Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
L ãi suất là một trong những công cụ rất quan trọg của chính sách tiền tệ
quốc gia. Nó tác động hết thảy các khâu sản xuất- tiêu dùng- tích luỹ - đầu t,
góp phần kìm hãm hay tăng trởng kinh tế. Lãi suất là một phạm trù kinh tế có
tính hai mặt, nếu xác định lãi suất hợp lí sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản
xuất-lu thông hàng hoá phát triển và ngợc lại. Bởi vậy, lãi suất vừa là công cụ
quản lí vĩ mô của Nhà nớc, vừa là công cụ điều hành vi mô của các ngân hàng
thơng mại. Một chính sách lãi suất có hiệu quả là chính sách đợc áp dụng nhất
quán trong một lãnh thổ và đợc NHNN điều chỉnh chặt chẽ, mềm dẻo theo từng
thời kì cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn và cung ứng vốn nhằm thu hút đ-
ợc nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng, phục vụ phát triển kinh tế đất nớc,
đồng thời đảm bảo đợc cho hoạt động của các ngân hàng thơng mại thực sự có
hiệu quả.
Tuỳ vào tốc độ phát triển kinh tế và mức độ ổn định tiền tệ mà mỗi quốc gia sẽ
đa ra các phơng pháp điều hành và quản lý lãi suất ở các mức khác nhau. Đối
với Việt Nam, trong bớc chuyển mình từ một nền kinh tế tự cung tự cấp sang
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết quản lí của Nhà nớc;
trong quá trình hoà nhập cùng sự phát triển của nền kinh tế thế giới, việc xem
xét vấn đề lãi suất là rất cần thiết. Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà Nớc
đang từng bớc tiến dần tới một chính sách lãi suất thị trờng. Thay đổi theo hớng
tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nớc và mức độ hội nhập
với thị trờng khu vực và thế giới. Để hiểu rõ hơn các bớc đi trong lộ trình đổi
mới chính sách lãi suất trong thời gian qua và từ đó có những định hớng phù
hợp hơn trong gian đoạn tới. Đề án xin đợc đề cập đến vấn đề: Lãi suất và vấn
đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án bao gồm 3 chơng:
Ch ơng I: Các vấn đề cơ bản về lãi suất và tự do hoá lãi suet
Ch ơng II: Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.
Ch ơng III: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao việc thực hiện chính sách tự do
hoá lãi suất trong thời gian tới
các khoản tiết kiệm đợc thu hút triệt để qua các kênh tài chính trực tiếp và kênh
tài chính gián tiếp để tạo nên quỹ vay đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
1.2.2 Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
Với t cách là giá phải trả cho những số tiền vay để đầu t hay mua các vật
dụng tiêu dùng, lãi suất tạo nên khoản chi phí của ngời đi vay. Việc so sánh
giữa lãi suất phải trả với hiệu quả biên của đồng vốn là căn cứ quan trọng để ng-
ời kinh doanh đa ra quyết định đầu t. Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm
khả năng có đợc những thu nhập khá lớn để bù đắp đợc số lãi phải trả và do đó
số đầu t chắc chắn sẽ giảm. Cũng có thể lập luận nh vậy về việc đi vay để tiêu
dùng, những ngời tiêu dùng so sánh số lãi phải trả cho một khoản vay mợn với ý
muốn có càng sớm càng tốt một vật dụng nh một căn nhà hay là một chiếc ô tô
chẳng hạn. Những lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số ngời tiêu dùng chờ đợi
chứ không mua ngay, và số tiêu dùng dự định sẽ giảm xuống. Tổng cầu bao
gồm cr các thành phần nh cầu đầu t của doanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá
nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo. Vì sự biến động của lãi suất có tác dộng
đến đầu t, đến tiêu dùng nên nó có tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền
kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trờng hợp sau:
+Lãi suất thấp khuyến khích đầu t, khuyến khích tiêu dùngtăng tổng
cầu Sản lợng tăng , giá cả tăng, thất ngiệp giảm, nội tệ có xu hớng giảm giá
so với ngoại tệ.
+Lãi suất cao Hạn chế đầu t, hạn chế tiêu dùng giảm tổng cầu sản
lợng giảm , giá cae giảm , thất nghiệp tăng,nội tệ co xu hớng tăng so với đồng
ngoại tệ.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vì có khả năng tác động đến các biến số kinh tế của nền kinh tế vĩ mô nh trên
nên lãi suất đợc Chính Phủ các nớc làm công cụ có hiệu quả để điều tiết nền
kinh tế quốc gia.
1.2.3 Lãi suất là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu
quả.
cho các ngân hàng hoạc qui định khung lãi suất tiền gửi lãi suất tiền vay
hoặc trần suất tiền vay qua đó khống chế lãi suất cho vay của các ngân hàng
theo hớng chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.
Trong điều kiện thị trờng tài chính phát triển, Ngân hàng TW sử dụng công
cụ lãi suất gián tiếp chẳng hạn nh lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố
để tác động gián tiếp tói lãi suất thị trờng. Lãi suất thị trờng thay đổi sẽ tác
động tới các biến số kinh tế vĩ mô. Ngàynay theo xu hớng tự do hoá tài chính,
cơ chế điều tiết nền kinh tế bằng công cụ lãi suất ngày càng trở nên phổ biến
trên thế giới.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nh vậy trong nền kinh tế lãi suất là công cụ kinh tế khá quan trọng làm sao
để lãi suất phải phù hợp với lãi suất của các nớc trên thế giới trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế là vấn đề đợc đặt ra và cần đợc giải quyết.
2. Các nhân tố ảnh h ởng tới lãi suất, n guyên tắc và ph ơng pháp xác định
lãi suất.
2.1 Các nhân tố ảnh h ởng tới lãi suất
Trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc đóng vai trò trung
tâm hầu hết tất cả các hoạt đông kinh tế xã hội. Trong các nớc này cũng
không có thị trờng tài chính và tài chính kiềm chế là mô hình quản lý tài chính
phổ biến. Vì lẽ đó, lãi suất trong các nớc đó đều do nhà nớc qui định, thậm chí
một số nớc còn qui định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất
cho vay ngân hàng. Sự biến động của lãi suất trong các điều kiện nh vậy phần
lớn phụ thuộc và ý chí của chính phủ và không thể dự đoán hay xác lập bất cứ
quy luật vận động nào.
Trái lại trong nền kinh tế thị trờng, nhà nớc chỉ đóng vai trò là ngời điều tiết
vĩ mô, thị trờng tài chính và các ngân hàng cũng nh các tổ chức tài chính trung
gian rất phát triển. Hơn nữa đã các nơc này lại theo đuổi tài chính tự do hoá và
cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trờng. Lãi suất vì vậy luôn biến động phụ
thuộc rất nhiều vao các nhân tố kinh tế vĩ mô cũng nh nhiều nhân tố khác. Sau
chính phủ thờng gia tăng việc phát hành trái phiếu. Lợng cung trái phiếu trên thị
trờng tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hớng giảm, lãi suất thị trờng vì vậy
mà tăng lên. Hơn nữa ,tài sản có của các ngân hàng thơng mại cũng gia tăng ở
khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vợt quá giảm, lãi suất ngân hàng cũng sẽ
tăng.
2.1.4 Những thay đổi về Thuế
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất
giống nh khi thuế tác động đến giá cả hàng hoá. Nếu các hình thức này tăng lên
cũng có nghĩa điều tiết đi một phần thu nhập của những cá nhân, tổ chức cá
nhân và tổ choc cung cấp dịch vụ tín dụng hay những ngời tham gia kinh doanh
chứng khoán. Thông thờng ai cũng có quan tâm đến thu nhập thực tế hay lợi
nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do vậy, để duy trì một mức thuận
lợi thực tế nhất định họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi của
thiếu. Điều quan trọng đợc rút ra từ mối quan hệ này là việc xác lập và điều
chỉnh đối với chính sách thuế, nhằm hạn chế những tác động ngoài ý muốn của
mổi thay đổi nói trên của thuế.
2.1.5 Những thay đổi trong đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố đợc trình bày trên đây, sự thay đổi của lãi suất còn
chịu ảnh hởng của các yếu tố thuộc về đời sống xã hội khác, Sự phát triển của
thị trờng tài chính với các công cụ tài chính đa dạng phong phú là một ví dụ.
Các công cụ này khác nhau không chỉ ở thời gian phơng pháp tính và trả lãi,
khả năng tiêu thụ mà cả về độ co dãn của giá cả theo lợng cầu của chúng.
Chính vì vậy mà những thay đổi trong cơ cấu chứng khoán; sự xuất hiện các
chứng khoán mới, cũng nh phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu của thị tr-
ờng sơ cấp cũng sẽ tác động thay đổi lãi suất trên thị trờng thứ cấp. Mức độ phát
triển của các thể chế tài chính trung gian và gắn liền theo đó là sự cạnh tranh
trong hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức này là các ví dụ khác. Hiệu
suất sử dụng vốn hay tỷ suất đầu t cận biên trong nền kinh tế trong các thời kỳ
khác nhau do những thay đổi trong công nghiệp và sự phát triển mang tính chu
kỳ của nền kinh tế cũng tác động đến sự thay đổi lãi suất. Thêm nữa tình hình
Khi đem vốn vào sử dụng, sau một thời gian nhất định, ngời sử dụng vốn
cũng nh ngời cho vay vốn đều hi vọng vốn ban đầu sẽ tạo ra một lợng tiền lớn
hơn tức là có sinh lãi đủ để trang trải các chi phí và để lại một phần lợi nhuận.
Đây là lẽ đơng nhiên. Song trên thực tế không phải đầu t nào cũng đem lại kết
quả tốt đẹp, sẽ có những lúc bị lỗ, thậm chí mất cả vốn ban đầu. Do đó, lãi suất
phải đảm bảo nguyên tắc 2 để ngời cho vay và ngời đi vay không bị thiệt thòi
dù cho việc sử dụng vốn có lúc lãi có lúc lỗ.
Nguyên tắc 3: Lãi suất phải đợc phân định theo thị trờng tiền tệ cấp 2.
Sở dĩ lãi suất phải phân định ra vì trên mỗi thị trờng, các yếu tố quyết định đến
mức lãi suất là khác nhau nh: chủ thể sở hữu và sử dụng vốn, chi phí huy động
vốn, mức độ rủi ro, uy tín của ngời vay.v.v...Tuy nhiên, lãi suất trên thị trờng
cấp 2 có thể dựa vào lãi suất trên thị trờng cấp một để định ra mức lãi suất phù
hợp và lãi suất trên thị trờng cấp 1 có thể tăng hay giảm để tác động vào lãi suất
của thị trờng cấp 2. Tóm lại, lãi suất trên 2 thị trờng tiền tệ phải khác nhau nhng
có quan hệ hữu cơ và ràng buộc lẫn nhau. Thông thờng, lãi suất trên thị trờng
cấp một nhỏ hơn lãi suất trên thị trờng cấp 2 để đảm bảo cho các tổ chức tín
dụng sau khi đi vay trên thị trờng cấp 1 và cho vay trên thị trờng cấp 2 sẽ thu đ-
ợc một phần lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất trên hai thị trờng đó.
Nguyên tắc 4: Nguyên tắc này đợc hình thành trên cơ sở nguyên tắc 1 và 2,
trong đó:
o Tỉ lệ lạm phát < Lãi suất đi vay < Lãi suất cho vay < Tỉ suất lợi nhuận
bình quân của nền kinh tế (1)
o Lãi suất ngắn hạn < Lãi suất trung và dài hạn (2)
Bất đẳng thức (1) cho thấy lãi suất phải đảm bảo có lợi cho cả ngời vay và ngời
đi vay đồng thời có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển nền kinh
tế. Tỉ lệ lạm phát càng thấp và tỉ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế càng
cao thì càng tốt đối với cả dân c, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.
Trong bất đẳng thức (2) lãi suất rõ ràng phải có tính bù đắp đợc rủi ro,
thời hạn sử dụng vốn càng dài, rủi ro càng cao thì lãi suất càng lớn. Vì nếu lãi
suất ngắn hạn lớn hơn lãi suất trung và dài hạn thì nó chỉ có lợi cho những ngời
cho một cá nhân, một tổ chức, phải đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trởng.
Do đó, khi xác định lãi suất, ngời ta phải dựa trên 2 cơ sở cơ bản này.
Cơ sở thứ 3 là ớc định một tỉ lệ kích thích. Lãi suất cũng giống nh các
loại giá cả khác, chỉ cần thấp hoặc cao hơn một chút so với các tổ chức tín dụng
khác đã có thể thu đợc nhiều khách hàng hơn, cho vay nhiều hơn hoặc ngợc lại.
Nh vậy, trên cơ sở một tỉ lệ kích thích, lợi nhuận của TCTD có thể bị giảm đi
nếu tính trên giá trị từng giao dịch song với số lợng giao dịch tăng lên thì lợi
nhuận vẫn tăng mà TCTD lại tạo ra đợc lợi thế cạnh tranh lâu dài cho mình.
Cơ sở tiếp theo là chỉ tiêu hợp lí về tổng chi phí tín dụng bình quân. Dựa
trên chỉ tiêu này, ngời ta có thể xác định đợc nhiều chỉ tiêu khác nh doanh thu,
lợi nhuận, mức lơng, mức lãi suất.v.v...Nếu tính toán tổng chi phí tín dụng bình
quân cao hơn nhu cầu thực tế của thị trờng sẽ dẫn đến thừa vốn, TCTD muốn
cho vay đợc phải giảm lãi suất cho vay. Điều này có thể dẫn đến hai hậu quả là
giảm lãi suất tiền gửi khiến khách hàng chuyển sang gửi tiền ở các TCTD khác
hoặc là giảm lợi nhuận đồng thời giảm tiền lơng của cán bộ công nhân viên.
Nếu chỉ tiêu trên thấp hơn nhu cầu thực tế thì tác động ngợc lại , TCTD phải
nâng cả lãi suất đi vay và lãi suất cho vay lên. Khi lãi suất cho vay tăng, các
doanh nghiệp sẽ vay ít hơn cho đầu t vào sản xuất kinh doanh khiến cho nền
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh tế tăng trởng chậm lại. Vì vậy, xác định chỉ tiêu tổng chi phí tín dụng bình
quân hợp lí là rất cần thiết khi hình thành lãi suất giúp cho TCTD giữ đợc uy tín
với các doanh nghiệp vay vốn và thu hút đợc nhiều khách hàng gửi tiền.
Cơ sở cuối cùng là kinh nghiệm nghề nghiệp của các chuyên gia. Lãi suất
là một biến số đợc cấu thành từ rất nhiều biến số khác nhau mà trong đó chủ
yếu là những biến số mang tính khách quan. Do đó, muốn xác định đợc lãi suất
phải nắm chắc đợc các yếu tố cấu thành nó. Sự biến động của các yếu tố này rất
phức tạp, do đó cần phải xem xét, phân tích kĩ lỡng, đòi hỏi phải do các chuyên
gia hoạt động lâu năm trong nghề thực hiện.
2.3.2 Công thức tổng quát tính lãi suất.
do biến động để phản ứng theo các lực lợng cung-cầu vốn trên thị trờng, loại bỏ
những áp đặt mang tính hành chính lên sự hình thành của lãi suất. Nhà nớc
không ấn định các mức lãi suất, đồng thời cũng không khống chế mức lãi suất.
Các ngân hàng thơng mại đợc quyền xác định và công bố lãi suất kinh doanh
của mình để áp dụng trong việc huy động vốn và cho vay còn Ngân hàng trung -
ơng chỉ can thiệp bằng các công cụ để điều chỉnh cho phù hợp chiến lợc và
mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển.
Trong cơ chế tự do hoá lãi suất, nếu nhà nớc hoàn toàn không can thiệp
đến hệ thống lãi suất thị trờng thì đó là cơ chế tự do hoá lãi suất hoàn toàn (thả
nổi lãi suất hoàn toàn). Nếu nhà nớc có tham gia can thiệp gián tiếp theo một
định hớg xác định thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ thì đó là cơ chế
tự do hoá lãi suất có quản lý. Và khi đó NHTƯ tác động tới lãi suất chủ yếu dựa
trên các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp nh nghiệp vụ thị trờng mở, tái chiết
khấu, hợp đồng mua lại, và một phần dựa vào áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tự do hoá lãi suất là để cho lãi suất hình thành trên cơ sở cung cầu về
vốn, mức tiết kiệm, thu nhập và chi tiêu của cá nhân và những nhân tố khác. Tự
do hoá lãi suất đợc coi là hạt nhân của tự do hoá tài chính, nó làm cho các luồng
tài chính lu thông thông suốt và là một xu thế để góp phần thúc đẩy kinh tế
tài chính Việt Nam hội nhập quốc tế.
Tự do hoá lãi suất nói riêng và tự do hoá tài chính nói chung có ý nghĩa quan
trọng đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vao
nền kinh tế thế giới trên phơng diện vĩ mô lẫn vi mô điều này đợc thể hiện nh
sau:
2. Vai trò của tự do hoá lãi suất trong nền kinh Tế
2.1 Xét trên ph ơng diện vĩ mô của nền kinh tế
Trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã có những thành công bớc đầu
trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới sau nhiều năm bị gián đoạn. Hiện
nay, chúng ta đã có mối quan hệ với WB, ADB, và là thành viên của ASEAN
Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai
đoạn vừa qua.
Quá trình tự do hoá lãi suất chính là quá trình điều hành cơ chế lãi suất qua các
thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Từ đầu thập kỷ 90 chính sách lãi suất đã dần
thay đổi từng bớc thích ứng với cơ chế lãi suất thị truờng đồng thời tăng cờng
hiệu lực của cơ chế giá trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Diễn biến của
chính sách lãi suất trong thời gian qua có thể chia thành các giai đoạn nh sau:
1. Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.
1.1 Giai đoạn tr ớc tháng 3/1988 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý
nền kinh tế theo ph ơng thức quản lý kế hoạch hoá tập trung
Đặc trng cơ bản của lãi suất ở thời kỳ nàyđó là áp dụng chính sách lãi suất bao
cấp khá nặng nề, lãi suất đợc xây dựng thoát ly lãi suất nền kinh tế thế giới:
+ Lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lạm phát.
+ Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động và thấp hơn mức lạm phát.
Dẫn đến lãi suất trong thời kỳ nay với tình trạng lãi giả và lỗ thật làm cho
ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất
thực là số âm. Vì vậy tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa. Do vậy đã
gây ra những hậu quả:
+ Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền lu thông, giải toả áp lực
của tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
+ Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất, tạo lợi nhuận giả tạo cho doanh
nghiệp.
+ Ngân hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng, tạo lỗ không đáng có cho
ngân hàng. Ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ bình thờng theo cơ chế thị
trờng.
1.2 Giai đoạn 1988 - 6/1992-Thời kỳ lãi suất âm
Bớc ngoặc trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh
vực tài chính - ngân hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988
do Hội đồng Bộ trởng ban hành (nay là Thủ Tớng Chính Phủ). Nội dung cơ bản
của nghị định này là:
16/03/1989 quy định mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn tới 9%/thàng
tức là 96%/năm; lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là 12%/tháng tức là
144%/năm. Đây là lần đầu tiên lãi suất cho vay các loại đã đợc điều chỉnh cùng
hớng với lãi suất tiền gửi. Chính những thay đổi về lãi suất này đã góp phần rất
quan trọng vào việc chặn đứng lạm phát phi mã vào cuối quý II/1989 và đồng
bộ cùng với những cải cách và điều chỉnh khác tạo ra những động thái mới đa
nền kinh tế từng bớc đi vào ổn định và phát triển. Tuy nhiên trong giai đoạn này
lạm phát đang ở mức cao nên chính sách lãi suất cha thực hiện đợc lãi suất dơng
mà vẫn theo lãi suất âm. C ch lói sut õm v mang nng tớnh cht bao cp
c duy trỡ sut thi k ny vi:
- LSCV i vi doanh nghip nh c < LSCV i vi doanh nghip
ngoi quc doanh;
- Lói sut danh ngha < t l lm phỏt;
- LSCV ngn hn > LSCV di hn;
- LSCV < lãi suất huy động;
- LSTG tit kim > LSTG ca cỏc t chc kinh t;
Năm 1988 với quyết định của hội đồng bộ trởng ban hành ngay
09/03/1988 cho phép tất cả các tổ chức bao gồm các đơn vị ngoài quốc doanh đ-
ợc vay tiền và huy động từ công chúng. Điều này cũng có nghĩa là tát cả các tổ
chức kinh tế dều có thể kinh doanh tiền tệ , ngoài ra các tổ chức huy động vốn
từ công chúng dới dạng tiền gửi tiết kiệm để cho vay không phải tuân thủ các
quy định truyền thống của ngân hàng, nh dự trữ bắt buộc hay tỷ lệ vốn/d nợ cho
vay. Trong thời gian này các quỹ tín dụng và hợp tác xã mọc lên rất nhiều với
tổng con số hơn 7.180 đơn vị. Hàng loạt tổ chức tín dụng ở thành thị đua nhau
tăng lãi suất để huy động vốn. Cả hệ thống rơi vào vòng xoáy tăng lãi suất để
huy động vốn nhng không để ý đến việc cho vay ra thế nào để vừa bảo toàn vốn
vừa có lãi cao. Bên ngoài xã hôi có hiện tợng đầu t rủi ro cao, không có sự kiểm
soát nghiêm ngặt nên kết quả nhiều đơn vị sản xuất không trả đợc nợ cho các tổ
chức tín dụng. Đồng thời việc theo đuổi lợi nhuận của các quỹ tín dụng bằng
cách huy động vốn với lãi suất cao trong bối cảnh không có giám sát và quản lý
khung, bao gm lói sut ti thiu v tin gi v lói sut ti a v tin vay.Cụ
thể lãi suất cho vay với doanh nghiệp nhà nớc là 1,8%/tháng, lãi suất cho vay
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cao nhất là 2,1%/tháng.
- NHNN cho phộp Ngõn hng thng mi (NHTM) c tho
thun lói sut vi khỏch hng (ỏp dng trong trng hp huy ng vn bng
phỏt hnh k phiu- lói sut huy ng cú th cao hn lói sut tit kim cựng
k hn 0,2%/thỏng v cho vay cao hn mc trn 2,1%/ thỏng);Nếu vốn huy
động tiền tiết kiệm và tiền gửi theo các lãi suất quy định mà không đủ để cho
vay thì các tổ chức tín dụng đợc phép phát hnh k phiu với lãi suất cao hn
lói sut tit kim cựng k hn 0,2%/thỏng v cho vay với mức lãi suất cao hn
mc 2,1%/ thỏng trên cơ sỡ thoả rhuận với khách hàng heo phơng châm : ngân
hàng kinh doanh đợc và khách hàng chấp nhận đợc. Cơ chế lãi suất cho vay
thoả thuận có ngời gọi đó là Tự do hoá lãi suất một lần nữa.
Trên thực tế, khoảng 30-60 % tổng d nợ lúc bấy giờ là từ các khoản cho vay
bằng lãi suất thoả thuận mà phần lớn là cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh
và hộ nông dân, với lãi suất phổ biến là 2,3% - 3,5 % tháng. Các ngân hàng đạt
mức chênh lệch giỡa lãi suất cho vay và lãi suất huy động rất cao, phổ biến từ
0,7% - 1% tháng. Với cơ chế lãi suất thoả thuận, có thể hiểu là đã tự do hoá một
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phần lãi suất, hoặc đó là cơ chế cho vay với lãi suất cứng đi đôi với một biên
độ dao động nhất định.
Trong lãi suất thoả thuận , mức chênh lệch giữa sàn (tiền gửi ) và trần
(cho vay) rất lớn khoảng 0,7% - 1,0%/tháng, làm cho các ngân hàng thơng mại
có nức lợi nhuận quá cao trong khi doanh nghiệp và hộ nông dân (chiếm
khoảng 30-60% tổng d nợ) gặp nhiều khó khăn.Từ thực tế này, tại kỳ họp lần
thứ 8, quốc hội khoá IX(08/1995)đã đi đến thống nhất cùng cới việc bỏ thuế
doanh thu trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đã yêu cầu ngân hàng tiết kiệm
chi phí hoạt động và khống chế mức chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn và
lãi suất cho vay bình quân là 0,35%/tháng.
dng kớch thớch v iu tit hot ng kinh doanh ca cỏc ngõn hang về một
khía cạnh nào đó, các ngân hàng vẫn phải chịu cả lãi suất tiền gửi và lãi suất
cho vay(cho dù mức chênh lệch lãi suất thực tế có thể khác nhau giữa các ngân
hàng tuỳ thuộc vào cơ cấu chi phí cụ thể).
Bảng 1: L i suất tiền gửi và cho vay 1993 1995ã
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đơn vị tính %/tháng
1993 1994 1995
1. Lãi suất tiền gửi dân
c
- Không kỳ hạn
-3 tháng
-6 tháng
-1 năm
O,8
1,7
1,7
2,0
0,7
1,4
1,7
2,0
0,7
1,4
1,7
2,0
2. Lãi suất cho vay
- ngắn hạn
-Dài hạn
so với lãi suất năm 1995. Với lãi suất cho vay khu vực nông thôn đợc quy dịnh
cao hơn lãi suất cho vay ở khu vực thành thị. Điều này đã có tác dụng điều
chuyển các luồng vốn d thừa từ thành thị về nông thôn . Cơ chế lãi suất mới đã
rút ngắn chênh lệch giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoịa tệ (xem bảng số liệu
sau):
bảng 2: Trần l i suất cho vay năm 1996ã
Đơn vị: VND%/tháng, USD%/tháng
tháng 1 7 9 10
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. Cho vay VND
1. Trần lãi suất cho vay
khu vực thành thị
- Cho vay ngắn hạn 1,70 1,60 1,50
- Cho vay trung ,dàI hạn 1,75 1,65 1,55 1,35
2. Trần lãi suất cho vay
khu vực nông thôn
2,00 1,80 1,70 1,50
3. Cho vay của HTXTD
và QTDND
2,50 2,20 2,10 1,80
II. Cho vay ngoại tệ 9,50 9,50 9,50 9,50
III.Chênh lệch giữa lãi
suất cho vay và lãi suất
huy động bình quân
O,35 O,35 0,35 0,35
Trong nm1997,là năm có nhiều biến động với nền kinh tế khu vực và thế
giới . Đặc biệt là cuộc khủng hoảng tàI chính Tiền tệ châu á đợc khởi đầu
bằng sự thả nổi đông Bạt của Chính phủ TháI Lan đã ảnh hởng phần nào đến
nền kinh tế Việt Nam.Cơ chế lãi suất tín dụng tiếp tục đợc đIều chỉnh theo hớng
thế nào nên năm 1999 vẫn đợc thực hiện theo lãi suất trần (các mức lãi suất trần
cho vay đợc thể hiện trong bảng).
ể bổ sung thờm cụng c iu hnh lói sut, thỏng 11/1999 NHNN a vo
s dng nghip v chit khu, tỏi chit khu giy t cú giỏ cho cỏc NHTM, lói
sut tỏi chit khu c qui nh mc thp hn 0,05%/thỏng so lói sut tỏi
cp vn;
Thỏng 7/2000, NHNN a vo s dng nghip v th trng m, lói sut
th trng m c hỡnh thnh qua cỏc phiờn giao dch.
Những u điểm của chính sách trần lãi suất
+ Vic iu chnh chớnh sỏch lói sut nh trờn nhm tin ti vic duy trỡ
mt trn lói sut cho vay, to iu kin ỏp dng mc lói sut c bn v
tng bc t do hoỏ lói sut, bớc đầu đã thực hiện tự do hoá lãi suất huy
động(lãi suất đầu vào của các NHTM) và linh hoạt trần lãi suất cho vay(lãi suất
đầu ra). Cơ chế này đã góp phần trong việc kớch cu thỳc y u t v tiờu
dựng, duy trì tăng trởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổnn định sức mua của
VND trong sự tơng quan của đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ
năm 1997 1998 ở các nớc Đông Nam á.
+ Điều hành lãi suất theo trần khuyền khích các TCTD trong việc cạnh
tranh lành mạnh và tăng cờng vai trò chủ đạo trong kinh doanh tiền tệ, chủ động
trong việc điều hoà quan hệ cung cầu vốn kinh doanh bằng công cụ lãi suất
một cách nhạy bén theo cơ chế thị trờng.
+Việc quy định cho vay theo trần lãi suất tạo ra mặt bằng chung về lãi
suất trong phạm vi cả nớc, xoá bỏ tình trạng cho vay theo lãi suất thoả thuận, v-
ợt xa các mức lãi suất do NHNN quy định trớc đó. Đảm bảo đợc vai trò quản lý
nhà nớc của NHNN vè lãi suất và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh tra,
kiểm ta, giám sát việc thực hiện chính sách lãi suất của NHNN.
+ Các TCTD không cho vay với lãi suất vợt trần điều này đã bảo vệ đợc
lợi ích cho ngời vay, tạo mặt bằng về phân phối lợi nhuận giữa các thành phần
kinh tế và ngời gửi tiền.
+ Lãi suất ngoịa tệ đợc điều chỉnh kịp thời phù hợp với lãi suất thị trờng