ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia Sinensis (L) Okuntze) là cây công nghiệp dài ngày và được
coi là cây truyền thống từ lâu đời của nhiều quốc gia Châu Á. Theo nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học, chè là thức uống có nhiều giá trị nhất, hiệu quả nhất, tác dụng
lâu dài nhất. Nước chè có tác dụng rất tốt đối với cơ thể con người. Nó có khả năng
kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh
mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc và
giảm được mệt mỏi sau lao động. Chè là thức uống lí tưởng có giá trị kinh tế cao và
được coi là đồ uống của thế kỷ 21.
Trong tổng số 20 nước trồng và chế biến chè xuất khẩu thì Việt Nam đang
đứng hàng thứ 5 về diện tích và thứ 8 về sản lượng và xuất khẩu. Sản phẩm chè Việt
Nam có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện nay, để nâng cao giá bán của
sản phẩm chè Việt Nam, con đường nhanh và hiệu quả là phát triển các giống chè
mới có năng suất cao, chất lượng tốt thay thế cho các vườn chè giống cũ kém chất
lượng. Tuy nhiên, các giống chè tốt, ngoài đặc điểm có năng suất cao, phẩm chất tốt
cần phải có khả năng nhân giống vô tính tốt. Bởi vì, chè là cây giao phấn, nếu nhân
giống bằng hạt thì thế hệ sau sẽ bị phân ly dẫn đến năng suất và chất lượng giảm. Chỉ
có con đường nhân giống vô tính mới có thể giữ nguyên được tính trạng của cây mẹ
ban đầu. Trong nhân giống chè bằng phương pháp vô tính, thì phương pháp nhân
giống bằng giâm cành là phổ biến nhất, dễ làm, chi phí thấp, hệ số nhân cao.
Hai giống chè mới Phúc Vân Tiên và Shan Chất Tiền đang được ngành chè có
chủ trương phát triển rộng trong những năm tới. Việc tìm kiếm các giải pháp nhằm
tăng khả năng nhân giống vô tính bằng giâm cành, tăng tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn
của 2 giống chè này là rất cần thiết. Phân bón Agrodream là phân bón có chất lượng,
có đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng, đồng thời cây con dễ hấp thụ. Vì vậy
ở giai đoạn cây tăng trưởng, bón phân Agrodream sẽ kích thích cây sinh trưởng và
phát triển nhanh. Chính vì vậy, việc tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng chế
phẩm phân bón hữu cơ Agrodream đến khả năng nhân giống vô tính bằng giâm
cành giống Shan Chất Tiền và Phúc Vân Tiên tại Phú Hộ” là rất cần thiết.
1
hương của cây chè, song sự hình thành ngành chè được tính từ khi có các đồn điền do
người Pháp xây dựng từ năm 1890.
Uống chè là tập quán lâu đời ở Việt Nam, có thể xem như một nét văn hoá của
người Việt Nam.Với dân số hơn 80 triệu người và tập quán uống trà lâu đời, Việt
Nam là thị trường còn rất nhiều tiềm năng của ngành chè. Cùng với việc mở rộng thị
trường tiêu thụ nội địa, việc phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu chè của Việt
Nam là hết sức quan trọng, vừa thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ hợp tác với các
nước, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành chè.
Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu “CheViet” đã được đăng ký bảo hộ tại 70 thị
trường quốc gia và khu vực.
1.2. Nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành
3
Cơ sở khoa học của phương pháp giâm cành:
Đối với thực vật nói chung, cây chè nói riêng để duy trì nòi giống của mình
chúng đều phải thông qua cơ quan sinh sản, hoặc chúng có khả năng tái sinh từ các
bộ phận của các cơ quan sinh dưỡng như lá, chồi rễ, thân Nếu đưa các bộ phận của
chúng vào môi trường thích hợp nó sẽ phát triển thành rễ, mầm và hình thành cây
con.
Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá (cơ
quan dinh dưỡng) để tái sinh ra cây chè mới. Phiến lá của hom chè là cơ quan để
quang hợp tạo ra những chất dinh dưỡng nuôi hom và tái sinh cây, lá có vai trò quan
trọng trong việc tạo thành cây chè. Do đó lá không thể bị dập nát, phải sạch sâu bệnh.
Để tạo thành cây chè hoàn chỉnh và sinh trưởng tốt trong vườn ươm, đủ tiêu
chuẩn đưa ra trồng trên nương nó phụ thuộc nhiều vào chất lượng hom giống, đất
trong bầu, chế độ chiếu sáng, chế độ chăm sóc và phân bón cho vườn ươm. Từ vết cắt
hom chè sau khi giâm cành xuống đất sẽ hình thành màng mộc thiêm để chống sự
xâm nhập của vi sinh vật, dần dần tạo thành mô sẹo và từ đó mọc ra rễ đầu tiên, mầm
nách của hom chè cũng được phát triển từng bước cùng với sự phát triển của bộ rễ,
đầu tiên là lá vảy ốc mở, sau đó đến các lá cá và lá thật để tạo thành cây chè hoàn
các nước trồng chè trên thế giới. Ở nước ta chè cành cũng đang dần thay thế các
giống chè hạt năng suất thấp, khả năng thành công của phương pháp này tương đối
cao [5]. Tuy nhiên để trồng chè bằng cành giâm thành công cần phải lưu ý một số vấn
đề là: tùy theo giống và chất lượng hom giống mà có kỹ thuật tác động phù hợp.
1.3.2.2. Tình hình sử dụng phân bón và chế phẩm phân bón trong giâm cành chè
Phương pháp nhân giống vô tính bằng giâm cành hiện nay đang được áp dụng
rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả của phương pháp
giâm cành người ta đã sử dụng những dòng tốt để nhân giống, đồng thời tác động các
biện pháp kỹ thuật để nâng cao điều kiện vườn ươm, sử dụng các hóa chất kích thích
làm tăng sức sống cho cây con. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều những công trình
nghiên cứu về các chế phẩm phân bón hữu cơ có tác dụng kích thích sinh trưởng của
cây con trong vườn ươm; hơn nữa các chất kích thích, chế phẩm không đa dạng; chưa
có công trình nghiên cứu nào về ảnh hưởng của chế phẩm Agrodream đến giâm cành
chè, một loại chế phẩm phân bón mới có tác dụng làm tăng năng suất và chất lượng
của cây chè.
5
PHẦN II
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Các giống chè sử dụng để nghiên cứu
* Giống chè Shan Chất Tiền đã giâm được 3 tháng.
* Giống chè Phúc Vân Tiên đã giâm được 3 tháng.
2.1.2 Chế phẩm sử dụng
Phân bón Agrodream: là loại phân bón do công ty Cổ phần kỹ thuật môi trường
(ETC) nghiên cứu tạo ra gồm 3 loại: Agro Dream C; Agro Dream D và Agro Dream
M theo công nghệ thủy phân protein bằng enzyme ở nhiệt độ thấp và bổ sung các chất
dinh dưỡng đa lượng bao gồm urê, KOH, H
3
PO
4
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón Agrodream đến khả năng tăng trưởng
sinh khối của cây con trong vườn ươm.
- Nghiên cứu tình hình sâu, bệnh hại chính trong vườn ươm.
2.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi
- Chiều cao cây.
- Số lá trên cây.
- Đường kính thân.
- Số rễ.
- Trọng lượng rễ.
- Tỷ lệ trên mặt đất so với phần dưới mặt đất.
- Sinh khối cây con trong vườn ươm.
- Sâu bệnh hại.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm và công thức thí nghiệm
- Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, mỗi giống (Shan Chất
Tiền và Phúc Vân Tiên) thực hiện 4 công thức 3 lần nhắc lại. Diện tích mỗi công thức
là 3m
2
(diện tích 1 lần nhắc của 1 công thức là 1m
2
).
- Các công thức :
CT1 : Bón NPK theo qui trình + Phun 10 ml Agrodream/ 1lít nước.
CT2 : Bón NPK theo qui trình + Phun 15 ml Agrodream/ 1lít nước.
CT3 : Bón NPK theo qui trình + Phun 20 ml Agrodream/ 1lít nước.
CT4 (đ/c): Bón NPK theo qui trình + Phun lượng nước như các công thức
khác.
Trong đó bón NPK theo qui trình :
7
Lượng bón phân cho vườn ươm (g/m
* Cách lấy mẫu: chọn 03 bầu đại diện cho công thức thí nghiệm, tiến hành tách
bỏ túi bầu P.E trong chậu nước (để không làm đứt rễ), rửa sạch mẫu. Dùng dao sắc
tách toàn bộ rễ ra khỏi thân chính. Để riêng từng mẫu vào những túi nilon có ghi rõ
từng công thức.
* Cách đo đếm:
+ Số rễ: sau khi lấy mẫu ta tiến hành đếm số rễ cấp 1 (rễ mọc ra từ thân chính)
và rễ cấp 2 (rễ mọc ra từ rễ cấp 1).
+ Khối lượng rễ:
Cân tươi: sau khi để mẫu ráo nước, dùng cân chính xác 0,1g để cân chung cho
1 lần nhắc của 1 công thức (03 bầu).
Cân khô: sau khi tiến hành cân khô xong ta tiến hành sấy rễ đến khối lượng
không đổi. Dùng cân chính xác 0,1g tiến hành cân nhanh ngay tại nơi sấy, cân mẫu
nào (1 lần nhắc của 1 công thức là 1 mẫu gồm 03 bầu) thì lấy mẫu đó ra, những mẫu
khác vẫn để trong máy sấy.
2.4.2.3. Phương pháp theo dõi tỷ lệ trên mặt đất và dưới mặt đất (K)
* Thời điểm lấy mẫu: Giống với theo dõi rễ.
* Cách lấy mẫu: cũng giống lấy mẫu rễ song ta không cắt rời rễ, mà tiến hành
tách riêng mẫu (mỗi 1 lần nhắc của 1 công thức gồm 03 bầu là một mẫu) thành hai
phần: phần trên mặt đất (tính từ phía trên cùng của cổ rễ tới đỉnh sinh trưởng của cây)
và dưới mặt đất (phần còn lại của mẫu).
* Cách đo đếm: ta cũng tiến hành cân tươi và cân khô (sấy mẫu đến khối lượng
không đổi) đối với hai phần . Khi đó ta xác định tỷ lệ trên mặt đất và dưới mặt đất
như sau:
K =
ÊtmÆt d íi l îng khèi
ÊtmÆt ntrª l îng khèi
đ
đ
2.4.2.4. Phương pháp theo dõi sinh khối cây con trong vườn ươm
* Thời điểm lấy mẫu: giống với theo dõi rễ.
2 0,07 0,07
*
0,07 0,15
3 0,08
*
0,09
*
0,10
*
0,16
*
4 (đ/c) 0,06 0,06 0,07 0,13
LSD
0.05
0,02 0,01 0,02 0,03
CV% 11,7 9,6 11,2 11,9
Qua dẫn liệu ở bảng 3.1 ta thấy phân bón Agrodream có ảnh hưởng đến tốc độ
tăng trưởng chiều cao cây của giống Shan Chất Tiền :
Sau khi phun chế phẩm 15 ngày, thì tốc độ tăng trưởng chiều cao ở CT1 (10ml
chế phẩm/ 1 lít nước) đạt 0,07 cm/ngày, cao hơn đối chứng (CT4 =0,06 cm /ngày) là
0,01 cm/ ngày; khi sử dụng Agrodream với liều lượng ở CT2 (15ml chế phẩm/ 1lít
nước), thì tốc độ tăng chiều cao cây cũng đạt 0,07 cm/ngày, cao hơn đối chứng 0,01
cm/ ngày; ở CT3 (20ml chế phẩm/ 1lít nước) thì tốc độ tăng trưởng chiều cao đạt
0,08 cm/ngày, cao hơn đối chứng 0,02 cm/ngày. Như vậy, có thể thấy tốc độ tăng
trưởng chiều cao cây ở CT3 đạt cao nhất và sai khác có ý nghĩa so sánh với công thức
đối chứng với CV%= 11,7% (LSD
0.05
= 0,02).
11
Sau phun chế phẩm 45 ngày thì tốc độ tăng trưởng chiều cao của CT1 và CT2
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng Agrodream đến tốc độ tăng trưởng
chiều cao cây giống chè Phúc Vân Tiên
(đơn vị: cm/ngày)
Sau phun
CT
15 ngày 45 ngày 75 ngày 105 ngày
1 0,07 0,07 0,09 0,25
2 0,07 0,09
*
0,11
*
0,27
*
3 0,08
*
0,11
*
0,14
*
0,28
*
4 (đ/c) 0,07 0,07 0,08 0,23
LSD
0.05
0.01 0,02 0,02 0,04
CV% 3,90 10,30 7,80 8,30
Qua bảng 3.3 ta nhận thấy tốc độ tăng chiều cao cây giống Phúc Vân Tiên tăng
dần theo quá trình phát triển của cây:
Giai đoạn đầu sau khi phun Agrodream 15 ngày: thì tốc độ tăng chiều cao cây
giữa các công thức khá đồng đều. Tốc độ tăng chiều cao cây sau khi phun chế phẩm
Nghiên cứu ảnh hưởng của Agrodream đến đường kính thân giống Shan Chất
Tiền kết quả được ghi nhận ở bảng 3.5:
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của liều lượng Agrodream tới đường kính thân
giống Shan Chất Tiền
(đơn vị: mm)
Chỉ tiêu
CT
Đường kính thân
Ngày 01/05
So với đối chứng
1 2,52 0,14
2 2,50 0,12
3 2,61 0,23
4(đ/c) 2,38
LSD
0.05
0,31
CV% 6,20
Qua bảng 3.5, ta thấy nhìn chung mức độ biến động của đường kính thân của
giống Shan Chất Tiền là không lớn và khá đồng đều giữa các công thức. Xét tại thời
điểm cuối cùng của thí nghiệm ta thấy đường kính thân ở CT3 đạt cao nhất 2,61 mm,
cao hơn đối chứng 0,23 mm, tiếp đến là CT1 đạt 2,52 mm cao hơn đối chứng 0,14
mm, CT2 đạt 2,50 mm cao hơn đối chứng là 0,12 mm. Như vậy, không có công thức
nào có đường kính thân có ý nghĩa sai khác so với đối chứng, tuy nhiên kết quả ở
bảng trên cho thấy xu hướng đường kính thân ở công thức 3 lớn hơn công thức đối
chứng.
14
3.1.2.2. Đối với giống chè Phúc Vân Tiên
Nghiên cứu ảnh hưởng của Agrodream tới đường kính thân giống chè Phúc
Vân Tiên thu được kết quả sau:
giống chè Shan Chất Tiền
(đơn vị: lá/cây)
Sau phun
CT
15 ngày 45 ngày 75 ngày 105 ngày
1 3,33 4,36 5,83 7,40
2 2,97 4,40 5,80 7,47
3 2,97 4,37 6,37 7,87
4(đ/c) 2,77 4,07 5,73 7,15
Qua dẫn liệu ở bảng 3.9 ta thấy số lá/cây của giống chè Shan Chất Tiền tăng
dần theo quá trình sinh trưởng. Số lá giữa các công thức biến động theo hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu khi mới phun chế phẩm tử 15 – 45 ngày thì số lá/cây tăng chậm
và khá đồng đều giữa các công thức, điều này phù hợp qui luật phát triển của cây,
giai đoạn này phát triển phần dưới mặt đất nhiều hơn… Giai đoạn sau phun từ 45 –
75 ngày thì số lá/cây bắt đầu tăng. Trong các công thức thì ta thấy: CT3 là 4,37
lá/cây, ở CT2 số đạt 4,40 lá/cây, CT1 số lá/cây là 4,36 lá, số lá/cây ở CT4 là 4,07
lá/cây
3.1.3.2. Đối với giống Phúc Vân Tiên
Qua nghiên cứu ta có kết quả như sau:
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của Agrodream đến khả năng ra lá của giống chè Phúc
Vân Tiên (đơn vị: lá/cây).
Sau phun
CT
15 ngày 45 ngày 75 ngày 105 ngày
1 6,23 8,07 10,73 13,57
2 6,27 8,13 10,93 14,40
3 6,73 8,93 11,57 15,37
4 (đ/c) 5,07 7,23 9,36 13,13
Qua dẫn liệu ở bảng 3.10 ta thấy số lá/cây của giống Phúc Vân Tiên tăng theo
quá trình phát triển của cây. Giai đoạn đầu tốc độ ra lá thấp hơn giai đoạn sau: sau 15
± 0,03
3 0,41* ± 0,06 0,12
± 0,02
4 (đ/c) 0,34 ± 0,04 0,11 ± 0,01
LSD
0.05
0,07 0,03
CV% 9,50 11,70
Qua bảng 3.11 ta thấy trọng lượng rễ của giống Shan Chất Tiền giữa các công
thức là khá đồng đều, xét trọng lượng rễ tươi thì CT2 và CT3 có trọng lượng rễ đạt
cao nhất 0,41g cao hơn đối chứng 0,07g sai khác có ý nghĩa so sánh với đối chứng,
CT1 có trọng lượng rễ đạt 0,4g cao hơn đối chứng 0,06g. Trọng lượng rễ khô cao
nhất là CT2 đạt 0,15g, tiếp đến là CT3 đạt 0,12g , CT4 đạt 0,11g, thấp nhất là CT1
đạt 0,08g.
17
3.2.1.2. Đối với giống Phúc Vân Tiên
Nghiên cứu trọng lượng rễ giống chè Phúc Vân Tiên dưới ảnh hưởng của
Agrodream, thu được kết quả như sau:
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của liều lượng Agrodream đến trọng lượng rễ
giống Phúc Vân Tiên
(đơn vị: g)
Chỉ tiêu
CT
Trọng lượng rễ (g)
Tươi Khô
1 0,70
± 0,09 0,33
*
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của liều lượng Agrodream đến số lượng rễ của
giống chè Shan Chất Tiền
(đơn vị: rễ/cây)
Chỉ tiêu
CT
Số rễ cấp 1 Số rễ cấp 2
1
14,92 157,88
2
15,08 130,38
3
17,83 166,50
4(đ/c)
12,92
141,29
Nhìn vào bảng 3.13 ta nhận thấy:
Có thể thấy rằng sử dụng phân bón Agrodream với liều lượng sử dụng 20ml
chế phẩm/1lít nước có khả năng kích thích sự phát triển của bộ rễ, phát triển cả rễ cấp
1 và rễ cấp 2. Số rễ cấp 1 ở CT3 đạt cao nhất 17,83 rễ/cây, tiếp đến là CT2 trung bình
có 15,08 rễ/cây, CT1 đạt 14,92 rễ/cây, thấp nhất là CT4 có 12,92 rễ/cây. Số rễ cấp 2 ở
CT3 là cao nhất 166,5 rễ/cây, thấp nhất là CT2 có 130,38 rễ/cây.
3.2.2.2. Đối với giống Phúc Vân Tiên
Qua nghiên cứu ảnh hưởng của Agrodream đến số rễ giống chè Phúc Vân Tiên
ta có bảng số liệu sau:
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của liều lượng Agrodream đến số lượng rễ của
giống chè Phúc Vân Tiên
(đơn vị: rễ/cây)
Chỉ tiêu
CT
Số rễ cấp 1 Số rễ cấp 2
Chỉ tiêu
CT
Sinh khối K( KLTMĐ/KLDMĐ)
Tươi Khô Tươi Khô
1 1,56 ± 0,09 0,60 ± 0,05 1,00 0,93
2 1,64 ± 0,12 0,67± 0,07 1,31 1,14
3 1,75
*
± 0,11 0, 74
*
± 0,06 1,04 1,02
4 (đ/c) 1,50 ± 0,12 0,64 ±0,07 0,94 0,83
LSD
0.05
0,15 0,07 0,27 0,20
CV% 4,60 5,70 12,40 10,40
Nhìn vào số liệu bảng 3.15 ta thấy:
CT3 tích lũy được là nhiều nhất vật chất khô nhiều nhất 0,74 g cao hơn công
thức đối chứng (CT4 sinh khối khô đạt 0,64 g) 0,1g sai khác có ý nghĩa sao sánh với
công thức đối chứng (với LSD
0.05
= 0,07; CV% = 5,7%), tiếp đó là CT2 đạt 0,67 g cao
hơn đối chứng 0,03 g nhưng không có sự sai khác so với đối chứng, CT1 sinh khối
khô đạt 0,60 g thấp hơn công thức đối chứng. Sinh khối cân tươi ta thấy có sự sai
khác giữa CT3 và các công thức khác.
20
Khi nghiên cứu về hệ số K, các tác giả đã đi đến thống nhất: hệ số K của cây
con trong vườn ươm xung quanh 1 là tốt nhất, cây phát triển cân đối, phát triển tốt
trong thời kỳ chè kiến thiết cơ bản và chè kinh doanh. Nhìn vào bảng số liệu ta thấy
có 2 công thức có hệ số K gần 1 nhất là CT1 (k=1,00) và CT3 (K = 1,04), điều này có
hiệu quả tốt, làm cây sinh trưởng khỏe mạnh.
Nhìn vào bảng trên tỷ lệ TMĐ/DMĐ >1, chứng tỏ bộ rễ của giống Phúc Vân
Tiên phát triển yếu hơn so với thân. Khi tác động Agrodream thì không làm thay đổi
21
tỷ lệ này. Cho nên đối với giống chè Phúc Vân Tiên phải có các biện pháp làm tăng
sinh trưởng bộ rễ, giảm phát triển thân để cây phát triển cân đối, khỏe mạnh.
3.4. Nghiên cứu tình hình sâu, bệnh chính trong vườn ươm
Chè con trong giai đoạn vườn ươm còn rất yếu, chưa có sức kháng sâu bệnh,
do đó cần tìm hiểu một số loài sâu, bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời.
Qua quan sát tình hình sâu, bệnh hại được kết quả ghi nhận ở 2 bảng sau:
Bảng 3.17. Tình hình sâu, bệnh hại chính ở các công thức trên
giống Shan Chất Tiền
CT Mức độ hại
Sâu, bệnh hại
Mức độ hại (định tính)
Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5
1
Rầy xanh + + ++ +
Bọ xít muỗi + + + +
Bệnh phồng lá + + + +
2
Rầy xanh + + ++ +
Rệp sáp + + + +
Bọ xít muỗi + + + +
3
Rầy xanh + + ++ +
Bọ xít muỗi + + + +
Bệnh đốm nâu + + + +
4(đ/c)
Rầy xanh + + ++ +
Hại trung bình: ++
Nặng: +++
Có thể thấy tình hình sâu bệnh hại trên hai giống chè Shan Chất Tiền và Phúc
Vân Tiên không diễn biến phức tạp, chủ yếu gây hại ở mức nhẹ, không ảnh hưởng
nhiều đến sinh trưởng của cây con. Tuy nhiên, trong tháng 4 do thời gian nắng ấm
nên các loại sâu bệnh có xu hướng phát triển hơn, do vậy cần có biện pháp phòng trừ
kịp thời. Có thể phun Vi ben -C và Ben lát - C + một tháng phun booc đô 1 lần + ngắt
toàn bộ lá sâu bệnh mang xa khu vực vườn ươm.
23
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
* Kết luận
Qua nghiên cứu ảnh hưởng của Agrodream đến khả năng nhân giống bằng
giâm cành hai giống chè Shan Chất Tiền và Phúc Vân Tiên, chúng tôi có thể sơ bộ
kết luận như sau:
1. Sử dụng phân bón Agrodream có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây, trong đó ở liều lượng sử dụng 20ml chế phẩm/ 1lít pha trong 1 lít nước
(CT3) phun trên lá thì có hiệu quả cao nhất, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây khi sử
dụng liều lượng này cao hơn so với đối chứng: tốc độ tăng trưởng chiều cao ở CT3
đạt 0,16 cm/ngày (sau phun chế phẩm 105 ngày) cao hơn đối chứng 0,03 cm/ngày đối
với giống Shan Chất Tiền; đối với giống Phúc Vân Tiên thì tốc độ tăng trưởng chiều
cao khi sử dụng ở liều lượng này sau 105 ngày đạt 0,28 cm/ngày, cao hơn đối chứng
0,05 cm/ngày.
Đối với đường kính thân, phân bón Agrodream không có ảnh hưởng rõ rệt tới
phát triển đường kính thân nhưng CT3 có xu hướng tác động làm tăng đường kính
thân.
2. Sử dụng chế phẩm Agrodream giúp tăng tốc độ ra lá đối với 2 giống chè,
đặc biệt có tác động rõ rệt khi cây gần cuối giai đoạn vườn ươm, giúp cây có bộ lá
khỏe mạnh. Khi phun Agrodream ở liều lượng sử dụng 20 ml chế phẩm/1lít nước, có
tác dụng làm tăng khả năng ra lá của 2 giống chè: giống Shan Chất Tiền có số lá tại
thời điểm kết thúc thí nghiệm ở CT3 là 7,87 lá/cây, cao hơn đối chứng 0,07 lá/cây.