TÌM HIỂU về CÔNG tác tổ CHỨC bộ máy QUẢN TRỊ của CÔNG TY TNHH DV CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN cầu - Pdf 26

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………

BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA QUAN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP
MÔN QUẢN TRỊ HỌC
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN TRỊ CỦA CÔNG TY TNHH DV CHUỖI CUNG
ỨNG TOÀN CẦU
GV HƯỚNG DẪN: CÔ TIÊU VÂN TRANG
SV THỰC HIỆN : ĐỊNH MINH TRUNG

TP.HỒ CHÍ MINH, NGÀY…….THÁNG…….NĂM 2012

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ
CHỨC BỘ MÁY QUẢN TRỊ

1.1. KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC CỦA CÔNG
TÁC TỔ CHỨC BỘ MÁY TRONG QUẢN TRỊ.
1.1.1.Bản chất, vai trò và cơ cấu tổ chức.
1.1.1.1. Bản chất của tổ chức là gì?
1.1.1.2. Vai trò.
1.1.1.3. Cơ cấu tổ chức quản trị.
1.1.2. Mục tiêu của tổ chức.
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN TRỊ
1.2.1. Nguyên tắc của tổ chức.
1.2.2. Phương pháp phân chia bộ phận trong cơ cấu tổ chức
1.2.2.1. Phân chia theo tầm hạn quản trị.
1.2.2.2. Phân chia theo thời gian.
1.2.2.3. Phân chia theo chức năng.
1.2.2.4. Phân chia theo lãnh thổ.
1.2.2.5. Phân chia theo sản phẩm.
1.2.2.6. Phân chia theo khách hàng.
1.2.2.7. Phân theo quy trình hay thiết bị.

1.3 CÁC KIỂU CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN TRỊ
1.3.1. Cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến.
1.3.2. Cơ cấu tổ chức quản trị theo chức năng.
1.3.3. Cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến – chức năng.

3.1.1. Nhược điểm.
3.2. Đề xuất.

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc sống luôn biến chuyển phát triển không ngừng, nền kinh tế thế giới ngày
càng đi sâu vào hội nhập và trở nên toàn cầu hóa. Cạnh tranh đã ngày càng trở nên
mạnh mẽ, ngày càng đòi hỏi sự vận động sáng tạo nhiều hơn nữa thay vì chậm
chạp di chuyển. Do đó hằng ngày ở mọi nơi trên khắp thế giới các nhà quản trị,
những người nhận lãnh nhiệm vụ đi đầu đưa ra đường lối đễ dẫn dắt nền kinh tế,
luôn vắt óc suy nghĩ sáng tạo tiềm tòi những con đường để họ luôn có được ưu thế
cạnh tranh và phát triển để bắt kịp sự thay đổi. Như chúng ta đã biết, đất nước ta
đang trong gaii đoạn quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội xây dựng cơ sở vật chất cho
Xã Hội Chủ Nghĩa. Để tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải thực hiện cong
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Để doanh nghiệp có một cơ cấu kinh tế hợp lý,
có sức mạnh và hoạt động có hiệu quả thì việc xây dựng một bộ máy quản lý lãnh
đạo năng động, hợp lý là hết sức quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải có một trình độ
kến thức cao, một các nhìn đúng đắn về vai trò của công tác quản lý trong từng
doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay, với những yêu cầu của thời kỳ mới: Thời kỳ phát triển
nền kinh tế hàng hóa có sự cạnh tranh gay gắt, để cho các doanh nghiệp có thể
phát triển và tồn tại thì bộ máy lãnh đạo phải đủ mạnh, phải năng động. Muốn vậy,
công tác xây đựng một cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp phải được chú trọng
một cách thích đáng, vấn đề này không chỉ đặt ra cho riêng một doanh nghiệp,mà
nó là vấn đề chung của toàn xã hội.

Một vấn đề nữa đáng chú ý là: Trong một cơ cấu kinh tế, ở mỗi một thành phần
kinh tế, mỗi loải hình doanh nghiệp lại có những đặc điểm khác nhau. Do đó việc
xây dựng một cơ cấu quản lý, điều hành cũng phải khác nhau để phù hợp với tính
chất và trình độ sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.

bé nhỏ để tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
ở công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
và hệ thống hóa.
• Phương pháp nghiên cứu cụ thể: nghiên cứu các thông tin sơ cấp và
thứ cấp, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, khảo sát điều tra thực
tế và khảo cứu kinh nghiệm.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài

• Nghiên cứu công tác tổ chức bộ máy quản lý tại công ty
TNHH Dịch Vụ chuỗi cung ứng Toàn Cầu.
• Thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2009-2011.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC BỘ
MÁY
1.1. KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC CỦA
CÔNG TÁC TỔ CHỨC
1.1.1. Bản chất, vai trò và cơ cấu tổ chức

Trong các hoạt động về quản trị thì các quyết định là trung tâm, các hoạt động về
hoạch định là để thiệt lập mục tiêu và kế hoạch thực hiện nó. Tuy nhiên lien kết
các bộ phận, các nguồn lực trong một thể thống nhất để thực hiện các chiến lược,
các kế hoạch đã đề ra không gì khác hơn đó là công tác tổ chức.
Mặt khác muốn cho công việc hàng ngày diễn ra thuận buồm xuôi gió, được
chuyên môn hóa và có hiệu quả cao chúng ta cần có một tổ chức mạnh. Như vậy
tổ chức là một hoạt động cần thiết tất yếu để xây dựng cơ cấu, guồng máy nhằm
đảm bảo cho các hoạt động quản trị đạt được mục tiêu của mình.
Tổ chức cùng một việc lựa chọn những công việc, những nhóm và giao phó
mỗi nhóm có một người chỉ huy với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. trách nhiệm

nhiều quan niệm của các tác giả khác nữa nhưng điều quan trọng là vấn đề chúng
ta cần xem xét tổ chức từ gốc độ của khoa học quản trị, có nghĩa là chúng ta tập
trung nghiên cứu những phạm trù, những quy luật và tính chất quy luật về tổ chức
và cách áp dụng chúng vào hoàn cảnh thực tiễn ở mỗi doanh nghiệp. Trên phương
tiện này chúng ta cần chia tổ chức thành ba lĩnh vực, đó là những hoạt động
chuyên về xây dựng guồng máy, cơ chế của một tổ chức. Lĩnh vực thứ hai là về tổ
chức nhân sự và lĩnh vực thứ ba là tổ chức công việc, ví dụ như tổ chức thực hiện
kế hoạch sản xuất. Lĩnh vực thứ nhất thường giải quyết các vấn đề về cơ cấu tổ
chức, lĩnh vực thứ hai về tổ chức cán bộ và lĩnh vực thứ ba thường là tổ chức giải
quyế các vấn đề về công việc, việc làm ở mỗi đơn vị. Trong chương trình này
chúng ta sẽ làn lượt nghiên cứu cả ba lĩnh vực nói trên.

1.1.1.2. Vai trò:
- Người ta thường nói rằng xác định được vấn đề là quan trọng, nhưng tổ
chức giải quyết vấn đề còn quan trọng hơn nhiều. Điều này lại càng đúng khi mà
con người không phải là máy móc và hoạt động có tổ chức của họ là yếu tố quyết
định cho mọi sự thành công. Có thể nói khộng ngoa rằng mọi quyết định, mọi kế
hoạch, mọi quá trình lãnh đạo và kiểm soát sẽ không trở thành hiện thực hoặc hoặc
không có hiệu quả nếu không biết cách tổ chức khoa học việc thực hiện nó. Tổ
chức khoa học trong việc xây dựng guồng máy sẽ đảm bảo nề nếp, quy củ, kỷ
cương, tính tổ chức, tính kỷ luật, tính khoa học, tác phong công tác, sự đoàn kết
nhất trí, phát huy được hết năng lực sở trường của mỗi cá nhân và mỗi bộ phận
trong đơn vị. Ngược lại khi bộ máy tổ chức không khoa học, không mang tính hệ
thống, không đủ năng lực chuyên môn có thể làm cho các hoạt động quản trị kém
hiệu quả, bất nhất, đùn đẩy trách nhiệm, tranh công đổ lỗi, thiếu bản lĩnh, không
quyết đoán, không tận dụng được cơ hội và thời cơ khi nó xuất hiện và lúng túng
bị động khi phải đối phó với các nguy cơ.Không biết cách tổ chức giải quyết các
công việc một cách khoa học có thể làm hỏng công việc, lãng phí nguồn tài
nguyên (nhân tài, vật lực v.v…), đánh mất cơ hội, làm cho tổ chức bị suy yếu
v.v…

- Tổ chức cơ cấu;

- Tổ chức công việc;
- Tổ chức cán bộ;
- Tổ chưc chính thức và phi chính thức;
- Tổ chức chiến lược và tổ chức tác nghiệp;
- Tổ chức ngắn hạn và tổ chức dài hạn.
- Tổ chức nhất thời và tổ chức cố định thường xuyên.
Thực hiện công tác tổ chức, trong đơn vị tổ chức sẽ hình thành bộ khung, đảm bảo
cho cơ chế quản trị vận hành trong đó và có tác dụng tích cực đối với việc đạt mục
tiêu.
1.1.1.3.Cơ cấu tổ chức quản trị
Cơ cấu tổ chức quản trị: là tổng hợp các bộ phận (hoặc là các khâu) khác nhau,
được chuyên môn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí
theo những cấp nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản trị và phục vụ mục
tiêu chung đã xác định.
Cơ cấu tổ chức quản trị càng hoàn thiện thì quản trị càng tác động một cách hiệu
quả đến sản xuất, kinh doanh, dịch vụ làm gia tăng lợi nhuận. Ngược lại, nếu cơ
cấu tổ chức cồng kềnh, nhiều cấp, nhiều khâu, thiết kế công việc không tương
quan quyền hành, xếp đặt nhân viên không đúng thì nó sẽ trở thành nhân tố kìm
hãm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và giảm lợi nhuận. Vì vậy, việc luôn luôn phát
triển và hoàn thiện những cơ cấu tổ chức quản trị sẽ bảo đảm cho doanh nghiệp
phản ứng nhanh chóng trước những biến động xảy ra trong sản xuất kinh doanh,
tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính, năng lực sản xuất,
lao động v.v…

Ai cũng biết rằng mọi hoạt động quản trị có nhiều người tham gia đều cần có sự
quản lí, Hơn nữa để quản lí lại cần có tổ chức. Quá trình thiết kế và xây dựng tổ
chức từ những bộ phận nhỏ hơn là một hình thức thể hiện của quy luật khách quan
về chuyên môn hóa trong lao động quản trị. Chính sự tồn tại của các bộ phận hoạt

- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ hoàn
thành thực tiễn trong mỗi giai đoạn phát triển của tổ chức.
- Phát huy được tính năng động nhạy bén và tinh thần trách nhiệm của
mỗi cá nhân.
Có 4 yếu tố quan trọng chi phối việc xây dụng cơ cấu tổ chức của một xí nghiệp
hay cơ quan mà nhà quan trị phải quan tâm. Hay nói một cách cụ thể trong tiến
trình xây dựng cơ cấu tổ chức của xí nghiệp hay cơ quan, nhà quản trị phải căn cứ
vào 5 yếu tố sau đây:
(1). Mục tiêu và chiến lược hoạt động của xí nghiệp;
(2). Bối cảnh kinh doanh hay bối cảnh cá tính;
(3). Công nghệ sản xuất hoặc kĩ thuật kinh doanh của xí nghiệp;
(4). Năng lực, trình độ của con người trong xí nghiệp đó;

- Trước hết người ta thấy rằng, cơ cấu tổ chức của một xí nghiệp tùy thuộc vào
chiến lược hay những nhiệm vụ và mục tiêu mà xí nghiệp phải hoàn thành
Chiến lược của một xí nghiệp có ảnh hưởng đến bộ máy tổ chức của xí nghiệp
theo 3 lí do sau đây:
1). Chiến lược xác định các nhiệm vụ của xí nghiệp và căn cứ vào các nhiệm vụ
đó mà xây dựng bộ máy.
2). Chiến lược quyết định loại công nghệ kĩ thuật và con người phù hợp với việc
hoàn thành các nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức sẽ phải được thiết kế theo loại cọng
nghệ được sử dụng cũng như theo những đặc điểm của con người trong xí nghiệp
đó.
3). Chiến lược được xác định hoàn cảnh môi trường trong đó xí nghiệp sẽ hoạt
động và hoàn cảnh mỗi trường này sẽ ảnh hưỡng đến việc thiết kế bộ má tổ chức.
- Yếu tố thứ hai có ảnh hưởng đến việc thiết kế bộ máy tổ chức của xí nghiệp là
hoàn cảnh bên ngoài.
Hoàn cảnh bên ngoài của một công ty có thề là một trong ba loại hình: ổn định,
thay đổi và xáo trộn. Một hoàn cảnh ổn định là một hoàn cảnh không có hay ít có
những thay đổi đột biến ít có sản phẩm mới, nhu cầu thị trường ít thăng trầm, luật

dụng các nguyên tắc tổ chức (ví dụ, tầm hạn quản trị). Các cuộc điều tra cho thấy
có quan hệ nào giữa hai yếu tố trên, nhưng lại tìm thấy mối quan hệ giữa cơ cấu tổ
chức của xí nghiệp với công nghệ ứng dụng. Woodward đã cho thấy rằng những xí
nghiệp có công nghệ sản xuất quy trình hoạt động phức tạp thường có cơ cấu tổ
chức nhiều cấp bậc, với đặc điệm là mức độ giám sát và phối hợp công việc được
thực hiện ở cường độ cao. Woodward cũng cho thấy rằng tằm hạn quản trị thường
là hẹp ở các xí nghiệp sản xuất thủ công, cung như xí nghiệp có công nghệ tinh vi
và hiện đại. Một đặc điểm thứ ba của mối quan hệ giữa công nghệ và cơ cấu tổ
chức là khi công nghệ trong tổ chức càng tinh vi và hiện đại, thì số lượng viên

chức thư kí văn phòng lại càng tăng để giải quyết các công việc giấy tờ, các công
việc bảo trì v.v…
- Cuối cùng con người trong xí nghiệp cũng là một yếu tố có ảnh
hưởng đến cơ cuấ tổ chức.
Những cá nhân có ảnh hưởng trước hết đối với công tác xây dựng bộ máy tổ chức
là nhà quản trị cấp cao. Sở thích, thói quen, quan niệm riêng của họ thường để dấu
ấn trên cách tổ chức của xí nghiệp mà họ phụ trách.
1.1.2. Mục tiêu của tổ chức
Mục tiêu của công tác tổ chức có một vai trò hết sức quan trọng trong việc định
hướng, hoạch định kiểm soát và ra quyết định trong lĩnh vực này. Trong kinh
doanh chúng ta thường phải trả lời những câu hỏi như: Mục tiêu của việc tổ chức
một hệ thống kênh phân phối trên thị trường mới hoặc mục tiêu của việc tổ chức
xây dựng hệ thống quản trị chất lượng là gì? Một điều rõ ràng là không xác định
được những mục tiêu cơ bản của công tác tổ chức thì không thể đánh giá được
chất lượng, kết quả vả hiệu quả của công tác này.
Mục tiêu của tổ chức là những cái đích cần đạt được trong các hoạt thuộc về chức
năng này. Nhìn chung những mục tiêu cơ bản về mặt tổ chức mà các đơn vị
thường nhắm tới:
- Xây dựng bộ máy quản trị gọn nhẹ và có hiệu lực;
- Xây dựng nề nếp văn hóa của tổ chức lành mạnh;

1.2.2. Phương pháp phân chia bộ phận trong cơ cấu tổ chức
1.2.2.1. Phân chia theo tầm hạn quản trị
Tầm hạn quản trị hay còn gọi là tầm hạn kiểm soát, là khái niệm dùng để chỉ số
lượng nhân viện cấp dưới mà một nhà quản trị có thể điều khiển một cách tốt đẹp
nhất. Khi nói “điều khiển một cách tốt đẹp nhất” chúng ta muốn nói đến việc quản
trị, giao việc, kiểm tra, hướng dẫn, lãnh đạo nhân viên dưới quyền một cách thỏa
đáng, có kết quả. Theo kinh nghiệm quản trị, tầm hạn quản trị tốt nhất cho một nhà
quản trị bình thường, là khoảng 4-8 nhân viên thuộc cấp.
Tuy nhiên, con số này có thể tăng lên đến 12 hay 15 trong trường hợp nhân viên
dưới quyền chỉ làm những hoạt động đơn giản, và rút xuống còn 2-3 người khi
công việc mà cấp dưới trực tiếp của nhà quản trị phải thực hiện là phức tạp.
Về mặt tổ chức, tầm hạn quản trị có liên quan mật thiết đến số lượng các tầng nắc
trung gian trong một xí nghiệp. Ví dụ xí nghiệp có 20 nhân viên, và tầm hạn quản
trị là 20, thì xí nghiệp đó chỉ có 2 cấp: giám đốc và nhân viên. Ngược lại nếu tằm
quản trị trong đó được xác định là 3 (tức là mỗi nhà quản trị chỉ có thể quản trị
được 3 người), thì tổ chức xí nghiệp sẽ gồm đến 4 cấp. Bộ máy tổ chức ít tầng nấc
trung gian được gọi là bộ máy tổ chức thấp. Bộ máy có nhiều tầng nấc trung gian
gọi là bộ máy tổ chức cao.

( Thuật ngữ “cao” và “thấp” ở đây hiểu theo nghĩa dài, ngắn theo chiều cao tương
đối của cơ cấu tổ chức. Không nên hiểu nhầm là trình độ tổ chức cao-thấp và các
nghĩa khác có thể có của các từ này).
1.2.2.2. Phân chia theo thời gian
Một trong những hình thức phân chia bộ phận lâu đời nhất thường được sử dụng
ở cấp thấp trong tổ chức, là việc nhóm gộp các hoạt động theo thời gian (theo ca,
theo kíp). HÌnh thức phân chia này thường áp dụng ở những đơn vị phải hoạt động
liên tục để khai thác công suất máy với hiệu quả cao hơn.
1.2.2.3. Phân chia theo chức năng
Việc nhóm gộp các hoạt động cùng chuyên môn thành các chức năng được sử
dụng khá rộng rãi trong thực tế, ví dụ: trong một xí nghiệp có thể thành lập 4 bộ

chính sự nghiệp. Chương trình đào tạo từ xa của Đại học Mở-Bán Công dành cho
sinh vien không thể đến trường thường xuyên là một ví dụ cho cách thức tổ chức
này.
1.2.2.7. Phân theo quy trình hay thiết bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status