chỉ tiêu
sinh sản và biện pháp khắc phục một số rối loạn sinh sản ở đàn bò cái nội
nuôi tại huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn. Đây là cơ sở cho việc đề ra những
chính sách cụ thể nhằm quản lý, phát triển đàn bò của Lạng Sơn cả về số
lượng và chất lượng.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho những người chăn nuôi bò
sinh sản ở Bình Gia có những biện pháp kỹ thuật chăn nuôi thích hợp nhằm
- Cổ tử cung
Cổ tử cung là nơi nối giữa âm đạo và tử cung. Cổ tử cung có kích thước
tăng cùng với độ tuổi, thường dài từ 3 - 10cm, đường kính từ 1,5 - 6cm. Phần
cổ tử cung hơi cứng hơn so với các bộ phận khác của cơ quan sinh sản. Cổ tử
cung nhô vào phía trong âm đạo tạo nên một vòng manh nang ở xung quanh.
Vị trí của cổ tử cung sẽ thay đổi theo tuổi của bò và giai đoạn có chửa.
Có một đường ống hẹp đi qua phần giữa của cổ tử cung, ống này có dạng
xoắn và thường ở trạng thái khép chặt, nó hé mở khi bò động dục hoặc bệnh lý
và mở rộng khi bò đẻ. Đường ống này thông với âm đạo qua lỗ tử cung.
5
- Tử cung
Tử cung bao gồm thân tử cung và 2 sừng tử cung, Thân và sừng tử
cung có thành dày, đàn hồi và có nhiều mạch máu để nuôi thai. Tử cung (bao
gồm cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung) có vai trò cực kỳ quan trọng
trong sinh sản như vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hoà chức
năng của thể vàng, đảm nhận sự làm tổ của hợp tử, mang thai, hình thành
nhau để nuôi thai và đẻ.
- Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng dài 20 - 25 cm với đường kính khoảng 1 - 2 mm. Có thể
chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: tua diềm, phễu, phồng ống dẫn
trứng và đoạn eo (Nguyễn Tấn Anh và cống sự, 1995 [3]).
Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo
chiều ngược nhau và đồng thời. Khi trứng rụng sẽ được chuyển qua lớp nhầy
của loa kèn rồi đi vào lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và phân chia
sớm của phôi. Phôi được lưu lại trong ống dẫn trứng vài ngày trước khi di
chuyển về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung cấp các điều kiện thích hợp cho
sự thụ tinh và phân chia của phôi, bao gồm các chất dinh dưỡng và bảo vệ cho
tinh trùng, noãn bào và hợp tử.
- Buồng trứng
Bò cái có hai buồng trứng hình trái xoan, kích thước trung bình khoảng
Những yếu tố ngoại cảnh khác có thể làm chậm dậy thì gồm có sức khoẻ
không tốt và chuồng trại vệ sinh kém.
Thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thực về thể vóc. Bò cái nếu
nuôi dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để bảo đảm cho sự
phối giống phải từ 18 tháng trở lên ( Khuất Văn Dũng, 2005 [7]).
Trong điều kiện nước ta, do ảnh hưởng của khí hậu và chế độ dinh
dưỡng nên bò vàng Việt Nam có tuổi phối giống lần đầu khá cao. Theo
Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004) [29], tuổi phối giống lần đầu
của bò vàng Việt Nam khoảng 20 - 24 tháng tuổi.
7
- Chu kì động dục
Sau tuổi dậy thì, buồng trứng có hoạt động chức năng và con vật có
biểu hiện động dục theo chu kỳ. Chu kỳ này bao gồm các sự kiện để chuẩn bị
cho việc giao phối, thụ tinh và mang thai. Nếu sự mang thai không xảy ra, chu
kỳ được lặp đi lặp lại. Một chu kỳ sinh dục như vậy được tính từ lần động dục
này dến lần động dục tiếp theo.
Thời gian của một chu kỳ động dục ở bò trung bình là 21 ngày, dao
động trong khoảng 18 - 24 ngày. Nhiều nhà nghiên cứu đã chia chu lỳ động
dục của bò thành 4 giai đoạn gồm: tiền động dục, động dục, hậu động dục và
thời kỳ yên tĩnh. Tiền động dục và động dục thuộc về pha noãn bao (follicular
phase), còn thời kỳ hậu động dục và yên tĩnh thuộc về pha thể vàng (luteal
phase) của chu kỳ (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004 [29]).
+ Tiền động dục (proestrus)
Đây là giai đoạn diễn ra ngay trước khi động dục. Trong giai đoạn này,
trên buồng trứng một noãn bao bắt đầu lớn nhanh (sau khi thể vàng của chu
kỳ trước bị thoái hoá). Vách âm đạo dày lên, đường sinh dục tăng sinh, xung
huyết. Các tuyến sinh dục phụ tăng tiết dịch nhờn trong suốt, khó đứt. Âm
môn hơi bóng mọng, cổ tử cung hé mở. Con vật bỏ ăn, hay kêu rống và đái
rắt. Có nhiều bò đực đi theo trên bãi chăn, nhưng con vật vẫn chưa chịu đực
(Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004 [29]).
Nếu trứng được thụ tinh thì giai đoạn này được thay thế bằng thời kỳ
mang thai (thể vàng tồn tại và tiết progesteron), đẻ và một thời kỳ không có
hoạt động chu kỳ tính sau khi đẻ (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm,
2004 [29]).
9
- Điều hòa hormon sinh sản với hoạt động sinh dục của bò
Theo Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004) [29]: hoạt động
sinh dục của bò cái được điều hoà bằng sự phối hợp thần kinh - nội tiết trong
trục dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng. Thông tin nội tiết được bắt đầu bằng
việc tiết GnRH (Gonadotrophin Releasing Hormone) từ vùng dưới đồi
(Hypothalamus). GnRH tác động làm chuyển đổi thông tin thần kinh trong
não thành tín hiệu nội tiết để kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết hai loại
hormon gonadotropin là FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH
(Luteinizing Hormone). FSH và LH được tiết vào hệ tuần hoàn chung và
được đưa đến buồng trứng, kích thích buồng trứng phân tiết estrogen,
progesteron và inhibin. Các hormon buồng trứng này cũng có ảnh hưởng lên
việc tiết GnRH, FSH và LH thông qua cơ chế tác động ngược. Progesteron
chủ yếu tác động lên vùng dưới đồi để ức chế tiết GnRH, trong khi đó
estrogen tác động lên thuỳ trước tuyến yên để điều tiết FSH và LH. Inhibin
chỉ kiểm soát (ức chế) việc tiết FSH.
Chu kỳ động dục ở bò cái có liên quan đến những sự kiện kế tiếp nhau
trong buồng trứng, tức là sự phát triển noãn bao, rụng trứng, sự hình thành và
thoái hoá của thể vàng dẫn đến hiện tượng động dục. Các sự kiện này được
điều hoà bởi trục dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng thông qua các hormon.
Trước khi động dục xuất hiện (tiền động dục), dưới tác dụng của FSH
do tuyến yên tiết ra, một nhóm noãn bao buồng trứng phát triển nhanh chóng
và sinh tiết estradiol với số lượng tăng dần. Estradiol kích thích huyết mạch
và tăng trưởng của tế bào đường sinh dục cái để chuẩn bị cho quá trình giao
phối và thụ tinh. FSH cùng với LH thúc đẩy sự phát triển của noãn bao đến
giai đoạn cuối (hình 2.1).
estradiol từ các noãn bao lớn và progesteron từ thể vàng trong thời kỳ “yên
tĩnh” của chu kỳ.
Thực ra trong mỗi chu kỳ động dục không phải chỉ có một noãn bao
phát triển mà có nhiều noãn bao phát triển theo từng đợt sóng với khoảng
cách đều nhau. Đối với bò thường có 2 - 3 đợt sóng trong một chu kỳ. Mỗi
đợt sóng như vậy được đặc trưng bởi một số noãn bao có nang nhỏ cùng bắt
đầu phát triển, sau đó 1 noãn bao được chọn thành noãn bao trội, noãn bao
trội này sẽ ức chế sự phát triển tiếp theo của các noãn bao cùng phát triển còn
lại trong nhóm đó. Sự ức chế của noãn bao trội này thông qua inhibin do nó
tiết ra làm ức chế tiết FSH của tuyến yên. Tuy nhiên, chừng nào còn có mặt
của thể vàng (hàm lượng progesteron trong máu cao) thì noãn bao trội không
cho trứng rụng được mà bị thoái hoá và một đợt sóng phát triển noãn bao mới
lại bắt đầu.
Nếu trứng rụng của chu kỳ trước không được thụ thai thì đến ngày 17-
18 của chu kỳ sinh dục nội mạc tử cung sẽ tiết prostaglandin F2α, hormon
này có tác dụng làm tiêu thể vàng và kết thúc pha thể vàng của chu kỳ. Noãn
bao trội nào có mặt tại thời điểm này sẽ có khả năng cho trứng rụng nhờ hàm
lượng progesteron trong máu thấp. Việc giảm hàm lượng progesteron sau
khi tiêu thể vàng làm tăng mức độ và tần số tiết GnRH, do đó mà tăng tiết
LH của tuyến yên. Kết quả là noãn bao tiền rụng trứng (trội) tăng sinh tiết
estradiol và gây ra giai đoạn tiền động dục (pha noãn bao) của một chu kỳ
mới.
Tuy nhiên, nếu trứng rụng trước đó đã được thụ tinh thì thể vàng không
tiêu biến và không có trứng rụng tiếp. Thể vàng trong trường hợp này sẽ tồn
tại cho đến gần cuối thời gian có chửa để duy trì tiết progesteron cần cho quá
12
trình mang thai. Thể vàng thoái hoá trước khi đẻ và chỉ sau khi đẻ hoạt động
chu kỳ của bò cái mới dần dần được hồi phục.
- Sự thụ tinh
Sự thụ tinh là một qua trình đồng hoá và dị hoá lẫn nhau một cách phức
thường. Những co rút của cơ trơn dạ con không những làm co tử cung mà
còn giúp tống các dịch sản (gồm chất nhầy, máu, các mảnh vụn của màng
thai, mô của mẹ và dịch của thai) ra ngoài. Tác dụng này có được nhờ sự
phân tiết prostaglandin F2α kéo dài sau khi sinh làm tăng trương lực và sự
co bóp của cơ trơn dạ con.
Song song với việc co cơ tử cung và thải dịch sản ra ngoài, nội mạc tử
cung cũng dần dần được phục hồi để có thể chuẩn bị cho quá trình làm tổ
của hợp tử hay phân tiết prostaglandin trong hoạt động chu kỳ tính.
Một hai ngày đầu sau khi đẻ cổ tử cung hồi phục rất nhanh, 5 - 6 ngày
sau thì cổ tử cung đóng chặt hoàn toàn. Nếu gia súc bị sát nhau thì tử cung
co lại chậm hơn.
14
Sau khi đẻ 15 ngày, tất cả lớp tế bào thượng bì mới xuất hiện đầy đủ
trên bề mặt lớp niêm mạc tử cung. Trong khoảng 12 - 14 ngày sau khi đẻ tử
cung trở lại bình thường như trước khi có thai, cả về kích thước và hình
dạng.
+ Phục hồi buồng trứng
Muốn trở lại có hoạt động sinh dục (động dục và rụng trứng) theo chu
kỳ thì buồng trứng phải phục hồi cả hai chức năng nội tiết (tiết hormon) và
ngoại tiết (rụng trứng). Sau khi đẻ chu kỳ động dục và rụng trứng không xảy
ra ngay. Tuy nhiên, buồng trứng không phải không hoạt động mà các sóng
noãn bao vẫn hình thành.
Thời kỳ tạm ngừng chu kỳ này chủ yếu là do các cơ chế nội tiết điều
hoà sự phát triển của noãn bao, do đó động dục và rụng trứng còn chưa được
phục hồi. Trong thời kỳ này tần số phân tiết LH chưa đủ lớn để gây ra giai
đoạn phát triển cuối cùng của noãn bao. Việc ức chế phân tiết LH từ thời kỳ
mang thai cùng với tác dụng ức chế của việc bú sữa đã gây ra sự giảm phân
tiết LH ở giai đoạn này. Khi các hoạt động thần kinh thể dịch được phục hồi
do sự thay đổi các yếu tố nội và ngoại cảnh thì sóng LH sẽ được phục hồi lại
và giai đoạn phát triển cuối cùng của noãn bao sẽ xảy ra dẫn đến động dục
Chu kỳ động dục (ngày) 21 17-24
Thời gian động dục (giờ) 30 18-48
Thời gian chịu đực (giờ) 15 12-18
Thời gian trứng rụng (sau kết thúc chịu đực) (giờ) 12-14 6-18
Thời gian phối giống tính từ khi động dục (giờ) 12-24 6-30
Thời gian mang thai (ngày) 280-285 252-310
16
Thời gian động dục lại sau đẻ (ngày) 60-90 21-150
Thời gian phối giống lại sau đẻ (ngày) 60-90 21-180
(Cẩm nang chăn nuôi gia súc-gia cầm-Hội chăn nuôi Việt Nam-NXBNN)
2.1.2. Một số nguyên nhân chủ yếu gây hội chứng rối loạn sinh sản ở bò
cái
2.1.2.1. Bệnh ở cơ quan sinh dục cái
Một gia súc cái được đánh giá có khả năng sinh sản tốt trước hết phải
kể đến sự nguyên vẹn và hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục
(Settergreen, 1986 [61]). Khi một bộ phận bất kỳ của cơ quan sinh dục cái
bị bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc (Youssef,
1997 [35]).
Chẩn đoán, phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh ở cơ quan sinh dục
cái là việc làm cần thiết góp phần quyết định sự thành công của kỹ thuật thụ
tinh nhân tạo (Youssef 1997 [35], Hashem 1980 [52]).
Trên thế giới vấn đề bệnh sinh sản ở gia súc đã và đang được nghiên
cứu một cách toàn diện. Hàng năm các chương trình đào tạo của quốc tế về
sinh sản của gia súc thường xuyên được tổ chức tại trường Đại học khoa
nông nghiệp Appsala (Thụy Điển), Trung tâm Khoa học quốc tế về Nông
nghiệp Cairo (Ai Cập). Trong nội dung của các khoá đào tạo này thì vấn đề
về phương pháp chẩn đoán phát hiện và điều trị các bệnh về sinh sản luôn là
một nội dung chính.
Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y như Đặng Đình Tín (1985)
[26], Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) [14]; Huỳnh Văn