NHIỆM VỤ 2
Câu 1. Phân tích cơ sở đổi mới dạy học theo quan điểm dạy học định hướng phát triển
năng lực.
Bước sang thế kỉ 21, do tốc độ phát triển của xã hội hết sức nhanh chóng với những biến
đổi liên tục và sự tăng khối lượng tri thức một cách nhanh chóng, đặc biệt trong các lĩnh vực
thông tin truyền thông, công nghệ vật liệu, điện/điện tử tự động hóa, phương pháp tiếp cận nội
dung dần trở nên lạc hậu. Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ đối mặt và đứng vững trước những thách
thức của đời sống, vai trò của giáo dục ngày càng trở nên quan trọng. Thay đổi, sửa sang, cải
tiến chương trình, thậm chí cải cách giáo dục đã được nhiều nước tiến hành. Có khá nhiều vấn
đề đặt ra khi xem xét chỉnh sửa, đổi mới chương trình. Trước hết là việc xem xét, thiết kế lại cần
theo cách tiếp cận nào? Bản chất củacách tiếp cận ấy là gì? Và tại sao lại theo hướng tiếp cận
này?
Việt Nam luôn coi giáo dục là Quốc sách hàng đầu, do vậy giáo dục luôn được quan tâm
ưu tiên đầu tư. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở Việt Nam chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu
phát triển của xã hội. Thực trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay còn nặng về nội dung, chưa chú
trọng nhiều đến phát triển năng lực cho người học. Thực trạng đó xuất phát từ việc áp dụng
chương trình dạy học định hướng nội dung (hay định hướng đầu vào) tồn tại phổ biến trên thế
giới cho đến cuối thể kỷ XX và hiện nay vẫn còn tồn tại ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
Đặc điểm cơ bản của chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyền thụ
hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học.
Một xu hướng để đổi mới chương trình dạy học đang được bàn đến nhiều từ những năm
90 của thế kỷ XX ở nhiều quốc gia, đó là chuyển từ dạy học định hướng nội dung sang dạy học
định hướng phát triển năng lực, nói rộng hơn là giáo dục định hướng kết quả đầu ra
(Outcome-based Education - OBE). Việc đổi mới chương trình dạy học này hoàn toàn có cơ sở.
a. Ta phải chuyển từ dạy học định hướng nội dung sang dạy học định hướng phát
triển năng lực vì:
Định nghĩa tiếp cận nội dung : là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh
vực/môn học nào đó. Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn người học cần
biết cái gì? Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào yêu cầu nội dung học vấn của một khoa học bộ
môn nên nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú đến tiềm năng, các
giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học.
dụng nên sản phẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo
và năng động. Ví dụ: Do giáo dục thiếu toàn diện nên một thực trạng đáng báo động trong việc
dạy học ở trường PT hiện nay đó là vẫn đang nặng về kĩ năng viết trong khi đó kĩ năng nói chưa
thực sự được chú trọng. Học sinh không tự tin giới thiệu về mình hoặc trình bày – thuyết trình
một vấn đề trước đám đông.
Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng được đầy đủ mục tiêu đặt ra: giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng
lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo. Đầu ra giáo dục không đáp ứng được yêu cầu xã hội,
học sinh, sinh viên ra trường không xin được việc làm do thiếu kĩ năng mềm và thiếu kinh
nghiệm thực tiễn. Con đường giáo dục dường như đang đưa con người đi vào những lối mòn,
những ngõ cụt đầy bế tắc.
Xuất phát từ những yêu cầu của toàn cầu hóa và xã hội tri thức đối với giáo dục. Ngày
nay, xã hội ngày một phát triển nên nhiệm vụ xã hội đặt ra cho giáo dục ngày càng cao hơn.
Giáo dục cần phải giải quyết những mâu thuẫn tri thức ngày càng tăng mà thời gian đào tạo lại
có hạn.
Giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường lao động và
nghề nghiệp cũng như cuộc sống, có khả năng hòa nhập và cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là:
- Năng lực hành động
- Tính sáng tạo năng động.
- Tính tự lực và trách nhiệm.
- Năng lực cộng tác làm việc.
- Năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
- Khả năng học tập suốt đời.
Do đó, chúng ta cần phải chuyển sang dạy học định hướng phát triển năng lực để giúp
cho học sinh hoàn thiện bản thân mình một cách toàn diện về trí, đức, thể, mĩ và có thể vận dụng
được nội dung kiến thức đã học được để phát triển năng lực của bản thân và tạo điều kiện phát
triển chung cho toàn xã hội.
b. Phân tích khái niệm và cấu trúc của khái niệm năng lực
* Khái niệm năng lực
Năng lực có nguồn gốc tiếng La-tinh “competentia” có nghĩa là gặp gỡ. Ngày nay khái
* Cấu trúc năng lực
- Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của bốn năng lực
thành phần sau: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
- Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả
năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt
chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá,
khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo
nghĩa hẹp là năng lực nội dung chuyên môn“, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương
pháp chuyên môn.
- Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng
mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng
lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là
những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
- Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng
như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thành
viên khác.
- Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như
những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá
nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng
xử.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn,
nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại
năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: năng lực dạy
học; năng lực giáo dục; năng lực đánh giá, chẩn đoán và tư vấn; năng lực phát triển nghề
nghiệp và phát triển trường học.
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực
không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên
môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng
lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành
trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.
kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm
phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
* Đánh giá
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm
tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập
cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.
Câu 2. Đề xuất một số biện pháp đổi mới dạy học môn học theo định hướng phát triển
năng lực:
Để có thể thực hiện được các phương pháp đổi mới dạy học thì trước hết ngành giáo dục
cần xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên cốt cán của từng địa phương và phải bồi dưỡng, trang bị
đầy đủ cho đội ngũ giáo viên kiến thức về việc đổi mới PPDH đồng thời cải tiến những hình
thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của GV và HS, sử dụng những hình thức và cách thức
hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát
triển năng lực của học sinh.
Trong nội dung này, nhóm chúng tôi đã thảo luận và thống nhất một số biện pháp đổi mới dạy
học môn học theo định hướng phát triển năng lực như sau:
1. Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học cần bắt đầu từ việc đổi mới thiết kế và chuẩn bị bài dạy
học. Trong việc thiết kế bài dạy học, cần xác định mục tiêu dạy học về kiến thức, kĩ năng một
cách rõ ràng, có thể đạt được và có thể kiểm tra, đánh giá được.
Trong việc xác định nội dung dạy học, không chỉ chú ý đến các kiến thức kĩ năng chuyên
môn mà cần chú ý những nội dung có thể phát triển các năng lực chung khác như năng lực
phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
Trong việc thiết kế phương pháp dạy học cần bắt đầu từ bình diện vĩ mô: xác định quan
điểm, hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Từ đó xác định các phương pháp dạy học cụ thể và
thiết kế hoạt động của giáo viên và học sinh theo trình tự các tình huống dạy học nhỏ ở bình
diện vi mô
Sử dụng công nghệ thông tin, chẳng hạn sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint là một
phương hướng cải tiến việc thiết kế bài dạy học cũng như hoạt động dạy học.
Ví dụ: Tìm hiểu về Mặt phẳng nghiêng, giáo viên xác định rõ mục tiêu dạy học theo cấu trúc
phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học.
− Tích hợp công nghệ thông tin vào các môn học
− Thường xuyên sử dụng các phương pháp kích thích tư duy và sự chủ động của người học
(PP nêu vấn đề, PP đàm thoại, dạy học dự án, dạy học theo tình huống )
− Tăng cường các hoạt động thực hành vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, chú trọng
giáo dục đạo đức, giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu biết xã hội cho học sinh.
− Thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, khuyến khích tổ chức bán trú cho
học sinh một cách linh hoạt, đa dạng hoạt động bán trú, có thể tổ chức các hoạt động như
xem phim, xem tivi, đọc sách, tham gia các trò chơi dân gian,… cùng với nghỉ trưa trong
thời gian giữa hai buổi học.
− Có thể sử dụng kết hợp các hình thức tổ chức học tập như sau: dạy học toàn lớp, dạy học
nhóm, nhóm đôi, dạy học cá thể Sử dụng các phương pháp chuyên biệt như đóng vai,
nghiên cứu trường hợp, dự án.
Ví dụ: Khi dạy học kiến thức vận tốc truyền âm trong không khí, có thể cho học sinh chia nhóm
tìm hiểu các ứng dụng của kiến thức này và có thể tạo ra những mô hình (thí nghiệm) đơn giản
như đàn nước, điện thoại ống bơ,… và sau tiết học tổ chức ngoại khóa một cuộc thi nhỏ sử dụng
chính những mô hình mà các em đã chế tạo. Như vậy, giáo viên đã sử dụng kết hợp linh hoạt
các phương pháp, hình thức dạy học như hoạt động theo nhóm, phương pháp đàm thoại, tổ chức
hoạt động ngoại khó
4. Vận dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề được xem như hệ thống các quy tắc áp dụng các
thủ pháp dạy học có tính đến logic của các thao tác tư duy và các quy luật của hoạt động nhận
thức của học sinh.
HS được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận
thức, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp HS tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức.
Do vậy dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề không những phù hợp hơn với tinh thần
dạy học phát triển, với nhiệm vụ phát triển năng lực sáng tạo và tự lực nhận thức của học sinh,
biến kiến thức của họ không chỉ thành niềm tin mà còn phù hợp với đặc điểm của môn học
Ví dụ:
Vận dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề để thiết kế tiến trình xây dựng
- Có biểu thức nào biểu thị mối liên hệ giứa các vận tốc , và , của hai vật
1
m
,
2
m
trong hệ kín
trước và sau tương tác không?
Giải quyết vấn đề
a. GQVĐ nhờ suy luận lí thuyết:
- Suy đoán giải pháp GQVĐ: Từ mối liên hệ giữa các lực tương tác theo định luật 3 Niuton, biểu
diễn các lực theo định luật 2 Niuton (theo
a
), biểu diễn các
a
theo
v
∆
,
v
∆
theo
v
của vật
trước và sau tương tác, ta sẽ thấy được mối liên hệ giữa các vận tốc của hai vật trong hệ trước và
sau tương tác.
- Thực hiện giải pháp đã suy đoán:
+ Định luật 3 Niuton:
12 21
a
t
−
=
∆
uur uur
uur
.
' '
1 1 2 2
1 1 2 2 1 2
v v v v
m a m a m m
t t
− −
= − ⇔ = −
∆ ∆
ur ur uur uur
uur uuur
Rút ra:
' '
1 1 2 2 1 1 2 2
m v m v m v m v+ = +
ur uur ur uur
b. Kiểm nghiệm kết quả suy ra từ suy luận lí thuyết nhờ thí nghiệm:
- Xác định nội dung cần kiểm nghiệm:
trường hợp vật 1 chuyển động không có ma sát với vận tốc
1
v
- Tiến hành thí nghiệm: đo
s
và
'
s
, xác nhận hệ quả trên là đúng.
Kết luận
Đối chiếu kết quả thí nghiệm với kết quả đã thu được từ suy luận lí thuyết, rút ra:
' '
1 1 2 2 1 1 2 2
m v m v m v m v+ = +
ur uur ur uur
- Khái niệm động lượng: động lượng của một vật chuyển động là một đại lượng vật lí vecto đặc
trưng cho khả năng truyền tương tác của vật, được đo bằng tích của khối lượng và vận tốc của
vật
p mv
=
ur r
.
- Định luật bảo toàn động lượng: Vector tổng động lượng của hệ kín được bảo toàn.
Căn cứ vào tiến trình nêu trên có thể xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể.
5. Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức
theo 1 chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp. Quá trình
học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho HS kiến tạo tri thức theo
cá nhân và môi trường tương tác xã hội và học tập.
Chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc
lĩnh vực tri thức khác nhau gắn với thực tiễn. Việc dạy học này góp phần khắc phục tình trạng
xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho HS năng lực tự giải quyết các
vấn đề phức hợp, liên môn.
và có kế hoạch ôn tập khoa học.
7. Vận dụng phương pháp dạy học theo trạm
Dạy học theo trạm là một phương pháp tổ chức dạy học trong đó người học tích cực, chủ
động thực hiện những nhiệm vụ học tập độc lập có liên quan đến nội dung bài học. Thông qua
quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập tại các trạm, ngoài mục tiêu truyền đạt kiến thức, dạy
học theo trạm còn kích thích hứng thú say mê nghiên cứu, rèn luyện năng lực giải quyết các vấn
đề phức hợp, gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, rèn luyện năng lực cộng tác làm
việc theo nhóm
8. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin trong dạy học.
Phương tiện dạy học (PTDH) có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy
học (PPDH), nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiêm thực hành trong dạy học.
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy
học trong dạy học hiện đại. Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều khả năng ứng dụng
trong dạy học. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn cần tăng
cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện
tử (E- Learning).
Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học
mới. Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạy học sử
dụng mạng điện tử, trong đó HS khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng.
Hiện nay, ở nhiều trường học đã áp dụng những mô hình dạy học dựa trên giáo trình đã
được lập trình sẵn trên các bảng tương tác, bảng thông minh. Đặc biệt là bộ môn Tiếng Anh. Nội
dung bài học được số hóa và cấu trúc một cách khoa học. Với nhiều hình ảnh, âm thành sinh
động giúp học sinh hứng thú với bài học vì các em có cảm giác khám phá và như tham gia một
trò chơi.
Ví dụ: Khi dạy kiến thức đặc điểm của sự rơi tự do: Rơi tự do có phương thẳng đứng
bằng trực quan thì chúng ta không đủ cơ sở để đưa ra kết luận. Người giáo viên có thể sử dụng
phần mềm mô phỏng Galile để đưa ra hình ảnh trực quan từ đó giúp học sinh tự rút ra kết luận,
tránh việc tiếp nhận thông tin một cách thụ động bằng cách thông báo
9. Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình
phương pháp học của mình chưa hiệu quả, chưa khoa học.
12. Cải tiến việc kiểm tra đánh giá
Đổi mới phương pháp dạy học cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học
cũng như đổi mới việc kiểm tra đánh giá thành tích của học sinh.Giáo viên cần bồi dưỡng cho
học sinh những kỹ thuật thông tin nhằm tạo điều kiện cho học sinh tham gia đánh giá và cải tiến
quá trình dạy học.
Trong quá trình đánh giá thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả mà
còn chú ý cả quá trình học tập của học sinh. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát
triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà còn chú trọng khả năng vận
dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
Trong xu hướng xây dựng các bài tập cũng như các bài kiểm tra, bài thi theo quan điểm
phát triển năng lực người ta chia thành 3 mức độ chính của nhiệm vụ như sau:
+ Tái hiện: trọng tâm là tái hiện, nhận biết các tri thức đã học.
+ Vận dụng: trọng tâm là việc ứng dụng tri thức đã học để giải quyết các nhiệm vụ trong những
tình huống khác nhau; phân tích; tổng hợp; so sánh để xác định mối quan hệ giữa chúng.
+ Đánh giá: Trọng tâm là vận dụng tri thức, kỹ năng đã học để giải quyết vấn đề, đánh giá các
phương án khác nhau và quyết định. đánh giá, xác định các giá trị.
Giáo viên cần sử dụng phối hợp các hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá khác
nhau. Kết hợp kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành. Kết hợp giữa trắc nghiệm tự
khách quan và trắc nghiệm tự luận. Mỗi phương pháp lại có những ưu điểm và hạn chế khác
nhau, cũng phụ thuộc vào sở trường, sở đoản hay khả năng, tính cách, đặc điểm khác nhau của
học sinh.
Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới dạy học môn học theo định hướng phát triển
năng lực như đổi mới về thiết kế, kế hoạch bài giảng, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức
và những cách tiếp cận khác nhau, trên đây là một số phương hướng chung.
Mỗi giáo viên tùy theo khả năng và kinh nghiệm, trình độ, hoàn cảnh của bản thân, môi
trường để xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và cả năng lực
cá nhân.
Câu 3. Trình bày một ví dụ phác thảo kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng
lực trong đó thể hiện sự vận dụng một hay một số biện pháp đã nêu ở câu 2.
trao đổi các thông tin, các kết quả, thảo luận các phương án thí nghiệm.
-Sử dụng được ngôn ngữ Vật Lí trao đổi với bố mẹ về việc lựa chọn mặt phẳng
nghiêng như thế nào sẽ giúp đẩy xe máy lên nhà dễ dàng hơn.
Năng lực
cá thể
-Đưa ra các ý kiến đánh giá ưu, nhược điểm trong phương án thí nghiệm của
nhóm và phương án thí nghiệm của các nhóm khác trong lớp.
-So sánh và đánh giá được các ứng dụng của mặt phẳng nghiêng trong cuộc sống:
thang cuộn siêu thị, cầu thang, đinh vít…
II. Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Kiểm tra, đánh giá năng lực chuyên môn: Gợi mở, vấn đáp, hoạt động nhóm, làm bài tập tự
luận và thông qua kết quả trình bày.
- Kiểm tra, đánh giá năng lực phương pháp: Quan sát, đánh giá thông qua rubric.
- Kiểm tra, đánh giá năng lực xã hội: Khả năng hoạt động nhóm, thảo luận và trao đổi thông tin,
bài tập tình huống.
- Kiểm tra, đánh giá năng lực cá thể: Thông qua số lượng và chất lượng các đánh giá.
III. Chuẩn bị
- Giáo viên: Giáo án, SGK, dụng cụ giảng dạy, phiếu học tập, video xây dựng kim tự tháp.
- Học sinh: Đọc trước bài
IV. Tiến trình bài học theo nội dung đổi mới
Nội dung
Hoạt động giáo viên và học
sinh
Lập luận về các mục tiêu
phát triển năng lực
Mặt phẳng nghiêng
giúp đẩy (kéo) vật lên
dễ dàng hơn.
-HS đã biết cấu tạo mặt phẳng
nghiêng từ bài trước, GV yêu
xét các ưu, nhược điểm.
-GV chốt lại phương án thí
nghiệm (dụng cụ, bố trí, các
bước tiến hành); yêu cầu HS
nhận dụng cụ thí nghiệm gồm
có: lực kế, vật nặng, mặt phẳng
nghiêng; tiến hành thí nghiệm và
hoàn thiện phiếu học tập 2. (Lưu
ý, các nhóm có mặt phẳng
nghiêng có độ nghiêng khác
Năng lực phương pháp:
-Học sinh vận dụng được vốn
hiểu biết đã có, tổng hợp lại để
lựa chọn trong những hình ảnh
đã gặp trong cuộc sống vài ứng
dụng về mặt phẳng nghiêng.
- HS đưa ra được dự đoán về
mối liên hệ giữa lực kéo vật lên
theo phương mặt phẳng
nghiêng và trọng lượng của vật,
thiết kế, bố trí, tiến hành được
thí nghiệm kiểm tra dự đoán.
Sau đó xử lí được số liệu để
đưa ra kết luận.
Năng lực chuyên môn: HS đã
-Nêu được nhận xét mặt phẳng
nghiêng giúp kéo (đẩy) một vật
với một lực nhỏ hơn trọng
lượng của vật. Mặt phẳng
nghiêng có độ nghiêng càng
làm việc nhóm, phát triển năng
lực giao tiếp như biết lắng
nghe, chấp nhận, biết phê phán,
biết trình bày, bảo vệ ý kiến cá
nhân. Trong quá trình làm việc,
khả năng hoạt động nhóm còn
thể hiện ở tinh thần đoàn kết,
khả năng hỗ trợ, tương tác với
nhau.
-Việc sử dụng ngôn ngữ Vật Lí
(thí nghiệm, thao tác thực hiện)
để thuyết phục bố mẹ sử dụng
mặt phẳng nghiêng thích hợp
nhất cũng thể hiện năng lực xã
hội của HS
Năng lực cá thể:
-HS đánh giá được khả năng
bản thân để lựa chọn những
phần việc được cho là phù hợp
trong nhiệm vụ nhóm.
-HS đánh giá được tính đúng
đắn của câu trả lời các nhóm
khác cũng như có ý kiến xây
dựng trong chính nhóm mình.
-HS còn phát triển được tư duy
và tình cảm sau khi tự lực làm
việc và giao tiếp với các bạn.
-Đặc biệt, để phát huy năng lực
cá thể, phiếu học tập số 2 đã
được thiết kế với cột ghi tên
thuật lại nội dung chính của
đoạn phim với sự sử dụng mặt
phẳng nghiêng để việc đưa
những khối đá lớn lên cao dễ
dàng hơn.
-Mỗi nhóm có 5 phút chuẩn bị,
sau đó từng thành viên lên bảng
viết về ứng dụng của mặt phẳng
nghiêng trong cuộc sống: thang
cuộc ở Big C, ốc vít, cầu thang,
…
Sau đó, đổi chéo nhau, đánh giá
đúng, sai về các phương án đội
bạn đã liệt kê.
Bài tập tình huống Ở nhà con đang có 3 tấm gỗ dày
như nhau có thể sử dụng làm
mặt phẳng nghiêng với kích
thước 30 cm x 100 cm; 40 cm x
40 cm, 30 cm x 80 cm. Tấm gỗ
nào dùng làm mặt phẳng
nghiêng là tối ưu nhất? Bằng
kiến thức đã học, hãy tiến hành
thí nghiệm chứng minh cho bố
mẹ thấy nhận định của em là
đúng.
Củng cố, tổng kết GV nhấn mạnh 2 kiến thức cơ
bản của bài học.
GV tổng kết các nhiệm vụ đã
thực hiện.
Yêu cầu HS thực hiện một số bài
3. Sử dụng các từ trong ô vuông, điền từ cò thiếu vào chỗ trống:
Ít nhất bằng lớn hơn nhỏ
hơn
a. Khi kéo (đẩy) trực tiếp một vật lên cao, cần sử dụng một lực………………trọng
lượng của vật.
b. Khi sử dụng mặt phẳng nghiêng để kéo (đẩy) vật lên cao, chỉ cần dùng một
lực………………trọng lượng của vật.
Nhóm……. Lớp:……………….
Thoạt tiên phải điều chỉnh số 0, nghĩa là phải điều chỉnh sao cho khi chưa
đo lực, kim chỉ thị nằm đúng … …………
Cho… …………… tác dụng vào lò xo của lực kế.
Phải cầm vào vỏ lực kế và hướng sao cho lò xo của lực kế nằm dọc theo
………… của lực cần đo.
càng lớn càng
nhỏ
Mặt phẳng càng nghiêng ít thì lực cần để kéo vật lên trên mặt phẳng nghiêng đó…………