Nuôi con nuôi thự tế và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này - Pdf 13

Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
LỜI MỞ ĐẦU
Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Ở
nước ta, nuôi con nuôi là một vấn đề mang tính nhân đạo, được Đảng và nhà nước quan
tâm sâu sắc. Trong hoàn cảnh đất nước đất nước hiện nay vấn đề nuôi con nuôi càng trở
nên cấp thiết trong đời sống xã hội. Bên cạnh ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ em,
việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con
nuôi, đặc biệt là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn,
sống đơn thân.Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, do phong tục tập quán và do thói quen,
có rất nhiều trường hợp nhận con nuôi nhưng lại không đăng kí nuôi con nuôi tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến các quyền và
nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ này.Giải quyết hậu quả pháp lí của những
trường hợp này là rất phức tạp cần sự điều chỉnh của pháp luật. Nhận thức được tầm
quan trọng của đề tài, nhóm em lựa chọn đềtài : “Nuôi con nuôi thực tế và một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”. Nhóm rất mong nhận được những góp ý của
Thầy, Cô để bài làm được hoàn thiện.
PHẦN NỘI DUNG
I. Những vấn đề chung
1. Các khái niệm
- Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và
người được nhận làm con nuôi. (theo Khoản 1 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010).
- Nuôi con nuôi thực tế là hình thức nuôi con nuôi làm hình thành quan hệ cha mẹ
và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi. Việc nhận nuôi thoả mãn
đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, không trái với mục đích của việc nuôi con
nuôi và đạo đức xã hội. Người con nuôi cùng sống trong gia đình cha mẹ nuôi. Giữa
người nhận nuôi và người được nhận nuôi có mong muốn thiết lập quan hệ cha mẹ và
1
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
con, đối xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con, đồng thời thực hiện đầy đủ các quyền
và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau để xây dựng một gia đình thật sự. Quan hệ

được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường gia đình. Trong khi đó, việc làm
con nuôi của người già yếu cô đơn lại nhằm mục đích ngược lại - nhận con nuôi để cha
mẹ nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng, mặt khác thương binh, người già yếu, cô đơn thì
Nhà nước đã có những chính sách khác đối với họ.
Bên cạnh đó, Luật còn bổ sung nhóm đối tượng người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi, đây là quy định mới so với các chế định nuôi con nuôi trước. Như đã
biết, trong một số quan hệ dân sự có sự điều chỉnh thông qua việc ghi nhận quan hệ thừa
kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên (Điều
679 Bộ luật Dân sự 2005). Vì vậy, vì những lí do nào đó mà những đối tượng này không
còn cha mẹ ruột, mặc dù đã đủ tuổi chịu trách nhiệm đối với một số lĩnh vực nhưng về
bản chất họ còn là những người chưa thành niên, thì việc tạo điều kiện để các đối tượng
này được tiếp tục sống với bố dượng, mẹ kế hoặc những người cùng huyết thống là việc
làm cần thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc.
• Đối với người nhận nuôi:
Để đảm bảo cho người nhận nuôi con nuôi thực hiện tốt chức năng làm cha, làm mẹ
của mình, người nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định tại Điều
14 Luật Nuôi con nuôi:
3
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005,
người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên),
không phải là người bị mất năng lực hành vi dân sự và không phải là người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự
1
. Đây là một quy định rất cần thiết cho việc bảo đảm cho người
con nuôi được chăm sóc nuôi dưỡng, được hưởng một cuộc sống trọn vẹn…
- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Quy định sự chênh lệch độ tuổi giữa người nuôi và
con nuôi sẽ đảm bảo cách ứng xử trong gia đình hợp với lẽ sống, truyền thống văn hóa và
đặc biệt là để cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con nuôi đạt hiệu quả, nhằm

con nuôi do sự lệ thuộc của người con nuôi vào cha, mẹ nuôi.Mỗi cá nhân nếu có đủ các
điều kiện trên thì pháp luật mới cho phép nhận con nuôi.
b Đến thời điểm Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực (từ ngày 01 tháng 01 năm 2011),
quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống.
Trong thời gian Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực sự tồn tại của quan hệ cha, mẹ và
con và cả hai bên còn sống, đây là điều rất quan trọng nhằm đảm bảo cho sự thể hiện ý
chí của các bên. Nghĩa là người nhận nuôi và người được nuôi vẫn còn sống chung trong
một mái nhà, trong tình cảm cha, mẹ và con. Vì thực tế không loại trừ trường hợp nhiều
người sẽ lợi dụng cơ hội này xác lập quan hệ cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi trong khi
người nhận nuôi hoặc người được nhận nuôi trước đây đã chết mục đích để được thừa
kế tài sản hoặc xác lập lại quan hệ cha, mẹ và con chấm dứt đã lâu cũng nhằm mục đích
được phân chia tài sản. Đối với con nuôi thực tế hoặc con nuôi có đăng ký thì điều kiện
đầu tiên để xác lập được quan hệ nuôi con nuôi thì phải có sự bày tỏ ý chí của người
nhận nuôi, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được nuôi, nếu người được nhận
nuôi có khả năng bày tỏ ý chí của mình thì ý kiến của người được nhận nuôi phải được
xem xét đến. Vì vậy, nếu một bên người nhận nuôi hoặc người được nhận nuôi đã chết
5
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
hay vì một lí do nào đó mà quan hệ cha, mẹ và con đã chấm dứt mặc dù quan hệ nuôi con
nuôi đã được xác lập trước đây thì quan hệ cha, mẹ và con nuôi sẽ không được công nhận
là con nuôi thực tế vì sẽ không đảm bảo được sự tự nguyện cũng như mục đích của việc
nuôi con nuôi.
c Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau
như cha mẹ và con.
Không phải quan hệ nuôi con nuôi nào cũng tồn tại và phát sinh quan hệ cha mẹ con
thật sự khi không đăng ký như trường hợp nuôi con nuôi trên danh nghĩa là việc các bên
nhận nhau là cha mẹ nuôi và con nuôi xuất phát từ tình cảm, nhưng không gắn với quyền
và nghĩa vụ của cha mẹ và con, không nhằm mục đích hình thành quan hệ cha mẹ và con
trong thực tế, các bên có thể đối xử với nhau, gọi nhau là cha mẹ và con, nhưng không

- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành
niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng
lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học
tập. Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đẩm ấm, hòa
thuận, làm gương tốt cho con về mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ
chức xã hội trong việc giáo dục con. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha
mẹ có thể đề nghị cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo
dục con.
-Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành
viên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người đại diện khác theo pháp
7
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
luật.Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại cho con chưa thành niên, con đã mất năng lực
hành vi dân sự gây ra theo quy định của bộ luật dân sự.
-Cha mẹ có quyền quản lý hoặc ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của
con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự, cha mẹ có quyền định đoạt tài sản
riêng của con dưới 15 tuổi vì lợi ích của con và có tính đến nguyện vọng của con, nếu con
từ 9 tuổi trở nên; nếu con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi khi định đoạt tài sản riêng có
giá trị lớn của mình hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì cũng phải có sự đồng ý của cha
mẹ.
-Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ , xúc phạm
con. Không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, không được xúi giục,
ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
-Cha mẹ và con có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của bộ luật dân
sự.
-Con cóbổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe
những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của gia đình, có
nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt là khi cha mẹ ốm đau, già

định tại Điều 676 – Người thừa kế theo pháp luật và Điều 677 – Thừa kế vị (BLDS, 2005).
c Quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ đẻ:
Đối với mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ đẻ, Luật hôn nhân và gia đình 2000
quy định rất ít về vấn đề này.Đối với vấn đề nhân thân, Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy
định về quyền của con liệt sĩ, thương binh, con của người có công với cách mạng. Về vấn
9
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
đề tài sản, cha mẹ đẻ và con đã được cho làm con nuôi vẫn có quyền thừa kế di sản của
nhau.Đối với quyền nghĩa vụ khác, Luật không có quy định cụ thể, điều này gây ra sự khó
khăn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con nuôi trên thực tế. Ví
dụ như xác định cha mẹ đẻ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc hoặc đại diện theo pháp luật
cho con hay không. Để giải quyết vấn đề này Luật nuôi con nuôi đã quy định “Trừ trường
hợp cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha
mẹ đẻ không có quy quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo
pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí tài sản riêng đối với con cho làm con nuôi”
(Khoản 2 điều 4). Theo quy định trên thì khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập, trong
quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con nuôi có thể xảy ra các trường hợp sau:
Thứ nhất, giữa cha mẹ đẻ và con nuôi sẽ không có quyền và nghĩa vụ được nêu
trong khoản 4 điều 24, trường hợp xảy ra khi cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thỏa
thuận chấm dứt toàn bộ quyền và nghĩa vụ trên.
Thứ hai, cha mẹ đẻ vẫn còn các nghĩa vụ nói trên đối với con đã cho làm con nuôi,
điều này phải dựa trên thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Trường hợp này tùy
theo sự thỏa thuận với cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ vẫn còn toàn bộ quyền và nghĩa vụ nói
trên với con nuôi hoặc chỉ một số quyền và nghĩa vụ nhất định. Ngược lại, nếu hai bên
cha mẹ không có thỏa thuận gì thì mối quan hệ trên cũng không tồn tại.Luật Nuôi con
nuôi không có quy định cụ thể về hình thức của sự thỏa thuận. Theo quan điểm của nhóm
thì sự thỏa thuận này cần thiết phải được lập thành văn bản, và phải được nêu rõ khi
việc giao nhận nuôi con nuôi được tiến hành tại sở tư pháp. Đồng thời Luật cũng quy
định rõ nội dung những thỏa thuận này đều phải vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em được cho

Nam do cơ quan hành chính thực hiện, quy định này rất phù hợp với điều kiện, tình hình
11
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
của nước ta hiện nay. Theo đó, trình tự, thủ tục cho - nhận con nuôi vẫn do cơ quan hành
chính thực hiện, nhưng Tòa án là cơ quan ra quyết định công nhận.
Trình tự, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi thực tế Khoản 3 Điều 50 Luật Nuôi con
nuôi quy định: “Chính phủ quy định chi tiết thủ tục đăng ký nuôi con nuôi qui định tại
Điều này, bảo đảm thuận lợi và phù hợp với điều kiện thực tế của nhân dân ở các vùng
miền”. Theo đó, trình tự, thủ tục đăng ký công nhận con nuôi thực tế sẽ được hướng dẫn
riêng, khác với trình tự, thủ tục đăng ký con nuôi trong nước, để phù hợp với điều kiện
của người dân, đảm bảo cho người dân có đủ điều kiện và tự nguyện đi đăng ký. Nghị
định số 19/2011/NĐ-CP
Thứ nhất, Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế được quy định tại Nghị đinh số
19/2011/NDCP phải bao gồm:
“1. Người nhận con nuôi phải làm Tờ khai đăng ký nuôi con nuôi thực tế và nộp cho Ủy
ban nhân dân cấp xã, nơi người đó thường trú. Trong Tờ khai cần ghi rõ ngày, tháng,
năm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi trên thực tế, có chữ ký của ít nhất hai người làm
chứng.
2. Kèm theo Tờ khai phải có các giấy tờ sau đây:
a) Bản sao Giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của người nhận con nuôi;
b) Bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh của người được nhận làm con
nuôi;
c) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn của người nhận con nuôi, nếu có;
d) Giấy tờ, tài liệu khác để chứng minh về việc nuôi con nuôi, nếu có.”
12
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
Thứ hai Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế được quy định tại Điều 25 của
Nghị định này như sau :

thủ tục công nhận việc nuôi con nuôi, nhưng về mặt tình cảm và đạo lý thì đây là vấn đề
không nhỏ, có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người nhận nuôi và cả người được
nuôi nhất là trong lĩnh vực thừa kế.
2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Thực tế cho thấy, hiện nay phát sinh khá nhiều yêu cầu giải quyết các quan hệ về
nhân thân và tài sản giữa người nhận con nuôi với người được nhận con nuôi, mà việc
nhận nuôi đó chưa được sự công nhận của cơ quan có thảm quyền và chưa được ghi vào
sổ hộ tịch, mặc dù quan hệ cha, mẹ con cái giữa hai bên đã được xác định trên thực tế
trong thời gian dài. Việc cần có một giải pháp có tính khả thi để giải quyết tình trạng này
là một yêu cầu khách quan và cấp thiết, cần được pháp luật quan tâm và điều chỉnh.
a. Thời hạn đăng ký nuôi con nuôi thực tế
Theo Luật Nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau
trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng đủ
các điều kiện. Nghĩa là thời gian mà người dân được phép đi đăng ký con nuôi thực tế là
từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2015, nếu hết thời gian này mà họ không đi
đăng ký thì quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi của họ sẽ không được công nhận, các quyền
và lợi ích giữa người nhận nuôi và người được nuôi sẽ không được công nhận và nếu có
tranh chấp xảy ra sau này cũng sẽ không được giải quyết. Tuy nhiên hầu hết, các trường
hợp nuôi con nuôi thực tế không đi đăng ký đều do người dân không am hiểu pháp luật.
Nếu có người dân đến hết thời hạn cho phép đăng ký con nuôi thực tế mới hiểu hết quyền
14
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
và lợi ích của việc đăng ký, mới có điều kiện đi đăng ký thì pháp luật sẽ không công nhận?
Như vậy, không những sẽ tạo ra tâm lý hoang mang, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân,
mà còn có thể dẫn đến làm gia tăng những mâu thuẫn, tranh chấp liên quan đến các vấn
đề về hệ quả của nuôi con nuôi, trong đó có vấn đề thừa kế tài sản vốn là một trong
những vấn đề rất phức tạp trong đời sống dân sự hiện nay.
Theo nhóm, luật nên kéo dài thời hạn đăng ký nuôi con nuôi thực tế vì thời hạn 05

dẫn riêng.
- Điều kiện thứ hai: Luật quy định đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha,
mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống. Tuy nhiên, nếu có trường hợp việc
nuôi con nuôi đã được xác lập cũng không đi đăng ký, quan hệ cha, mẹ con được mọi
người công nhận, họ sống chung với nhau và thật sự xem nhau như là cha, mẹ con ruột
nhưng không may người nhận nuôi chết ngày 31 tháng 12 năm 2010 trước ngày Luật
Nuôi con nuôi có hiệu lực thì pháp luật không công nhận là con nuôi thực tế.
Do đó cần có những quy định hướng dẫn thêm về vấn đề này để bảo vệ những lợi ích
chính đáng của của người nhận nuôi và người được nuôi đã phát sinh trên thực tế cụ thể
là sẽ quy định hai trường hợp:
+Đến thời điểm Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang
tồn tại và cả hai bên còn sống, thì trong quá trình đăng ký công nhận con nuôi thực tế, thì
Ủy ban nhân dân cấp xã cử công chức tư pháp – hộ tịch phối hợp Công an xã tiến hành
kiểm tra và xác minh, Tờ khai cần ghi rõ ngày, tháng, năm phát sinh quan hệ nuôi con
nuôi trên thực tế, có chữ ký của ít nhất hai người làm chứng.
+ Đến thời điểm Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực mà một trong hai bên cha mẹ nuôi
hoặc con nuôi đã chết nhưng người còn lại có nguyện vọng pháp luật hóa quan hệ cha
16
Nhóm 3 - NO4 – TL3
Bài tập nhóm tháng 2 – môn Luật Hôn nhân và gia đình
mẹ nuôi con nuôi và thì Ủy ban nhân dân cấp xã cử công chức tư pháp – hộ tịch phối hợp
Công an xã tiến hành kiểm tra và xác minh, Tờ khai cần ghi rõ ngày, tháng, năm phát
sinh quan hệ nuôi con nuôi trên thực tế và có chữ ký của ít nhất mười người làm chứng.
PHẦN KẾT BÀI
Việc cho nhận con nuôi là hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội
Việt Nam nhằm thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa người nhận con nuôi và người được
nhận làm con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con. Khi được điều chỉnh bằng pháp luật,
việc cho nhận con nuôi phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật. Vì vậy, nuôi con
nuôi là một chế định pháp lý trong hệ thống pháp luật Việt Nam.Trải nghiệm và đồng
hành cùng sự phát triển của xã hội trong mỗi thời kỳ, các quy định của pháp luật về nuôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status