Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
Đề tài: “Hiện trạng và giải pháp chống gian lận thương mại trong điều kiện
hiện nay”
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI................8
I. GLTM, các hinh thức GLTM:................................................................8
1. Gian lận thương mại:.................................................................................8
2. Sự cần thiết phải xác định một tội danh - tội GLTM:.............................10
3. Các hình thức GLTM:.............................................................................11
II. Mối quan hệ giữa buôn lậu và GLTM:..............................................14
III. Tác động của GLTM:.........................................................................15
1. Tác động tới toàn bộ nền KTQD: ...........................................................15
2. Tác động tới trật tự an toàn xã hội:.........................................................17
3. Tác động đến doanh nghiệp và người tiêu dùng:....................................18
4. Tác động đến sự quản lý của Nhà nước .................................................19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
I. Tình hình GLTM ở Việt Nam:.............................................................20
1. Tình hình chung trong cả nước................................................................20
1.1. Tuyến biên giời Việt - Trung................................................................21
1.2. Tuyến biên giới Việt - Lào...................................................................22
1.3. Tuyến biên giới Tây nam.....................................................................22
1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
1.4. Trên tuyến đường Bộ............................................................................23
1.5. Trên tuyến đường Biển - Đảo...............................................................25
1.6. Trên tuyến đường hàng không..............................................................27
1.7. Tuyến đường Bưu điện.........................................................................28
1.8. GLTM trong nội địa.............................................................................28
1.9. Đối tượng tham gia vào hoạt động buôn lậu và GLTM.......................30
1.10. Nhận định chung................................................................................31
5. Tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức giác ngộ nâng cao đời sống cho nhân
dân...............................................................................................................71
6. Tăng cường phối hợp giữa cán bộ ngành trong công tác chống buôn lậu và
GLTM..........................................................................................................72
7. Xây dựng lực lượng chống buôn lậu và GLTM trong sạch....................74
8. Trang bị máy móc thiết bị hiện đại cho lực lượng chống buôn lậu và GLTM
.....................................................................................................................75
9. Kiểm tra sau thông quan..........................................................................76
10. Đẩy mạnh sản xuất trong nước..............................................................76
11. Một số giải pháp cụ thể cần được thực hiện..........................................77
III. Kiến nghị..............................................................................................80
1. Kiến nghị về xã hội hoá công tác đấu tranh chống GLTM.....................80
3
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
2. Kiến nghị hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống GLTM.......................81
KẾT LUẬN................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................85
-----o0o-----
4
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế thị trường và những đặc trưng của nó cũng như sự tự do kinh doanh
trong kinh tế thị trường đã mở ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thúc đẩy quan hệ giao thương buôn bán
giữa các quốc gia phát triển một cách mạnh mẽ. Việt Nam là một đất nước phát
triển đi lên từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu
kém không đủ điều kiện cần thiết cho nền kinh tế phát triển. Trước tình hình đó
Nhà nước ta đã chuyển hướng phát triển kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết Vĩ mô của Nhà nước
theo định hướng XHCN. Cơ chế kinh tế mở đã tạo ra những điều kiện thuận lợi
Chương II: “Thực trạng tình hình gian lận thương mại ở Việt Nam”
phản ánh những khó khăn, thuận lợi, những thành tựu đạt được và những hạn
chế tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua.
Chương III: “Một số giải pháp chống gian lận thương mại” đề cập đến
công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại của các cấp, bộ,
ngành, cơ quan chức năng của Việt Nam.
Phương pháp mà em áp dụng cho việc xây dựng để tài này là sự kết hợp
những kiến thức đã được tích luỹ trong quá trình học tập với việc phân tích
những quan sát thu thập được trong thực tế; kết hợp giữa việc tổng hợp các tài
liệu, sách báo với việc tham khảo ý kiến của một số chuyên gia trong ngành.
Do trình độ và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế, nguồn tài liệu và
thông tin còn hạn hẹp nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý chân thành của các thầy
cô giáo, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến những vấn đề mà em
đặt ra trong bài viết này.
6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
Nhân đây, em xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Thầy giáo PGS.TS
Hoàng Ngọc Thiết, người đã trực tiếp hướng dẫn em tận tình trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thiện khoá luận này. Đồng thời, em cũng xin trân thành
cảm ơn Cục Quản Lý Thị Trường Bộ Thương Mại đã giúp em có được những
thông tin cần thiết, những tài liệu bổ ích và những ý kiến đóng góp quý báu để
em có thể hoàn thành được bài viết này.
7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
Chương I:
TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
I. GIAN LẬN THƯƠNG MẠI, CÁC HÌNH THỨC GLTM:
1. Gian lận thương mại: (Commercial Fraud)
GLTM là những hàng vi dối trá, mánh khoé, lừa lọc trong Thương mại
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước. Chấp nhận cơ chế thị trường, tất yếu phải chấp nhận
cạnh tranh. Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những người sản xuất và trao đổi
hàng hoá nhằm giành cho mình điều kiện sản xuất và điều kiện tiêu thụ hàng hoá
có lợi nhất. Nguyên nhân và động cơ của cạnh tranh là lợi nhuận. Trong cạnh
tranh chắc chắn sẽ xuất hiện những hình thức và thủ đoạn cạnh tranh tiêu cực,
phi kinh tế. Đó là hành vi lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước như đầu cơ,
GLTM, trốn thuế, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, làm giẩm uy
tín của đối thủ cạnh tranh...
Nói như vậy để thấy rằng chấp nhận cơ chế thị trường ngoài những mặt
tích cực, năng động thu được, chúng ta phải chấp nhận những mặt trái của nó,
trong đó có vấn đề GLTM và hậu quả của GLTM để tìm giải pháp quản lý, ngăn
chặn thích hợp, hiệu quả.
Buôn lậu về mặt lịch sử ở nước ta khái niệm này trước đây được hiểu là
buôn bán những hàng hoá mà Nhà nước cấm hoặc Nhà nước quán lý (độc
quyền) đến nay khái niệm này được luật hoá theo tội danh buôn lậu đó là: buôn
bán trái phép qua biên giới các loại hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí
quý, đá quý, các vật phẩm thuộc di tích lịch sử và văn hoá (theo Điều 153 Bộ
luật Hình sự năm 2000 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
9
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
So với khái niệm GLTM thì khái niệm buôn lậu hẹp hơn, nhưng buôn lậu
bao giờ cũng có yếu tố qua biên giới trong khi không phải tất cả các trường hợp
GLTM đều có yếu tố này.
2. Sự cần thiết phải xác định một tội danh - Tội GLTM:
Do quan niệm về gian lận chưa đúng nên còn có sự lẫn lộn giữa GLTM với
buôn lậu hoặc lẫn lộn giữa GLTM với các hành vi vi phạm hành chính. Từ đó
dẫn đến việc xác định tội danh của hành vi GLTM cũng không chính xác, phù
hợp.
Sau đây là một ví dụ: Điều 97 - Bộ Luật hình sự nước Cộng hoà XHCN
chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan. Do đó việc xác định tội
danh GLTM là một việc làm cần thiết nhằm xử lý đúng người, đúng tội, không
để sót lọt hành vi GLTM.
Buôn lậu cũng như GLTM nói chung là mặt trái của kinh tế thị trường để
lại những hậu quả nguy hại về kinh tế xã hội như kìm hãm sản xuất kinh doanh
trong nước, gây thất thu ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng môi trường đầu tư
nước ngoài, kèm theo những tệ nạn xã hội: tham nhũng, hối lộ... Vì vậy, muốn
phát triển lành mạnh nền kinh tế - xã hội chúng ta phải tích cực chống buôn lậu
và GLTM có hiệu quả nhằm tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh đáp
ứng nhu cầu hội nhập kinh tế.
3. Các hình thức GLTM:
Các hình thức GLTM theo cách phân loại của tổ chức Hải quan thế giới
(WCO).
Trong nhiều năm, hiện tượng GLTM trong hoạt động thương mại quốc tế
đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới và trở thành một mối đe doạ thực sự đối
với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh chính trị của các quốc gia.
11
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
Những hậu quả xấu của nó có tác động rõ rệt và nghiêm trọng đến mọi mặt của
đời sống xã hội, đi ngược lại lợi ích của Nhà nước, làm tổn hại đến quyền lợi
của nhân dân, phá hoại môi trường cạnh tranh lành mạnh của kinh tế thế giới,
đồng thời gây tốn kém không nhỏ cho ngân sách của các quốc gia trong việc
thực hiện các biện pháp phòng chống GLTM.
Vì những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn này, hội nghị chống GLTM do
Hải quan thế giới triệu tập tại Brussel (Bỉ) với sự tham gia của đại diện Hải quan
từ hơn 50 nước và tổ chức quốc tế. Hội nghị đã xác định các hình thức GLTM
và đề ra các biện pháp cụ thể phòng chống tệ nạn này. Theo tài liệu số 36. 623
ngày 28/6/1995 của hội nghị nêu trên, GLTM gồm có 16 hình thức như sau:
1.1. Buôn lậu hàng hoá ( kể cả hàng bị cấm nhập khẩu và đặc biệt hàng
thuộc Công ước Washington bảo vệ động thực vật quý hiếm và các quy định
Phượng hoàng”.
Cách phân loại này thể hiện cách nhìn khoa học và là kết quả nghiên cứu
các vấn đề thực tiễn trong nhiều năm hoạt động thương mại quốc tế ở nhiều
nước trên thế giới. Nó mang những nét chung của tình hình GLTM trong thương
mại thế giới, trong đó có Việt Nam. Tình hình thực tế ở nước ta thời gian qua
cho thấy, các thủ đoạn GLTM trong hoạt động thương mại quốc tế cũng chính là
các hình thức mà tổ chức Hải quan thế giới đã xác định như đã nêu trên.
Thái độ ứng xử đối với 16 hành vi này là thống nhất với nhau ở 2 cung bậc,
tuỳ thuộc vào mức độ tác hại của hành vi đó mang lại cho xã hội mà xử lý hành
chính hay xử lý hình sự. Đối với một số nước như Mỹ, Nhật, Pháp,.. bên cạnh
việc áp dụng các công ước quốc tế xử lý 16 hành vi này theo luật Hải quan còn
13
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
quy định trong luật hình sự các tội danh cụ thể tương ứng với những hành vi đó.
Đối với nước ta thái độ ứng xử này với các hành vi diễn ra theo ba trường hợp:
+ Hành vi có tính chất không nghiêm trọng, giá trị tài sản buôn bán sai
phạm không lớn thì xử lý hành chính theo pháp lệnh Hải quan và các nghị định
của Chính phủ về quản lý XNK.
+ Một số hành vi trong số đó chưa được quy định trong pháp luật Việt Nam
nên không xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng không bị xử lý như hành vi vi phạm
đạo luật về diễn giải thương mại,...
+ Tất cả các hành vi có tính chất nghiêm trọng, hậu quả lớn đều bị xử lý
dưới tội danh chung của Điều 97 (Bộ Luật hình sự nước cộng hoà XHCN Việt
Nam) là buôn lậu.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA BUÔN LẬU VÀ GLTM :
Theo pháp luật Việt Nam, GLTM không phải là một tội danh trong luật
hình sự nhưng các biểu hiện đặc trưng của nó lại trùng hợp với tội buôn lậu, một
bộ phận của GLTM là buôn lậu và buôn lậu bao gồm cả GLTM. Cả hai khái
niệm này vẫn thường đi đôi và gắn liền với nhau trong tiềm thức xã hội, chúng
có phần nằm trong nhau nhưng không bao hàm tất cả, đặc biệt là GLTM ngoài
nào, lĩnh vực nào, tuyến đường nào cũng có tệ nạn, nhức nhối và nóng bỏng.
Dân cư ở khu vực biên giới tiếp tay cho buôn lậu và gian thương vì làm thuê cho
họ thì có thể được nhiều tiền hơn và như vậy họ bỏ bê ruộng vườn, không chịu
làm ăn phát triển kinh tế vùng biên giới, kinh tế vùng biển vốn dĩ đã khó khăn
nay lại càng khó khăn hơn.
Buôn lậu và GLTM có tác động xấu đến sản xuất trong nước làm cho hàng
hoá trong nước khó có thể cạnh tranh với hàng lậu, hàng giả với giá hạ hơn. Nó
thậm chí làm cho sản xuất trong nước phải điêu đứng và kìm hãm sự phát triển
sản xuất. Ví dụ: tình hình sao in các băng đĩa lậu, xà phòng OMO thì được các
15
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
gian thương đổi lại thành TOMO để lừa người tiêu dùng, các hàng điện tử của
Tàu được bày bán tràn lan trên thị trường với giá thành rẻ bằng chỉ bằng 1/4 so
với giá hàng hoá trong nước sản xuất hay hàng nhập khẩu, tình trạng quay vòng
tem hàng nhập khẩu đối với những hàng nhập khẩu buộc phải dán tem hàng
nhập khẩu khi lưu thông trên thị trường ....
Hơn thế nữa, thị trường Việt Nam có nhu cầu lớn và dễ tính trong tiêu
dùng. Tuy sức mua của người dân còn hạn chế (do thu nhập) nhưng thị trường
Việt Nam gần 80 triệu dân là một thị trường có nhu cầu lớn về tiêu dùng và đặc
điểm là dễ chấp nhập hàng hoá rẻ, sính hàng ngoại và không cần quan tâm đến
nguồn gốc nhập lậu hay GLTM và không cần hoá đơn, chứng từ khi mua bán
hàng hoá. Mặt khác, sản xuất hàng hoá ở nước ta những năm qua tuy có mặt
phát triển nhưng nhìn chung chưa thể cạnh tranh được về mẫu mã, chủng loại,
chất lượng và giá cả. Có thể coi đây là một trong những nhân tố cơ bản dẫn đến
hàng lậu và GLTM lấn át, chiếm lĩnh thị trường nước ta. Nhìn chung, tệ nạn
buôn lậu và GLTM kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước, kìm hãm sự phát
triển kinh tế dựa vào nội lực trong nước.
2. Tác động tới trật tự an toàn xã hội:
GLTM với các hình thức khác nhau xuất hiện ở khắp mội nơi trong cả
nước, sự xuất hiện và hoạt động của chúng đã gây rối loạn và xáo trộn về trật tự
Trong điều kiện đất nước còn nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, sản xuất trong
nước còn gặp nhiều khó khăn, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm
chưa cao, giá thành và chi phí sản xuất cao, các sản phẩm trong nước khó hoặc
không thể cạnh tranh được với hàng lậu, gian lận cùng loại, nhiều doang nghiệp
sản xuất phải đứng trước nguy cơ đóng cửa do không tiêu thụ được sản phẩm.
Một số hàng có được do buôn lậu và gian lận thuế được bán với giá thấp (nhưng
chất lượng cao hơn do được sản xuất với công nghệ hiện đại, chi phí cho sản
xuất thấp,...) đã chiếm lĩnh thị trường nội địa làm cho doanh nghiệp phải điêu
17
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
đứng và không bảo vệ được kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình. Một số mặt
hàng buôn lậu và gian lận có chất lượng kém nhưng mẫu mã đẹp giá thấp hơn
nhiều so với giá của sản phẩm trong nước, làm cho các doanh nghiệp sản xuất
và kinh doanh gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cạnh tranh, tiêu thụ và cải tiến
chất lượng sản xuất, hạ giá thành, giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động.
Buôn lậu và GLTM không chỉ tác động đến sản xuất trong nước mà còn tác
động rất lớn đến người tiêu dùng trong nước. Một số khách hàng thích và ưu
tiên dùng hàng ngoại, hàng rẻ, dễ bị lừa gạt vì trong số đó có những mặt hàng
như dược phẩm thuốc bảo vệ thực vật,... không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà
còn gây thiệt hại cả về sức khoẻ, tính mạng cho cả người và động vật, thực vật,
thiệt hại cả về ngắn hạn lẫn lâu dài do hàng hoá kém, quá hạn sử dụng, hàng
giả,... không đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Một số mặt hàng như ma tuý,
chất kích thích,... không chỉ tác động đến sức khoẻ mà còn tác động đến đạo
đức, lối sống của người tiêu dùng, làm suy đồi tư tưởng đạo đức và gây ra các tệ
nạn khác như: trộm cắp, cướp giật, giết người,... Các mặt hàng như thuốc nổ,
thuốc súng tác động đến tính mạng, an ninh chính trị quốc gia, gây rối loạn trật
tự an toàn xã hội. Nhìn chung GLTM làm cho lưu thông hàng hoá bị rối loạn,
trật tự thị trường bị đảo lộn, gây ra các cơn sốt về hàng hoá và giá cả, gây khó
khăn cho công tác quản lý thị trường, quản lý hoạt động XNK.
Nam, từ các cửa khẩu qua Trung Quốc, Lào, Campuchia đến các cửa khẩu quốc
tế, từ nông thôn đến thành thị, từ xuất khẩu đến nhập khẩu, từ hoạt động thương
mại chính ngạch đến hoạt động tiểu ngạch, từ đường bộ đến đường biển, đường
hàng không và bưu điện... chỗ nào, lĩnh vực nào, tuyến đường nào GLTM cũng
là những vấn đề nóng bỏng nhức nhối.
Trên các tuyến biên giới phía Bắc, phía Tây và Tây Nam của nước ta tình
hình GLTM diễn ra phức tạp và ngày càng tinh vi xảo quyệt. Điều đặc biệt
nghiêm trọng là trong khi Việt Nam ngăn chặn thì phía nước ngoài lại khuyến
khích, thực chất là họ muốn tiêu thụ hàng tồn kho ứ đọng của mình.
20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo 127 - TW: Năm 2002, tình hình buôn lậu,
buôn bán hàng nhập lậu, gian lận thương mại vẫn diễn biến rất phức tạp trên tất
cả các tuyến và địa bàn trọng điểm; phương thức và thủ đoạn buôn lậu ngày
càng tinh vi hơn; sự chông trả người thi hành công vụ của các đối tượng tham
gia buôn lậu diễn ra quyết liệt và trắng trợn. Đáng chú ý một số tuyến , địa bàn
trọng điểm như sau:
0.1 Tuyến biên giới Việt - Trung:
Trên tuyến này buôn lậu diễn ra tấp nập hối hả nhất là ở các khu vực cửa
khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), Hữu Nghị, Tâm Thanh, Cao Lộc, Lộc Bình, Văn
Lãng (Lạng Sơn), Chi Ma (Lạng Sơn),... Sau khi lực lượng Công an Trung
Ương triệt phá ổ buôn lậu tại Hang Dơi và có sự chỉ đạo kiên quyết của Uỷ ban
nhân dân Tỉnh, tình hình buôn lậu đã giảm nhưng trong tháng 11 và 12/2002
tình hình lại diễn biến phức tạp, hàng lậu được xé lẻ đi hai bên cánh gà cửa khẩu
Chi Ma, Tân Thanh, đường 05, 06, Kéo Kham. Tại các chợ và trung tâm thương
mại, hàng lậu vẫn được bày bán. Đã xảy ra tình trạng bọn cửu vạn tấn công Bộ
đội biên phòng để giải vây hàng hoá bị thu giữ.
Tại Quảng Ninh: Tình hình buôn lậu trên tuyến đường bộ đã giảm rõ rệt
do lực lượng Quản lý Thị trường phối hợp với các lực lượng khác tăng cường
kiểm tra, kiểm soát trong nội địa nhưng việc vận chuyển hàng lậu trên biển bằng
rất nhiều thủ đoạn tinh vi như quay vòng tem nhập khẩu, sử dụng tem giả, quay
vòng vỏ thùng hàng đã dán tem, chẻ nhỏ hàng từ xa để vận chuyển, thuê mướn
nhà xưởng, xe công cụ của một số cơ quan, doanh nghiệp để làm kho trung
chuyển, sử dụng hồ sơ chứng từ giả quay vòng nhiều lần, đặc biệt gần đây bọn
buôn lậu còn dùng hình thức cưới xin vùng biên giới để vận chuyển hàng lậu.
22
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
Đây là tuyến buôn lậu tập trung sôi động phức tạp từ lâu trong đó mặt hàng nhập
lậu chủ yếu là thuốc lá ngoại, xe gắn máy “nghĩa địa”, quần áo si đa, đồ điện tử,
hàng xa xỉ phẩm, đồ chơi trẻ em,... của Thái Lan, Nhật Bản, Tây Âu. Hàng xuất
lậu chủ yếu là vàng, ngoại tệ, xăng dầu, nông sản thực phẩm làm cho hiện tượng
chảy máu vàng, ngoại tệ ra nước ngoài ngày một lớn mạnh. Những hàng hoá này
được đưa vào nội địa tiêu thụ phần nhiều là vào TP.HCM, đây là thị trường tiêu
thụ rộng không chỉ hàng hoá ở Tây Nam mà còn có các mặt hàng nhập lậu từ
biên giới phía Bắc được đưa vào như vải, quần áo, hàng điện tử, xe đạp, gạch
men,... có nguồn gốc từ Trung Quốc. Mặt hàng chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong
hàng nhập lậu là thuốc lá, lúc cao điểm có khi lên đến mức 1 triệu bao/1 ngày.
Theo cục điều tra chống buôn lậu bình quân mỗi ngày có khoảng 700 - 800 kiện
thuốc lá được trở về từ Campuchia, ước tính một tháng có khoảng 12 - 15 triệu
bao nhập lậu qua khu vực này trong khi đó theo ban chỉ đạo 1 tháng lực lượng
chống buôn lậu chỉ thu được khoảng 2 triệu bao. Mặt hàng nữa là xe máy nhập
lậu từ cuối năm 1997 đến đầu năm 1998 trung bình mỗi ngày có từ 30 - 40 xe
máy nhập lậu bằng nhiều cách, mướn người lái, dắt, có khi gắn biển số giả để
chạy vào nội địa. Hàng lậu được đưa vào nội địa cũng như xuất ra khỏi lãnh thổ
bằng nhiều tuyến khác nhau: đường bộ, đường biển, đường hàng không và
đường bưu điện.
1.4. Trên tuyến đường bộ:
Trên tuyến đường này bọn buôn lậu và GLTM thường sử dụng người địa
phương thông thạo đường ngang lối tắt, nắm vững quy luật hoạt động của lực
lượng kiểm soát để lợi dụng thời cơ mang các hàng lậu vượt biên xuyên rừng
trốn cước và vận chuyển hàng cấm. Trên tuyến đường sắt Lào Cai - Yên Bái -
Việt Trì - Lạng Sơn - Yên Viên cho thấy hàng nhập lậu được chia nhỏ qua các
đường mòn biên giới tập kết tại khu vực nhà ga sát giờ tàu chạy ồ ạt được đưa
lên hay dỡ xuống trong các chuyến tàu khách. Khu vực nhà ga hàng lậu được
phân tán trong các nhà dân nhà ở của cán bộ công nhân viên chức nhà ga và khá
24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÕ HiÕu
tự do rất khó cho công tác quản lý. Hàng lậu chủ yếu được tập kết và vận
chuyển vào ban đêm do rất nhiều “cửu vạn” thực hiện diễn ra trong thời gian
ngắn tàu đỗ tại ga làm cho các lực lượng kiểm tra, kiểm soát không đủ lực lượng
và thời gian thực hiện và bắt giữ xử lý. Tại một số cửa khẩu địa phương không
có tàu hoả hoặc được vận chuyển bằng các phương tiện khác như: ô tô, xe lam,...
bọn “đầu nậu” thường chia nhỏ phân tán hàng hoá thành nhiều chuyến, thay đổi
xe, đổi tuyến vận chuyển, thay đổi hoá đơn dùng hoá đơn buôn chuyến để hợp
pháp hoá các lô hàng chưa đóng thuế nhập khẩu theo phương thức “kiến tha lâu
cũng đầy tổ” này đã gây không ít khó khăn cho các lực lượng chống buôn lậu.
1.5. Trên tuyến đường Biển - Đảo:
Hoạt động buôn lậu và GLTM ở tuyến này tuy không sôi động như đất liền
nhưng lại được tổ chức rất quy mô, lượng hàng hoá lớn và có giá trị cao. Bọn
gian thương sử dụng phương tiện vận chuyển từ tàu đánh cá nhỏ đến tàu lớn như
tàu pha sông biển, tàu viễn dương. Chúng hoạt động có tổ chức và phối hợp chặt
chẽ với nhau, địa bàn rộng, tổ chức đường dây xuyên quốc gia, quốc tế, sử dụng
và trang bị hệ thống thông tin liên lạc điều khiển từ xa. Khu vực sôi động và
phức tạp nhất là các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh
Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Kiên Giang,...hàng hoá được
tập kết ở một số điểm: Cảng Kỳ Xá, Giang Bình, Phong Thanh...(Trung Quốc)
nơi các mặt hàng chủ yếu: vật liệu xây dựng, đồ điện tử điện lạnh của Nhật Bản,
hàng tiêu dùng như vải, quần áo may sẵn, động cơ nổ, đồ chơi trẻ em, xe đạp...
Bọn buôn lậu và GLTM có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau
nhưng chủ yếu là các loại tàu thuyền của các lực lượng vũ trang, tàu của các cơ