Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
Trang
GVHD: Trần Thanh Tịnh 1 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
Hình 2.1 Lãi suất thực âm những năm 1980
Hình 2.2 Diễn biến lãi suất cho vay và tiền gửi bình quân các năm
Hình 2.3 Trần lãi suất đến lãi suất cơ bản, tự do hóa lãi suất 1998-2002
Hình 2.4 Lãi suất cho vay qua các năm 2001-2004
Hình 2.5 Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước qua các năm
Hình 2.6 Biến động lãi suất 2006-2011
Bảng 2.1 Diễn biến lãi suất điều hành năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước
Bảng 2.2 Diễn biến lãi suất năm 2012-2013
GVHD: Trần Thanh Tịnh 2 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
!"#$%
Nền kinh tế toàn cầu đang có sự biến động như khủng hoảng tài chính, nợ
công ở Mỹ và Châu Âu ít nhiều đều tác động đến Việt Nam. Trong bối cảnh đó,
điều hành và quản lý cơ chế lãi suất được ngân hàng trung ương sử dụng như một
công cụ đắc lực để bình ổn nền kinh tế không chỉ ở Việt Nam mà hầu như ở tất cả
các nước trên thế giới.
Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế có sự tăng trưởng đáng kể từ năm
1982 cho đến nay. Vì thế, nền kinh tế này chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các diễn
- Mục tiêu 2: Vận dụng lý luận và kết quả tìm hiểu để phân tích những thách thức
trên từng giai đoạn điều hành lãi suất của Việt Nam.
- Mục tiêu 3: Đưa ra một số quan điểm về cơ chế lãi suất của Ngân hàng Nhà
nước giúp nâng cao hiệu quả của công cụ lãi suất.
-./0%*%(+)
-./0%0"12**%3
Không gian nghiên cứu của đề tài: Nền kinh tế Việt Nam.
-&./0%0"#4%*%3
- Thời gian thu thập số liệu: được thu thập qua các năm từ 1986-2012.
- Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 23/3/2013 đến hết ngày 19/5/2013.
--./0%0"5%)*
Cụ thể đề tài nghiên cứu các giai đoạn điều hành cơ chế lãi suất của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
GVHD: Trần Thanh Tịnh 4 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
678*9:9*%(+)
678*9:9#)#;9<=>%?)
Đề tài chủ yếu lấy nguồn thông tin từ giáo trình, các báo cáo, luận văn, tạp chí,
Internet, các quan điểm của các chuyên gia kinh tế, các tổ chức có uy tín.
6&78*9:99@#A<=>%?)
- Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh biến động lãi suất qua các
giai đoạn điều hành cơ chế lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng cơ
chế lãi suất và thách thức đang gặp phải.
- Mục tiêu 3: Từ mô tả và phân tích thực trạng, sử dụng phương pháp luận để đưa
ra một số quan điểm về việc điều hành cơ chế lãi suất của Ngân hàng Nhà Nước
Việt Nam và một số giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao hiệu quả công cụ lãi
suất.
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
thu hút vốn nhàn rỗi và các biện pháp cho vay hiệu quả, đáp ứng các nhu cầu
hoạch toán kinh tế.
Lãi suất là một trong những công cụ dự báo tình hình nền kinh tế. Sự biến
động lãi suất có thể dự báo được một số yếu tố của nền kinh tế. Từ đó các ngân
hàng hoặc các doanh nghiệp có điều kiện để chuẩn bị và lựa chọn phương án kinh
doanh cho phù hợp.
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Sự thay đổi của lãi suất góp
phần điều tiết sản xuất và tiêu dùng, cung và cầu hàng hóa, là công cụ để thực
hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.
&:*)P(#QP())0$R*#:!5*N38S>J%<)K#
&:*)P(#QP())N3>J%<)K#/3*#AN!.!,!%")
$"1%#S
- Xuất phát từ quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường.
- Tác động trực tiếp đến việc điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt hay nới lỏng
phù hợp trong từng giai đoạn, thời kỳ của nền kinh tế.
- Là lãi suất cho vay cuối cùng của NHNN đối với NHTM.
&&R*#:!5*N38S>J%<)K#
- Khuyến khích tích lũy và là trung gian tài chính.
- Hướng các nguồn tài chính vào các hoạt động có tỷ suất lợi nhuận cao nhất.
- Lãi suất tín dụng được dùng như một công cụ để vận hành cơ chế tạo tiền.
&8<TU#$0$:>.%>J%<)K##L(#V#L74*
&8<TU#$
Về mặt lý thuyết và thực tiễn cho thấy lãi suất được hình thành trên những cơ
sở:
GVHD: Trần Thanh Tịnh 7 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
bởi vậy mà nhà nước đã thực hiện các chính sách tiền tệ của mình thông qua
Ngân hàng Trung ương với vai trò chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng của một
quốc gia (với các công cụ như lãi suất tái chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc) để
điều chỉnh lãi suất, bình ổn nền kinh tế.
- R*@#=1:0"!4%<=*[J5%Sự đa dạng của công cụ tài chính, sự
thay đổi trong cơ cấu chứng khoán, sự phát triển của các thể chế tài chính trung
gian, hiệu suất sử dụng vốn trong các thời kỳ khác nhau do những thay đổi
trong công nghệ và sự phát triển mang tính chu kỳ của nền kinh tế, và các biến
động về kinh tế chính trị,… cũng ít nhiều ảnh hưởng đến lãi suất.
6I%*%?/!%")$A<:>J%<)K#T:7Z#L(#S*%Z%
- Ở các nước công nghiệp phát triển:
Ngân hàng Trung ương dùng lãi suất tái chiết khấu để tác động gián tiếp tới lãi
suất tiền gửi, lãi suất tiền vay của các ngân hàng trung gian. Trên cơ sở đó các
ngân hàng trung gian tùy tình hình thị trường mà áp dụng lãi suất tiền gửi, tiền
vay đối với các doanh nghiệp nhưng thường là cao hơn lãi suất chiết khấu.
Khi Ngân hàng Trung ương tăng lãi suất chiết khấu, điều đó có nghĩa là Ngân
hàng Trung ương muốn hạn chế sự tăng thêm tiền ra lưu thông. Đối với lãi suất
cơ bản thì chỉ có tác dụng trong điều kiện nền kinh tế có biến động vừa phải và
coi như khá ổn định.
- Ở các nước đang phát triển:
Qua nghiên cứu thực tế của ngân hàng thế giới cho thấy lãi suất trần cứng ngắc
đã làm cản trở sự tăng trưởng về tiết kiệm tài chính và giảm thiểu hiệu năng của
đầu tư. Nhiều nước đã thấy rằng lãi suất chịu sự quản lý của Nhà nước có thể có
hại, không có tác động tích cực đối với nền kinh tế nói chung, hoạt động của các
doanh nghiệp nói riêng. Do đó, họ có khuynh hướng để cho thị trường có tiếng
nói lớn hơn.
GVHD: Trần Thanh Tịnh 9 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
- Tháng 3/1988: Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định
hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh.
- Tháng 5/1990: Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh về ngân
hàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp
tác xã tín dụng và công ty tài chính). Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân hàng đã
chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một
cấp sang hai cấp.
- Tháng 10/1993, quan hệ hợp tác giữa Việt nam và cộng đồng tài chính quốc tế
(Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á) được
tái lập và khơi thông.
- Ngày 2/12/1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín
dụng được Quốc hội khóa X chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/10/1998.
- Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín
dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2011. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ
của Chính phủ, là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam.
Về cơ cấu tổ chức, theo Nghị định 96/2008/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước
có 24 đơn vị trực thuộc, trong đó 19 đơn vị giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng trung ương, 5 đơn
vị là tổ chức sự nghiệp.
Năm 1996, nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, ngành Ngân hàng vinh dự
được đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ngày 6/5/2006, tại Lễ kỷ
niệm 55 năm ngày thành lập, ngành Ngân hàng đã vinh dự được Đảng, Nhà nước
trao tặng phần thưởng cao quý nhất - Huân chương Sao vàng; vào dịp kỷ niệm 60
GVHD: Trần Thanh Tịnh 12 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
của nền kinh tế tăng lên không thực, tạo lợi nhuận giả cho doanh nghiệp. Ngân
hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng, tạo lỗ không đáng có cho ngân hàng và
ngân hàng không thể kinh doanh bình thường theo cơ chế thị trường. Bước sang
năm 1992, lạm phát đã được đẩy lùi và luôn ở mức thấp đã tạo điều kiện để
chuyển sang lãi suất thực dương.
- Giai đoạn 6/1992 – 12/1995: Cơ chế điều hành khung lãi suất.
Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theo khung, trong đó quy định
rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Căn cứ khung
lãi suất này, các Ngân hàng thương mại đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình.
Thực chất đây là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi
suất dương. Ngân hàng Nhà nước bỏ chính sách lãi suất “âm”, chuyển sang chính
sách lãi suất “thực dương”, quy định mức “sàn” lãi suất tiền gửi và “trần” lãi suất
cho vay; công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu. Chính sách "lãi suất
dương" vừa đảm bảo lợi ích của ngân hàng, vừa đảm bảo lợi ích của doanh
nghiệp gửi tiền tại ngân hàng và kích thích doanh nghiệp tiết kiệm, sử dụng vốn
có hiệu quả.
Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay của các tổ chức tín dụng được thể hiện qua
biểu đồ sau:
U&&%wx%S>J%<)K#03P0$#%"*y%xUi)@:r/
80V#Atuv
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
o Ưu điểm:
+ Lãi suất đã được sử dụng như một công cụ của chính sách tiền tệ.
+ Chính sách lãi suất được cải cách theo hướng linh hoạt hơn và phù hợp
với cơ chế thị trường.
GVHD: Trần Thanh Tịnh 14 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
+ Cho phép các tổ chức tín dụng chủ động và tự quyết định mức lãi suất cụ
cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ cung cầu vốn tín dụng giữa ngân hàng và khách
hàng, thể hiện vai trò tác động và sự ảnh hưởng hết sức quan trọng đến nền kinh
tế.
GVHD: Trần Thanh Tịnh 16 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
U&6J%<)K#03Pi)3:r/&ssl&ss6
80V#Atuv
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
o Ưu điểm:
+ Chính sách lãi suất thời kỳ này đã tiến gần đến các nguyên tắc lãi suất thị
trường hơn.
+ Việc sử dụng lãi suất cơ bản làm lãi suất tham chiếu khi cấp tín dụng của
các tổ chức tín dụng là bước chuẩn bị cho tự do hóa lãi suất hoàn toàn sau này.
o Nhược điểm: Việc khống chế biên độ dao động trên của lãi suất cơ bản làm hạn
chế phần nào tính thị trường của lãi suất, làm cho cơ này về bản chất vẫn là cơ
chế điều hành lãi suất trần.
&&&%3%!.:9'*8S>J%<)K##{3#);to|&ss&lk|&ssnv
Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi
từng bước bắt đầu từ tháng 5.2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp
theo 5.2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong
nước. Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở
Việt Nam bước đầu đã có kết quả nhất định.
Tháng 6/2002, Ngân hàng Nhà nước đã bỏ quy định việc tổ chức tín dụng ấn
định lãi suất cho vay theo lãi suất cơ bản, chuyển sang cơ chế lãi suất cho vay
thoả thuận mà theo đó, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh bằng Việt
Nam trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường; Ngân hàng Nhà nước tiếp tục công bố
lãi suất cơ bản với mục đích phát tín hiệu và định hướng lãi suất; áp dụng mô
hình hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng.
từ mức 12% trước đó. Ngân hàng Nhà nước cũng giảm giá đồng Việt Nam 2%
trong tháng này nhằm giải tỏa áp lực đối với đồng tiền trong nước.
Từ năm 2010, lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng liên tục tăng cao lên mức
16%-18%/năm, cá biệt có những trường hợp lên tới 18%-20%/năm nên nhiều
doanh nghiệp chuyển sang vay bằng Đôla do lãi suất vay USD thấp hơn nhiều so
với lãi suất vay VND trong khi rủi ro tỷ giá hối đoái chưa hiện hữu.
Nhưng đến cuối năm 2010 lãi suất đã giảm dần:
W*&%wx%S>J%<)K#!%")$r/&ssN3*@$*$7Z
80V#Au
Thời gian
Lãi suất
cơ bản
Lãi suất tái
cấp vốn
Lãi suất tái
chiết khấu
Lãi suất cho
vay qua đêm
1/1-4/11/2010 8 8 6 8
5/11-12/2010 9 9 7 9
Nguồn Ngân hàng Nhà nước
Cuối năm 2010, lãi suất huy động và cho vay VND của các ngân hàng thương
mại đã giảm dần với lãi suất huy động VND không vượt quá 14%/năm; lãi suất
cho vay bình quân 15,27%.năm. Biến động liên tục của thị trường nguyên vật liệu
cơ bản, của thị trường tài chính tiền tệ quốc tế càng làm cho việc kiểm soát lạm
phát nói chung và ổn định lãi suất nói riêng của chúng ta thêm khó khăn.
Đến năm 2011, lãi suất có tín hiệu tăng lên:
U&o%S!5*>J%<)K#&ssol&s
80V#Au
GVHD: Trần Thanh Tịnh 19 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
GVHD: Trần Thanh Tịnh 20 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
chính phổ biến là lãi suất do bao cấp tín dụng. Bước vào những năm đầu của thời kỳ
đổi mới Việt Nam đã đổi mới chính sách lãi suất thả nổi lãi suất, trần lãi suất Nhưng
sự đổi mới này còn mang tính thụ động và việc điều hành trên thị trường tiền tệ còn
hết sức bấp bên.
Từ năm 1993, chính sách lãi suất đã dần linh hoạt hơn với lãi suất thực dương lãi
suất thực giảm dần cùng với tốc độ đi xuống của làm phát vừa đảm bảo khuyến khích
tiết kiệm vừa hướng tới đẩy mạnh đầu tư vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Từ năm 1996 bằng thành quả đẩy lùi, kiềm chế lạm phát ở mức thấp từ 1 chữ số
(năm 1996 là 4,5 % năm 1997 là 3,7 %) là điều kiện để thi hành chính sách lãi suất
thực dương gắn liền với việc điều chỉnh toàn diện lãi suất cả về mặt bằng cơ cấu cũng
như các loại hình lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm và cho vay (bao gồm nội tệ lẫn
ngoại tệ). Từ đó đến nay chính sách lãi suất bắt đầu linh hoạt hơn cả mức lãi suất trần
về mức huy động và cho vay.
Qua những phân tích trên ta rút ra được một số nhận xét về chính sách lãi suất
của Việt Nam như sau.
Một là: Chúng ta đã liên tục theo đuổi chính sách lãi suất chủ động từ khi bắt đầu
công cuộc đổi mới chính sách lãi suất và theo đó là cơ cấu của các loại lãi suất khi
được định hình đúng đắn đã có tác động trực tiếp tới hoạt động và tiến trình phát
triển của hệ thống tài chính Việt Nam.
Hai là: Chế độ kiểm soát lãi suất cứng nhắc đã dần dần được nới lỏng, các mức lãi
suất quy định cụ thể theo mục đích và ngành kinh tế đã được xoá bỏ để dành quyền tự
chủ cho các Ngân hàng Thương mại trong một mức độ linh hoạt nhất định .
Ba là: Thực tế đang đặt ra chừng nào có được loại hình lãi suất chủ đạo ( lãi suất cơ
bản ) đồng thời xây dựng được cơ chế bảo đảm mức độ bao quát và cách thức can
thiệp linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước đối với quan hệ cung cầu tiền tệ trong nền
kinh tế thì lúc đó mới kiểm soát tốt lượng tiền trong lưu thông.
GVHD: Trần Thanh Tịnh 22 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
TRÊN CON ĐƯỜNG CHUYỂN ĐỔI
Ngân hàng Trung ương để ấn định mức lãi suất cho vay và tiền gửi và cụ thể từng
thời kỳ , từng vùng khác nhau .Với nội dung phương án này về nguyên tắc phù hợp
với luật Ngân hàng vì ở đây lựa trọn trần lãi suất cho vay lạm lãi suất cơ bản cho
Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng khác tính lãi suất huy động vốn của
chúng
Thách thức của Việt Nam:
Phương án này nếu được điều hành thì sẽ không phù hợp với xu hướng
điều hành với lãi suất hiện nay trong khu vực và trên toàn thế giới. Điều này trái với
lãi suất cơ bản. Với sự điều hành mang tính trực tiếp nhiều hơn gián tiếp .
Tiếp tục có nhiều loại trần lãi suất như hiện nay do sự khác nhau giữa tính
chất kinh doanh địa bàn hoạt động của Ngân hàng Thương mại.
Ngân hàng Trung ương công bố lãi suất cơ bản dựa trên cơ sở mức lãi suất cho vay tối
thiểu để bù đắp các chi phí và có lợi nhuận của các tổ chức tín dụng và biên độ giao
động để các tổ chức tín dụng được phép ấn định các mức lãi suất huy động vốn và cho
vay cụ thể .Thực chất phương án này xây dựng dựa trện kinh nghiệm của Malaisia ,
như Ngân hàng công bố và tổ chức điều hành kinh doanh địa bàn
Thách thức của Việt Nam:
Theo phương án này thì sẽ xảy ra tình trạng có nhiều mức biên độ dao động
khác nhau áp dụng cho từng loại vay và từng tổ chức tín dụng .
Các tổ chức tín dụng cộng biên độ tối đa vào lãi suất cơ bản sẽ tạo ra một
trần lãi suất chung cho cả nước và sẽ không phù hợp với tính chất và đặc điểm của các
Ngân hàng thương mại , các vùng khác nhau triệt tiêu tính cạnh tranh lành mạnh và
không điều hoà vốn tín dụng từ nơi thừa đến nơi thiếu.
GVHD: Trần Thanh Tịnh 23 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C
Đề tài:CƠ CHẾ LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG THÁCH THỨC
hàng và tình hình kinh tế vĩ mô. Việc điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất rất dễ
gây ra mất ổn định trong nền kinh tế và khó có thể đảm bảo các mục tiêu của
chính sách tiền tệ.
-&*)P(@.S
Với chính sách lãi suất ngày càng linh hoạt như hiện nay, việc tiến đến tự do
hóa lãi suất sẽ đến gần, lúc đó lãi suất sẽ đúng với bản chất thực của nó
cũng như thực hiện tốt vai trò là công cụ điều hành nền kinh tế của chính
sách tiền tệ. Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách
lãi suất một cách thận trọng, linh hoạt, bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ. Tuy
nhiên, cơ chế điều hành lãi suất vẫn còn những mặt chưa đạt được như trên do
Một là, tâm lý sợ bị mất khách hàng gửi tiền của các Ngân hàng thương mại.
Hai là, tín hiệu điều hành thị trường thông qua lãi suất cơ bản không rõ ràng.
Ba là, các Ngân hàng thương mại phòng xa nguy cơ mất thanh khoản, lo sợ
lập lại kịch bản lạm phát.
-& %W%9:9
- Tạo lập môi trường pháp lí lành mạnh để khuyến khích sự cạnh tranh giữa các
Ngân hàng thương mại và các Tổ chức tín dụng phù hợp với chính sách phát
triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước.
- Có lộ trình, giải pháp khuyến khích phát triển đồng bộ các thị trường tài chính,
đa dạng hóa các kênh huy động vốn trong nền kinh tế để nhằm đáp ứng nhu cầu
vốn ngày càng tăng của doanh nghiệp, hạn chế tình trạng tín dụng đen, thị
trường tài chính ngầm phát triển tự do không có kiểm soát.
- Điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt, kịp thời, duy trì mặt bằng lãi
suất ổn định, phù hợp cơ chế thị trường trên cơ sở xử lý tốt mối quan hệ về lợi
ích của người gửi tiền, các Ngân hàng và người vay tiền.
GVHD: Trần Thanh Tịnh 25 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
ĐHTCNH10C