CHƯƠNG I
Những vấn đề cơ bản về l i suất và cơ chế l i suấtã ã
I . Khái niệm lãi suất
1. Định nghĩa về lãi suất .
Lãi suất là gì ?
Theo J. M keynes ( 1883-1964) nhà kinh tế học nổi tiếng ngời Anh cho
rằng lãi suất không phải là số tiền phải trả cho công việc tiết kiệm hay nhịn chi
tiêu vì khi tích trữ tiền mặt ngời ta không nhận đợc một khoản trả công nào,
ngay cả trờng hợp tích trữ rất nhiều trong một khoảng thời gian nhất định nào
đó. Vì vậy, lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thởng cho sở
thích chi tiêu t bản
Theo C. MAC: qua quá trình nghiên cứu bản chất của xã hội t bản ông cho
rằng : khi nghiên xã hội phát triển thì t bản tài sản tách rời t bản chức năng, tức
là quyền sở hữu t bản tách quyền sử dụng t bản. Nhng mục đích của t bản là giá
trị mang lại giá trị thặng d thì không thay đổi. Vì vậy trong xã hội phát sinh
quan hệ đi vay và cho vay, đã là t bản thì sau một thời gian giao cho nhà t bản
đi vay sử dụng, t bản cho vay đợc hoàn trả lại cho chủ sở hữu nó kèm theo một
giá trị tăng thêm và ông gọi đó là lợi tức.
Về thực chất lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng d mà nhà t bản đi
vay trả cho nhà t bản cho vay. Trong thực tế nó là một bộ phận của lợi nhuận
bình quân mà các nhà t bản thơng nghiệp đi vay phải chia cho các nhà t bản
cho vay.
Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cùng với tín dụng sự tồn tại và tác
động của nó đã do mục đích thoả mãn đầy đủ nhất các yêu cầu của tất cả các
thành viên trong xã hội . Lãi suất không chỉ là động lực của tín dụng mà nó còn
phải bám sát các mục tiêu kinh tế. Qua sự phân tích trên ta thấy :
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa khoản tiền ngời đi vay phải trả thêm cho ngời
cho vay trên tổng số tiền vay sau một thời gian nhất định đẻ đợc sử dụng khoản
tiền vay đó. Nói theo một cách khác lãi suất đó là giá cả của quyền sử dụng
vốn vay trong một thời gian nhất định mà ngời sở dụng trả cho ngời sở hữu nó.
vì lợi tức của những khoản đầu t ngắn nh thế thờng có lợi tức không ổn định.
Hơn nữa , chính lợi tức không ổn định của nó làm cho loại lãi suất này biến
động khá thờng xuyên và dữ dội. Ngợc lại lãi suất trung và dài hạn, vì tính
lâu dài của nó, các khoản đầu t này thờng đợc sử dụng cho các khu vực sản
suất cơ bản, bền chắc, với lợi tức ít thay đổi. Do lợi tức của đầu t cơ bản ổn
định, lãi suất của các loại tài sản này cũng cao hơn các loại tài sản khác. khi
2
nền kinh tế cha phát triển các khoản vay ngắn hạn đợc sử dụng nhiều hơn
các khoản cho vay trung và dài hạn và có thể trong thời gian đầu lãi suất
ngắn hạn có thể cao hơn lãi suất trung và dài hạn. nhng khi nền kinh tế cần
nhiều nguồn vốn cho đầu t hơn, cần chú trọng đến các khoản vay trung và
dài hạn thì cần phải có cách nhìn nhận đúng đắn về vị trí giữa lãi suất ngắn
hạn, trung và dài hạnđể tránh những bất hợp lý . tinh trạng này đã diễn ra ở
nớc ta trong một khoảng thời gian dài và gây ra nhiều bất hợp lý cản trở sự
phát triển của nền kinh tế, hnạ chế khuyến khích đầu t. Vì vậy cần có sự nhận
thức đúng đắn vị trí của các loại lãi suất này để có đợc những điều chỉnh phù
hợp, góp phần phát triển nền kinh tế.
b) Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất và cũng bởi mối liên hệ giữa lãi
suất và lạm phát ngời ta chia lãi suất làm hai loại :lãi suất danh nghĩa và lãi
suất thực tế .
- Lãi suất danh nghĩa : là lãi suất cha loại trừ đi tỷ lệ lạm phát và thờng đ-
ợc thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng.
- Lãi suất thực tế : là loại lãi suất đợc điều chỉnh lại cho đúng theo những
thay đổi về lạm phát bao gồm hai loại lãi suất thực tính trớc ( dự tính) và lãi
suất thực tính sau.
Việc phân chia hai loại lãi suất này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô
cùng quan trọng. Nhận thức rõ ràng đâu là lãi suất thực đâu là lãi suất danh
nghĩa sẽ giúp nhà nớc và các TCTD ứng biến kịp thời trớc những thay đổi
của tình hình lạm phát .
Để giữ cho tài sản nợ và tài sản có có hiệu quả không đổi hệ thống
tài chính đã ổn định nhà nớc sẽ thả nổi lãi suất cho cung cầu quyết định. Lãi
suất cố định là bớc đầu phải trải qua của hầu hết các nền kinh tế chuyển đổi,
là bớc đệm tiến tới thả nổi lãi suất.
d) Căn cứ vào các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng lãi suất đợc
chia làm bốn loại : lãi suất tín dụng nhà nớc, lãi suất tín dụng ngân hàng, lãi
suất tín dụng thơng mại.
Trong nền kinh tế thị trờng nguồn vốn không còn có thể tự nhiên mà có,
nhà nớc không thể cứ tiêu hết rồi lại in thêm, các tổ chức kinh tế cứ dùng hết
vốn thì lại có nhà nớc cung cấp nh trớc đây.Trong nền kinh tế thị trờng mọi
thứ đòi hỏi phải tuân theo quy luật thị trờng. Mọi thứ phải tuân thủ quy luật
giá trị, cân đối giữa lợng và chất. Ngay cả lãi suất cũng vậy, ngời ta có thể
quy định cụ thể từng mức lãi suất nhng phải luôn bảo đảm công thức lãi suất
lớn hơn tỷ lệ lạm phát và nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh
tế, nếu không sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Nền kinh tế nớc tavào
nửa cuối thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ 90 đã lâm vào tình trạng khủng
hoảng kinh tế nghiêm trọng một phần đã có những nhận thức sai lệch nh trên.
4
NHNN cứ phát hành ra thật nhiều tiền cho nhu cầu chi tiêu của mình và
cung cấp cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Kết quả lợng hàng hoá làm
ra thì có hạn, mức tiêu thụ thấp nhng lợng tiền tơng ứng lại quá d thừa. Trớc
tình hình trên đòi hỏi nhà nớc cần nhìn nhận một cách tổng thể về chính sách
tiền tệ quốc gia, về mối quan hệ giữa chính sách cung ứng tiền và lạm phát,về
tác dụng của các loại lãi suất trong nền kinh tế. Các loại lãi suất khác nhau
tuỳ thuộc vào mục đích của các chủ thể tạo ra chúng. chính phủ tuỳ thuộc
vào nhu cầu chi tiêu nhiều hay ít mà vay nền kinh tế nhiều hay ít, lãi suất
thấp sẽ đồng nghĩa với việc thu hút đợc nhiều tiền trong lu thông à ngợc lại .
NHNN giao cho nhiệm vụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, tuỳ vào
mục tiêu của chính sách trong từng thời kỳ vào mục tiêu hút tiền và cung ứng
tiền mà NHNN đặt giá cao hay thấp cho nguồn vốn vay và cho vay của mình
với nền kinh tế theo giá cao hay thấp. Các TCTD, các doanh nghiệp cũng nh
suất tiền vay theo nguyên tắc phải cao hơn lãi suất tiền gửi bình quân và có sự
phân biệt giữa các khoản vay với các thời hạn khác nhau cũng nh mức rủi
rokhác nhau.
* Lãi suát tín dụng thơng mại : là lãi suất đợc tính bao hàm trong tổng giá
cả hàng hoá bán chịu, đợc áp dụng khi cá doanh nghiệp cho nhau vay dới hình
thức mua bán chịu hàng hoá.
* Lãi suất tín dụng tiêu dùng : áp dụng khi doanh nghiệp cho ngời lao
động vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Mức lãi suất tín dụng tiêu dùng
tiêu dùng thờng cao hơn lãi suất tín dụng ngân hàng và lãi suất tín dụng nhà n-
ớc.
Các loại lãi suất trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuỳ theo mục
tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ NHNN có phuowng pháp tác động
đến lãi suất dới nhiều hình thức khác nhau. Bằng cách tác động trực tiếp
NHNN tác động trực tiếp đến lãi suất bằng cáhc quy đinh các mức lãi suất
cụ thể hoặc thông qua các công cụ gian tiếp tác động đến lãi suất. Với cách
quản lý lãi suất gián tiếp đòi hỏi phải biết đợc mối liên kết giữa cac loại lãi
suất, dể có thể thông qua lãi suất này để tác động đén các loại lãi suất khác.
ví dụ nh khi nhà nớc muốn hạ thấp mức lãi suất trên thị trờng mà không cần
tác động trực tiếp vào chúng thì nhà nớc có thể hạ mức lãi suất tái cấp vốn
xuống tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng vay nhiều hơn tăng lợng tiền
cung ứng trong lu thông. Lợng tiền cung ứng cho vay không bị khan hiếm sẽ
khiến cho các TCTD giảm lãi suất huy động đồng thời lãi suất cho vay cũng
không bị đẩy lên cao.
3.Các nhân tố ảnh hởng đến lãi suất
Lãi suất là một loại giá cả vì vậy cũng nh những loại hàng hoá khác lãi suất
chịu ảnh hởng lớn của cơ chế cung cầu. Nhng lãi suất không phải là một loại
6
giá cả thông thờng vì vậy khi xem xét những biến đổi của lãi suất các nhà
chuyên môn thờng dựa vào lý thuyết quỹ cho vay. Lý thuyết quỹ cho vay cho
rằng : trong lãi suất đã hàm chứa một mâu thuẫn giữa ngời đi vay và ngời cho
- Tiết kiệm :
7
+ Tiết kiệm của cá nhân, hộ gia đình : đây là thành phần cung cấp nguồn tiết
kiệm chủ yếu, phụ thuộc vào thu nhập hiện có, dự tính trong tơng lai, việc dự
trù của cải cá nhân nắm giữ, mức lãi xuất, dự tính về tỷ lệ lạm phát trong tơng
lai và các biến số khác.
+ Tiết kiệm của các doanh ghiệp : Các doanh nghiệp cũng tập trung tiết kiệm
trong đó củ yếu bằng hình thức lợi nhuận tích luỹ và khấu hao.
+ Nguồn thặng d ngân sách Nhà Nớc.
+ Dòng tiết kiệm nớc ngoài : khi các thị trờng tài chính trở thành toàn cầu hoá
và nhu cầu về tích luỹ trong nớc vợt quá cung quỹ trong nớc thì các chu chuyển
tiền vào từ nớc ngoài trở nên rất quan trọng. Các chu chuyển tiền này đến từ
những quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao và lãi suất tơng đối thấp. Ngoài ra, tỷ giá
hối đoái cũng có thể tác động mạnh mẽ lên các dòng tiết kiệm nớc ngoài.
* Một ngồn bổ sung vào quỹ cho vay là việc cung ứng tiền. Khối lợng của nó
chịu tác động bởi khả năng tạo bút tệ của các ngân hàng thơng mại và việc phát
hành tiền mặt của ngân hàng trung ơng.
Trong các yếu tố của cung quỹ cho vay, tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình
là nguồn cung cấp quỹ chủ yếu, và tỷ lệ tiết kiệm của ngân sách hầu nh không
phụ thuộc vào mức lãi suất. Theo lý thuyết quỹ cho vay lợng cầu quỹ cho vay
có mối tơng quan nghịch đảo với lãi suất và lợng quỹ cho vay có quan hệ thuận
chiều ứng với sự thay đổi của lãi suất.
Khi lợng cung cầu trái khoán cân bằng thì lãi suất cân bằng. Đây là một vị
trí mà thị trờng sẽ ổn định. Nh vậy, lãi suất cân bằng là lãi suất mà thị trờng
luôn hớng tới. Song mức cân bằng không cố định, nó thay đổi khi có nhân tố
làm thay đổi lợng cầu và lợng cung quỹ cho vay trên thị trờng.
Nh vậy, có thể nói các nhân tố tác động đến lợng cung, cầu quỹ cho vay
chính là các nhân tố ảnh hởng đến sự hình thành lãi suất. Hiểu đợc các nhân
tố này ta sẽ nhận thức đợc rõ hơn những biến động của lãi suất qua từng thời
kỳ, tại sao lại có sự thay đổi thờng xuyên về cơ chế lãi suất trong chính sách
suất
d) Thời giá rủi ro và các tính lỏng của tài sản tài chính.
Thời giá của các tài sản tài chính là giá cả hiện thời của tài sản tài chính trên
thị trờng. Do đó thời giá cũng phụ thuộc vào lợng cung cầu tài sản tài chính.
Thời giá và lãi suất có một mối tơng quan nghịch đảo. Bởi vì khi lợng cầu tài
sản tài chính tăng có nghĩa là lợng cung quỹ cho vay tăng, lựong cung tài sản
tài chính giảm, có nghĩa là lợng cầu qũy cho vay giảm. Do vậy lãi suất sẽ giảm.
- Rủi ro : Nếu giá cả của tài sản tài chính không ổn định sẽ làm loại tài sản
này kém hấp dẫn dẫn đến lợng cầu tài sản tài chính giảm do đó cung quỹ cho
vay giảm, lãi suất tăng. Nếu giá của tài tài chính ổn định hơn ngợc lại sẽ làm
tăng lợng cầu dẫn đến tăng quỹ cho vay, lãi suất giảm.
9
- Tính lỏng : đợc quy định bởi hai yếu tố : khả năng hoán chuyển ra tiền mặt,
chi phí quản lí và hoán chuyển ra tiền mặt ( chi phí bảo quản, chi phí môi giới,
chi phí lãi suất, chi phí thanh toán ). Một tài sản có tính lỏng cao là một tài sản
tài chính có thể chuyển đổi sang tiền mặt một cách nhanh chóng với chi phí
quản lí và hoán chuyển thấp
Tính lỏng tài sản tài chính cao thì lợng cầu tài sản tài chính tăng, lợng
cung quỹ cho vay tăng theo làm lãi suất cân bằng giảm xuống ngợc lại tính
lỏng tài sản tài chính iảm sẽ làm cho lãi suất tăng.
Các nhân tố trên nh chúng ta đã khẳng định có ảnh hởng lớn đến
quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế và từ đó có ảnh hởng lớn đến lãi
suất. Vì vậy, khi xây dựng một chính sách lãi suất bất kỳ, dù là chính sách
điều chỉh trực tiếp, thả nổi có sự quản lý hay thả nổi hoàn toàn...cũng đòi hỉ
nhà nớc cần phải xem xét kỹ lỡng đến các nhân tố ảnh hởng trên để ra một
chính sách phù hợp nhất. Trớc tiên cần chú ý đến chính sách lãi suất và sự
phát triển của nền kinh tế, vì suy cho cùng mục tiêu cuối cùng của chính sách
lãi suất cũng chính là nó. Nền kinh tế có phát triển hay không đều ảnh hởng
đến luợng cung cầu vốn và từ dó ảnh hởng đến lãi suất. Vì vậy, khi xây dựng
chính sách lãi suất cần phải tạo điều kiện kích thích, điều tiết hoạt động kinh
Lãi suất là giá cả của vốn, vậy cần phải hiểu cơ chế lãi suất nh thế nào
Không thể định nghĩa một cách vội vàng thế nào là cơ chế lãi suất bởi vì lãi
suất khi đã đợc coi là giá cả của vốn thì đơng nnhiên nó trở thành một bộ
phận của thị trờng, một bộ phận của nền kinh tế. Không những thế còn là
một bộ phận quan trọng vì nó không chỉ ảnh hởng ở tầm vi mô mà còn liên
quan đến tầm vĩ mô. Vì vậy, khi xem xét thế nào là cơ chế lãi suất chúng ta
phải nhìn nhận chúng trong tổng thể cơ chế kinh tế, cụ thể ở đây là cơ chế thị
trờng.
Cơ chế là một khái niệm dùng để chỉ quy luật vận hành của một hệ
thống. Bất kỳ một sự vật, hiện tợng, quá trình kinh tế xã hội trong tự nhiên,
trong xã hội và t duy cũng có thể đợc hình dung là một hệ thống cấu thành từ
các yếu tố có xu hớng trái ngợc nhau nhng làm tiền đề cho nhau tồn tại.
Chính sự tác động giữa hai nhân tố này là nguyên nhân, nguồn gốc, động lực
cho sự vận hành hệ thống.
Vậy cơ chế là khái niệm dùng để chỉ sự tơng tác giữa các yếu tố cấu thành
hệ thống mà nhờ đó hệ thống có thể hoạt động. Ngời ta thờng nói, lợi ích
kinh tế là cơ chế tác động của các quy luật kinh tế, cạnh tranh là cơ chế vận
động của thị trờng, lại nói cơ chế thị trờng là là cơ chế của kinh tế hàng
hoá...
11
Trong lĩnh vực kinh tế, cơ chế kinh tế là tổng thể các yếu tố có mối liên hệ
tác động qua lại ràng buộc lẫn nhau tạo thành động lực dẫn dắt nền kinh tế
phát triển. cơ chế kinh tế mang tính khách quan vốn có của nền kinh tế.
Cơ chế kinh tế đợc xem xét với những cấp độ khác nhau : cơ chế kinh tế
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thuộc cấp độ này là cơ chế chung điều tiết
toàn bộ các hoạt động trong nền kinh tế nh: cơ chế tự cấp, tự túc, cơ chế kế
hoách hoá tập trung, cơ chế thị trờng ... Cơ chế kinh tế điều tiết riêng từng bộ
phận, từng yếu tố, từng lĩnh vực của nền kinh tế nh : cơ chế điều tiết phân
phối thu nhập, cơ chế lãi suất, cơ chế cạnh tranh cơ chế cung cầu ...( theo
nguồn báo nhân dân, ngày 2/8/2001)
tác động tiêu cực của cơ chế thị trờng cần thiết phải có sự can thiệp của
chính phủ vào nền kinh tế. Sự can thiệp của nhà nớc một mặt mhằm địmh h-
ớng thị trờng phục vụ tốt các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, mặt
khác nhằm sửa chữa, khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị tr-
ờng, tạo những công cụ quan trọng điều tiết thị trờng ở tầm vĩ mô mà không
vi phạm cơ chế tự điều chỉnh ở tầm vi mô. Bằng cách đó nhà nớc kiềm chế
sức mạnh nguy hiểm của tính tự phát chứa đựng trong lòng thị truờng, đồng
thời phát huy đợc những u thế vốn có của kinh tế thị trờng.
Việt Nam từ khi nhuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, trong đó
có cả lĩnh vực tín dụng. Tù việc bao cấp qua giá nhà nớc đã dần từng bớc nới
lỏng chính sách tín dụng tuân theo sự vận động của cơ chế thị trờng nhng vẫn
có sự can thiệp của nhà nớc . Thực trạng cơ chế lãi suất Việt Nam trong thời
gian qua vì vậy chính là thực trạng của cơ chế quản lý lãi suất tín dụng của
Việt Nam. Tuỳ theo từng thời kỳ mà sự ác đọng của nhà nứoc vào cơ chế lãi
suất là chặt hay lỏng. Tuy nhiên, trong thời gian hơn 10 năm nhà nứoc luôn
dùng cơ chế kieemr soát trực tiếp lãi suất làm ảnh hởng lớn đến cơ chế tự
điều chỉnh của lãi suất ở tầm vi mô. chỉ mới đây, cơ chế lãi suất mới thực sự
đựoc vận hành theo những quy luật vốn có của nó, nhà nứoc chỉ can thiệp
gián tiếp thông qua những công cụ điều hành của mình, thực sự đa cơ chế lãi
suất Việt Nam chuynẻ sang vận hành theo cơ chế thị trờng.
2. Vai trò của cơ chế lãi suất trong nền kinh tế thị trờng .
a) Cơ chế lãi suất đóng vai trò định hớng cho việc hình thành giá cả sử dụng
vốn trong hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ. thông qua cơ chế lãi suất các
tổ chức tín dụng ấn định đợc mức lãi suất kinh doanh của mình. Từ đó, dung
hoà một cách tự nhiên lợi ích của ngời gửi tiền, ngời vay vốn và các tổ chức tín
dụng. Cơ chế lãi suất đóng vai trò nh ngời dẫn đờng cho các hoạt động kinh
doanh tiền tệ, mức giá cả của vốn phải xoay quanh cơ chế lãi suất hiện hành.
13
Chính sách lãi suất của Việt Nam từ khi chuyển từ cơ chế tập trung
mình
b) Trong thời gian từ 1989 đến nay cơ chế lãi suất đóng một vai trò to lớn
trong việc ổn định tình hình lạm phát ở nớc ta :
14
Việt nam trớc cải cách kinh tế (1880 - 1881) lạm phát đợc coi là lạm phát
ngầm.Sau đó bộc phát công khai thành lạm phát phi mã tới mức ba con số. Cơ
chế lãi suất thực âm đợc nhà nớc thực thi trong suốt thời gian này đã làm cho
lạm phát càng trở lên nghiêm trọng. Năm 1989 lạm phát đã giảm xuống đó là
kết quả tổng hợp của nhiều chủ trơng và biện pháp trong đó cơ chế lãi suất đợc
sử dụng một cách tích cực.Việc thay đổi căn bản chính sách vào đầu năm 1989,
thực hiện cơ chế lãi suất thực dong đã chặn đứng lạm phát 1989.
Năm 1990 -1991 tái lạm phát lại diễn ra cộng thêmvới cơn sốt vàng đô
la . Nhà nớc đã có chỉ đạo liên quyết , thực hiện một cách triệt đẻ cơ chế lãi
suất thực dong làm giảm lạm phát .
Năm 1996 nền kinh tế nớc ta lại rơi vào tình trạng thiểu phát khiến ngân
hàng tiếp tục phải hạ trần lãi suất để phần nào đáp ứng đợc diễn biến và thay
đổi giá.
Nh vậy , có thể thấy rằng lạm phát ở nền kinh tế nớc ra thực sự rất phức
tạp, lúc đạt tới mức phi mã, lúc lại rơi vào tình trạng thiểu phát, cơ chế lãi suất
thích hợp trong từng thời kỳ thực sự đã đóng vai trò quan trọng góp phần ổn
định lạm phát, thúc đẩy phát triển kinh tế.
c) Cơ chế lãi suất đóng vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế. Từ đầu thập niên
90 cho đến nay cùng với việc đổi mới toàn diện chính sách lãi suất đã ngày
càng khuyến khích đầu t và xuất khẩu, kéo theo sự gia tăng GDP, tốc độ tăng
trởng kinh tế ổn định điều đó chứng tỏ rằng cơ chế lãi suất là công cụ tác động
nhạy bến đối với hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn, mở rộng đầu t trong
nớc cũng nh nớc ngoài đối với mọi thành phần kinh tế góp phần làm giảm nhập
siêu, tạo sự phát triển nhanh cho nền kinh tế.
Với chính sách đổi mới của nhà nớc, đặc biệt là việc khống chế lợng tiền
cung ứng, chính sách tín dụng, chính sách lãi suất ... đã thúc đẩy sự cải thiện
tiếp theo nguồn vốn huy động tiếp tục tăng mạnh riêng năm 1995 và nửa đầu
năm 1996 hệ thống ngân hàng thơng mại đã huy động đợc 8000tỷ đồng :tăng
15,2%. tín dụng đầu t cho các ngành kinh tế đều tăng : nông ghiệp tăng
13,3%, công nghiệp tăng 15,6%, xây dựng tăng 10%. Năm 2002 chỉ riêng
ĐBSCL trong 6 tháng đầu năm đã huy động đợc 5650tỷ đồng, tăng 29,6% so
cùng kỳ.Nh vậy có thể thấy chính sách lãi suất tín dụng đã tạo điều kiện cho
các dơn vị kinh tế tăng đầu t, mở rộng sản xuất với chính sách lãi suất hiện
nay, khi nhà nớc đã chuyển đổi hẳn sang cơ chế lãi suất thoả thuận, các
doanh nghiệp càng có điều kiện để phát huy năng lực của mình trong sản
xuất và kinh doanh,xoá bỏ những bất bình đẳng tồn tại lâunay trên lĩnh vực
vốn. Nếu nh năm 1991, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp quốc doanh chiếm
tới 90% tổng d nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống ngân hàng thì đến năm
16
1999 con số này chỉ còn khoảng 48%. Trong tỷ trọng cho vay các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tng từ 10% năm 1991 lên 52% vào năm 1999.
Không chỉ khuyến khích các ngành sản xuất phát triểnchính sách lãi
suất còn đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp và phát triển nông thôn, phục
vụm cho quá trình xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho gần 80%
dân số sống ở nông thôn. Chính sách lãi suất luôn giành sự u đãi cho khu
vực nông thôn, giảm tỷ lệ phần trăm lãi suất co vay so với tỷ lệ cho vay trung
bình của nền kinh tế. Ngân hàng ngời nghèo đến nay đã có thời gian đi vào
hoạt động đựoc hơn 7 năm,đã góp phần giúp nhiều hộ dân thoát khỏi cảnh
đói nghèo. NHNN& PTNT trong thời gian hoạt đọng ngày càng có những
đóng gpó tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn.
qua 10 năm triển khai hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân của
NHNN&PTNT đã tăng trởng liên tục mạnh mẽ : doanh số cho vay chỉ trong
6 tháng đàu năm 2002 so với cả năm 1991 tăng 63 lần ( 23.427.076 triệu
đồng/369.700 triệu đồng). Nếu tính cả trên hai triệu hộ nông dân nghèo có d
nợ tại ngân hàng phục vụ ngời nghèo ( cũng do NHNN& PTNT giải ngân) và
1 triệu hộ nông dân có d nợ tại các TCTD khác thì có trên 8 triệu hộ nông
là cơ chế lãi suất, VND đã lên giá, kéo Việt nam thoát khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế đợc coi là rất nghiêm trọng trong thập kỷ 90. Công cụ lãi suất
đã thực hiện thành công vai trò của mình , nền kinh tế tiếp tục đợc giữ ở
trạng thái ổn định.
CHƯƠNG II
Thực trạng cơ chế l i suất ở việt nam ã
Lãi suất là một trong những công cụ rất quan trọng của chính sách tiền tệ quốc
gia. Tuỳ theo nhịp độ phát triển của nền kinh tế, mức độ ổn định của tiền tệ
mỗi nớc để có nội dung, phơng pháp điều hành và quản lý lãi suất ở mức độ
khác nhau. Đối với nớc ta, đến nay đã tiến một bớc dài quan trọng trong cơ chế
điều hành và quản lý lãi suất. Bớc tiến của việc điều hành công cụ lãi suất nh
hiện nay đã thể hiện một bớc tiến của nền kinh tế trong việc chuyển mình từ
cách quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang quản lý theo cơ chế
thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc.
Sự kiện này đợc bắt đầu từ khi có nghị định 53/ HĐBT ngày 26/ 03/ 1988
và tiếp đến là hai pháp lệnh về ngân hàng 10/ 1989 từ đó ngành ngân hàng đã
trải qua hơn 10 năm đổi mới, trong thời gian đó cũng là hơn 10 năm không
18
ngừng đổi mới chính sách điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nớc, theo từng
bớc tiến dần đến lãi suất thị trờng khi điều kiện kinh tế và tiền tệ cho phép. Sau
đây xin điểm qua các bớc đổi mới chính sách lãi suất theo giai đoạn để chúng
ta có thể hình dung một cách rõ nét nhất các bớc đi trong lộ trình đổi mới cơ
chế lãi suất của chúng ta trong thời gian qua và từ đó có thể định hớng một
chính sách lãi suất mới phù hợp hơn trong giai đoạn mới
Quá trình chuyển biến cơ chế lãi suất trong thời gian qua
I . Cơ chế lãi suất âm .
Trớc năm 1988, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam là một hệ thống ngân hàng
một cấp, về thực chất nó là một bộ phận của ngân sách nhà nớc. Hoạt động chủ
yếu của hệ thống ngân hàng này là nhận vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp
quan hệ của ngân hàng với kinh tế ngoài quốc doanh và với dân chúng hết sức
- Kinh doanh lơng thực.
- Sản xuất công nghiệp vận tải, bu điện, bốc xếp.
- Kinh doanh vật t dợc phẩm.
- Kinh doanh hàng xuất khẩu.
- Kinh doanh thong nghiệp, du lịch, dịch vụ, HTX mua bán, kinh doanh
nhập khẩu, ngoại thơng.
Các loại cho vay khác cũng đợc chia nhỏ thành nhiều đối tợng cho vay tơng tự.
Tiếp sau đó, quyết định số 42/NH-QĐ của tổng giám đốc ngân hàng nhà n-
ớc Việt Nam về lãi suất tiền gửi và cho vay thay thế quyết định số 29 tuy có sự
thay đổi đáng kể trong việc quy định tỷ mỷ các mức lãi suất khác nhau cho
từng đối tợng khác nhau nhng vẫn cha giải quyết thật triệt để nhợc điểm trên.
Có thể thấy, các thành phần kinh tế vẫn còn chịu sự phân biệt đối xử rất lớn,
hoàn toàn không có sự bình đẳng, chịu sự thiệt thòi do t duy bao cấp còn quá
nặng nề, mang tính áp đặt và không sát với thực tế. Việc phân chia các mức lãi
suất một cách qúa cụ thể nh trên thể hiện sự bao cấp qua giá, u đãi một cách
không cần thiết đối với các tổ chức kinh tế là doanh nghiệp nhà nớc.
Lãi suất là một lĩnh vực nhậy cảm có tác động sâu rộng tới nền kinh tế, nh-
ng trong giai đoạn này vẫn đơc xem nh một biện pháp mang tính hành chính.
Vốn đợc coi là một loại hàng hoá và lãi suất là giá cả của vốn, vì vậy, nó cũng
cần phải tuân thủ theo quy luật giá trị và quy luật cung cầu. Nhng những gì thể
hiện trong giai đoạn này hoàn toàn không tuân thủ những quy luật trên. Cơ chế
lãi suất âm tồn tại trong suốt giai đoạn này nh một giải pháp tình thế kéo đất n-
ớc ra khỏi cuộc khủng hoảng. Các quyết số 29/NH-QĐ ngày16 tháng 3 năm
1989 và quyết định số 71/NH-QĐ đều đa ra một mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm
rất cao. Điều một của quyết định số 29 quy định nh sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: 9%/tháng.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng: 12%/tháng.
Sau đó lãi suất tiền gửi tiết kiệm có giảm nhng vẫn giữ ở mức cao ( QĐ số
71/NH-QĐ):
20
Thứ ba, lãi suất tiền gửi cao hơn mức lạm phát còn giúp giảm bớt các
nhu cầu tín dụng giả đợc kích thích bởi mức lãi suất thấp hoặc chênh lệch lãi
suất tạo ra, cũng nh giúp cải thiện và làm lành mạnh hoá tình trạng nợ đọng
trong đời sống kinh tế - xã hội.
21
Thứ t, lãi suất tiền gửi tuy rất cao nhng lãi suất cho vay cũng không ở
mức thấp. Lãi suất cho vay cao khiến ngời vay phải cân nhắc cẩn thận hơn các
khoản vay mới, đồng thời tìm cách trả nợ cũ nhanh để tránh lãi mẹ đẻ lãi con
( bằng cách bán hàng ra để trả nợ, dùng tiền vay cho các vụ đầu t với tốc độ thu
hồi vốn nhanh hơn, có hiệu quả hơn )... Nghĩa là lãi suất cao sẽ giúp giảm tổng
cầu, nhất là cầu giả và tăng tổng cung của nền kinh tế, nhất là từ nguồn hàng
hoá vật t có sẵn trong nền kinh tế.
Lãi suất cao đã làm cho nhiều tổ chức sản xuất kinh donah lâu nay
dựa vào các khoản bao cấp của nhà nớc vềgiá vật t, lãi suất tín dụng, bao tiêu
sản phẩm, cứ tởng là mình làm ăn giỏi, nay bộc lộ tình trạng thật về hiệu quả
kinh doanh của xí nghiệp, buộc phải cải thiện tình hình tài chính kỹ thuật nếu
muốn tiếp tục tồn tại.
Lãi suất cao đã góp phần thủ tiêu tình trạng trợ cấp của nhà nớc cho
các doanh nghiệp thông qua hệ thống lãi suất tín dụng thấp trớc đó. Từ đó cho
phép giảm đáng kể nhu cầu vay tín dụng của các doanh nghiệp nhà nứớc cho
các mục đích trục lợi nhờ những khoản trợ cấp tín dụng trớc đây của nhà nớc.
Nhà nớc bớt phải chi những khoản tiền không nhỏ mà hiệu quả không tơng
thích, thậm chí hại nhiều hơn lợi.
Bên cạnh những mặt tích cực do cơ chế lãi suất âm đạt đợc, vẫn tồn
tạ nhiều bất cập:
Lãi suất phân chia nhiều mức, lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi
suất cho vay nên đã nẩy sinh tiêu cực, có đơn vị kinh tế vay ngân hàng với lãi
suất u đãi, đem vốn về cho các đơn vị khác vay lại hoặc phân tán cho cán bộ,
công nhân viên đem gửi vào tiết kiệm để hởng chênh lệch lãi. Trong lãi suất
mang phần nào chính sách xã hội nên khó xử lý. Nhu cầu vay vốn phát triển
* Điều 1- Lãi suất tiền gửi và cho vay của ngân hàng đợc quy định
theo nguyên tắc sau đây:
a) Bảo tồn đợc vốn và có lãi:
- Lãi suất tiền gửi phải bù đắp đợc tỷ lệ trợt giá và có lãi, khuyến khích các
tổ chức và đơn vị kinh tế gửi tiền vào ngân hàn.
- Lãi suất cho vay phải bù đắp đợc tỷ lệ trợt giá, có lãi (trong trờng hợp cần
thiết có thể không lấy lãi) và có sự u đãi với những mặt hàng, nghành kinh tế và
vùng kinh tế cần khuyến khích.
b) Lãi suất áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế, và đợc điều chỉnh
theo sự biến động của chỉ số giá cả thi trờng xã hội ( tháng hoặc quý ).
c) Mọi nguồn vốn Ngân hàng huy động để cho vay đều phải trả lãi. Mọi
khoản ngân hàng cho vay đều phải thu lãi. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và
lãi suất tiền gửi bình quân là 0,5%.
d) Lãi suất tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ áp dụng theo mức lãi suất thị tr-
ờng quốc tế.
23
* Điều 2- Cấu thành mức lãi suất tiền gửi và cho vay của ngân hàng
bao gồm:
- Mức lãi suất cơ bản.
- Chỉ số giá cả thị trờng xã hội.
Những quy định trong văn bản đã thể hiện sự đổi mới lớn về t duy của các nhà
hoạch định chính sách. Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách trên thực tế gặp
nhiều khó khăn, đặc biệt khi lạm phát đang ở mức cao. Nguyên nhân thì có
nhiều nhng chủ yếu là những nguên nhan sau :
Một là : Thực tế lạm phát ở Việt Nam, biến động hết sức thất thờng và hệ
số thông tin, số liệu cha chính xác, do đó, nếu lấy tỷ lệ lạm phát làm cơ sở điều
chỉnh lãi suất sẽ tạo ra nguy cơ sai lệch lớn hơn so với thực tiễn. Điều đó đã
xảy ra vào tháng 3 năm 1989 khi mức lạm phát là 5,1%/tháng thì lãi suất tiền
gửi tiết kiệm đợc nâng lân mức 12%/tháng, đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ han
3tháng. Dới tác động mạnh của lãi suất cao, tỷ lệ lạm phát giảm đột ngột, và 3
chế cũ sang cơ chế mới đợc hình thành trong điều kiện t duy mới về ngân hàng
còn hạn hẹp, cha theo kịp và thích ứng với các khái niệm mới, t tởng bao cấp
còn nặng nề, phơng tiện phục vụ cho việc thực hiện cơ chế mới lạc hậu cũ kỹ
không đáp ứng đợc yêu cầu.
Nói tóm lại, cơ chế lãi suất âm tồn tại là một tất yếu khách quan khó có thể
phủ nhận trong tình trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ còn hạn chế và nền
kinh tế nh vậy. Khi nền kinh tế ổn định hơn điều tất yếu xảy ra là cơ chế cũ sẽ
phải thay đổi, mở đầu cho một cơ chế mới hoàn thiện hơn, phù hợp với quy luật
kinh tế hơn. Lãi suất sẽ trở lại đúng nghĩa là giá cả của hàng hoá chứ không
phải là một công cụ mang tính hành chính đơn thuần.
II. Cơ chế lãi suất dơng.
Trong điều kiện nền kinh tế vẫn tiếp tục lạm phát ở mức độ cao,đầu năm 92 tỷ
lệ trợt giá dự kiến là 2,7%/tháng nhng thực tế là 4,6%/tháng, giá vàng đô la
tăng cao, hậu quả cũ trong lĩnh vực vốn ( nợ khê đọng , lỗ huy động vốn tiết
kiệm ...) cha đợc giải quyết, nguồn vốn huy động của các tổ chức quốc tế và
ngân hàng nớc ngoài cha khai thông đợc. Ban lãnh đạo ngân hàng nhà nớc đã
kiên trì phơng châm vay để cho vay, vốn tín dụng chủ yếu tập trung cho các
nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế, kiên quyết đổi mới cơ cấu tín dụng, dần dần
thoát khỏi cơ chế lãi suất âm tiến dần tới cơ chế lãi suất dơng.
Việc chuyển đổi cơ chế lãi suất mới đặt nhà các nhà quản lý trớc một mâu
thuẫn: nếu không bảo tồn giá trị tiền gửi tiết kiệm thì ngời gửi tiền sẽ bị thiệt
thòi hoặc sẽ rút ra, gây sóng gió trên thị trờng vàng và đô la và tác động tiêu
cực đến sản xuất và đời sống.Nhng nếu nâng lãi suất lên bằng mức lãi suất cơ
bản cộng trợt giá với điều kiện lãi suất cho vay phải lớn hơn lãi suất huy động
thì ngời vay vốn không chịu đựng đợc. Duy trì mãi lãi suất âm thì điều đó
không thể đợc vì cơ chế này tồn tại quá nhiều mâu thuẫn nh trên đã phân tích.
25