Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này - Pdf 26

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I. Khái niệm 2
1. Khái niệm “Con nuôi” 2
2. Khái niệm “Nuôi con nuôi” 2
II. Điều kiện của việc nuôi con nuôi 3
1. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi 3
2. Điều kiện đối với người nhận con nuôi 4
3. Điều kiện về ý chí của chủ thể quan hệ nhận nuôi con nuôi 6
4. Điều kiện về hình thức 7
III. Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi 8
IV. Giải pháp hoàn thiện 10
C. KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
1
1
A. MỞ ĐẨU
Nuôi con nuôi là một là một vấn đề mang tính nhân đạo, nó đóng vai
trò quan trọng khi giải quyết những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Chính vì vai trò của nó nên nó cần được đặc biệt chú trọng. Pháp luật Việt
Nam nhận thức được điều đó nên luôn có những sự quan tâm cần thiết đến
vấn đề nuôi con nuôi. Để hiểu rõ hơn về những chính sách ấy, em xin chọn đề
bài số 11: “Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi và một số giải pháp hoàn
thiện pháp luật về vấn đề này” làm đề tài nghiên cứu bài tập lớn của mình.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái niệm
1. Khái niệm “Con nuôi”
Dưới góc độ xã hội, con nuôi là con của người khác nhưng được một,
hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con và coi như con đẻ, nhằm thoả mãn
những nhu cầu, lợi ích nhất định của các bên.

đầy đủ nhưng đã có khả năng nhận thức nhất định về cuộc sống, có thể nhận
biết và bày tỏ thái độ của mình mong muốn hay không mong muốn làm con
nuôi người khác, cũng như cảm nhận được sự an toàn hay không an toàn khi
được cho làm con nuôi người khác, khi phải thay đổi môi trường sống, Do
đó, pháp luật quy định trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên có quyền thể hiện ý chí độc lập,
quyết định vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình, sự đồng ý
của trẻ từ đủ 9 tuổi là điều kiện bắt buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp
lí.
Ý chí của Nhà nước được thể hiện qua việc công nhận (hay không công
nhận) việc nuôi con nuôi, thông qua thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi (hay
từ chối việc đăng kí nuôi con nuôi). Việc nuôi con nuôi được công nhận tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền làm phát sinh hiệu lực pháp lý của việc nuôi
con nuôi.
II. Điều kiện của việc nuôi con nuôi
1. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi
3
3
Về vấn đề này, Luật Hôn nhân và gia đình với Luật nuôi con nuôi có sự
khác nhau.
Khoản 1, điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Người được
nhận làm con nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống. Người trên
mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn
tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu
cô đơn.”
Còn khoản 1 điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 lại quy định người
được nhận làm con nuôi là “trẻ em dưới 16 tuổi”, nguyên nhân là do ở độ tuổi
này chưa có sự trưởng thành đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần, đang trong quá
trình định hình và phát triển nhân cách, rất cần sự quan tâm chăm sóc, giáo
dục của người lớn. Ngoài ra, quy định độ tuổi như vậy cũng tương ứng với
các quy định của các ngành luật khác như Lao động, dân sự, do đây là lúc đã

điều kiện quy định tại điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình.
Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và
con theo quy định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.
Con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng
được người khác nhận làm con nuôi vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi
của con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng.
* Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trẻ em được người nước ngoài nhận làm con nuôi là điều hết sức tốt
đẹp nếu họ có đủ điều kiện chăm lo cho đứa trẻ đó có một mái ấm hạnh phúc
và một tương lại tươi sáng. Nhưng, liệu cho trẻ em nhận làm con nuôi người
nước ngoài có đảm bảo được sự an toàn và lợi ích của trẻ em hay không? Vấn
đề này chưa được đặt ra trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nhưng
được nhắc đến trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010:
“1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường
trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đầy đủ các điều
kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định
tại điều 14 của luật này.
2. Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ
các điều kiện theo quy định tại điều 14 của luật này và pháp luật của nước
nơi người được nhận làm con nuôi thường trú. “
Qua đó cho thấy việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phải đảm bảo
đủ điều kiện pháp luật nơi người nhận nuôi thường trú và đủ điều kiện của
5
5
người nhận con nuôi theo điều 14 Luật nuôi con nuôi nhằm ngăn chặn việc
nhận nuôi trẻ em vào những mục đích xấu như đánh đập, hành hạ hay làm nô
lệ, Nó cũng thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhằm bảo đảm cho
trẻ em được sống trong môi trường giáo dục tốt nhất để phát triển cả về thể
chất và trí tuệ.
3. Điều kiện về ý chí của chủ thể quan hệ nhận nuôi con nuôi

theo yêu cầu của những người được quy định tại điều 77 Luật Hôn nhân và
gia đình.
4. Điều kiện về hình thức
Điều 72 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc nhận nuôi con
nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ hộ
tịch. Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, giao nhận con nuôi được thực hiện
theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”
Theo quy định của pháp luật về hộ tích, việc nhận con nuôi giữa công
dân Việt Nam với nhau được đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã (phường, thị
trấn) nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi; việc nhận nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài phải được đăng ký tại uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (nếu ở khu
vực biên giới thì do uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của công dân Việt
Nam công nhận.
Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi gồm: giấy thoả thuận về việc cho và
nhận con nuôi theo mẫu; bản sao giấy khai sinh của người được nhận làm con
nuôi; biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi, nếu người được nhận làm con
nuôi là trẻ bị bỏ rơi.
Trong đó, giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi phải do chính
cha mẹ đẻ và người nhận con nuôi lập, kể cả trong trường hợp cha mẹ đẻ đã li
hôn. Nếu một bên cha, mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn
chế năng lực hành vi dân sự thì chỉ cần chữ kí của người kia; nếu cả cha mẹ
đẻ đều đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lựuc hành vi
dân sự thì người giám hộ của trẻ sẽ kí Giấy thoả thuận. Trẻ em trên 9 tuổi thì
trên Giấy thoả thuận phải có ý kiến của người đó về việc đồng ý làm con
nuôi, trừ trường hợp người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng
lực hành vi dân sự. Trường hợp người nhận con nuôi không cư trú tại xã,
phường thị trấn, nơi đăng kí việc nuôi con nuôi thì Giấy thoả thuận phải có
7
7
xác nhận của Uý ban nhân dân cấp xã, nơi người nhận con nuôi cư trú về việc

8
8
và con theo quy định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.
Con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng được
người khác nhận làm con nuôi vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của
con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng.”
Như vậy, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, quan hệ pháp luật
giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được xác lập, theo đó, giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định tại Luật Hôn
nhân và gia đình. Con nuôi có quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản đối
với cha mẹ nuôi như con đẻ và ngược lại, tức là, giữa cha mẹ nuôi với con
nuôi có quyền và nghĩa vụ như giữa cha mẹ đẻ với con đẻ, được quy định từ
điều 34 đến điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình. Con liệt sĩ, thương binh, con
của người có công với cách mạng được người khác nhận làm con nuôi vẫn
được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ, thương binh, người có công
với cách mạng.
Khi một người làm con nuôi người khác thì cha mẹ nuôi có quyền yêu
cầu thay đổi họ, tên, xác định lại dân tộc cho con nuôi, được quy định rõ trong
khoản 1 điều 75 Luật Hôn nhân và gia đình:
“Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định việc thay đổi họ tên của con nuôi. Việc thay đổi họ, tên của con
nuôi từ đủ chín tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó. Việc thay đổi
họ, tên của con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ chín tuổi trở lên phải được sự đồng ý
của người đó và được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch (Điều
28 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ).
Việc xác định dân tộc của con nuôi được quy định tại điều 28 Bộ luật
dân sự năm 2005. Điều 22 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ cũng
quy định con nuôi được xác định dân tộc theo dân tộc của cha, mẹ đẻ; trường
hợp cha, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì được xác định là dân tộc của

miền núi, dân tộc thiểu số, có chế tài rõ ràng cụ thể, tuyên truyền phổ biến
pháp luật về nuôi con nuôi và hộ tịch sâu rộng để nâng cao nhận thức của các
ngành, các cấp và người dân.
Tiếp theo, cần có sự thống nhất, loại bỏ bớt những quy định không cần
thiết trong hồ sơ đăng ký, ví dụ như bỏ tường trình của người phát hiện trẻ (đã
được thể hiện ở biên bản bỏ rơi trẻ em); bổ sung thêm quy định về giấy thoả
thuận trong hồ sơ đăng ký trong trường hợp cha mẹ đã ly hôn, nếu hai bên
không liên lạc được với nhau thì giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi
chỉ cần chữ ký của người hiện đang nuôi dưỡng trẻ (quy định như khoản 1
10
10
điều 26 NĐ 158 khó thực hiện). Đối với trường hợp người cho con đang chấp
nhận hình phạt tù, không thể có mặt tại UBND xã nơi làm thủ tục, nên có quy
định linh hoạt cho phép vắng mặt có giấy xác nhận của cơ quan quản lý. Hiện
tượng nhiều cha mẹ nuôi ngại thủ tục phiền hà nên không đăng kí hộ tịch dù
việc nuôi con đã được thực hiện trên thực tế, đã ảnh hưởng rất nhiều đến
quyền lợi của con nuôi, ví dụ như nếu cha mẹ nuôi mất, con nuôi không được
pháp luật công nhận, không được hưởng thừa kế.
Cần xem xét và sửa đổi quy định về phần khai dân tộc của trẻ em được
nhận làm con nuôi. Nên có quy định cho phép thay đổi dân tộc của trẻ em
được nhận làm con nuôi theo dân tộc của cha mẹ nuôi mà không nhất thiết chỉ
khi không xác định được cha mẹ đẻ để đảm bảo sự hòa nhập của trẻ trong môi
trường gia đình thay thế.
Cũng cần sửa đổi, bổ sung quy định cho phép được thay đổi phần khai
về họ tên cha mẹ đẻ sang cha mẹ nuôi trong giấy khai sinh của trẻ em sau khi
làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi. Theo quy định hiện nay, nếu cha mẹ đẻ và
cha mẹ nuôi không đạt được thỏa thuận thì phần khai về cha mẹ vẫn giữ
nguyên của cha mẹ đẻ, như vậy sẽ ảnh hưởng tới sự hòa nhập, tâm lý của trẻ
em và cha mẹ nuôi.
Tương tự, cũng cần có quy định linh hoạt hơn về việc thay đổi họ tên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status