Nghiên cứu tuổi xương đốt sống cổ trên phim sọ nghiêng và ứng dụng khảo sát sự tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt giai đoạn 8 18 tuổi - Pdf 26

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự tăng trưởng của hệ thống sọ mặt là vấn đề quan tâm đặc biệt của
các Bác sĩ Chỉnh hình răng mặt (CHRM). Giai đoạn từ 8-18 tuổi có
sự tăng tốc tăng trưởng của toàn cơ thể để đạt những thay đổi hình
thái đáng kể từ trẻ em trở thành người trưởng thành. Đây cũng là giai
đoạn diễn ra đa số các quá trình điều trị CHRM. Sự tăng trưởng trong
giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi xương từng cá thể hơn là tuổi năm
sinh.
Trong CHRM, phương pháp đánh giá tuổi xương bàn-cổ tay
(TXBCT) trên phim X quang là một phương pháp kinh điển và từng
là chuẩn vàng để đánh giá mức độ trưởng thành xương của hệ thống
sọ mặt. Gần đây, phương pháp đánh giá tuổi xương đốt sống cổ
(TXĐSC) trên phim sọ nghiêng được quan tâm và ứng dụng để xác
định thời điểm tối ưu trong điều trị CHRM. Phương pháp này có độ
tin cậy và tương quan cao như phương pháp đánh giá TXBCT mà
hạn chế nhiễm tia X cho bệnh nhân.
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về sự tăng trưởng hệ thống sọ mặt
giai đoạn vị thành niên. Ở Việt nam có nhiều nghiên cứu về sự tăng
trưởng hệ thống sọ mặt trên phim sọ nghiêng ở các nhóm tuổi năm
sinh khác nhau. Tuy nhiên, sự tăng trưởng sọ mặt trong giai đoạn từ
8-18 tuổi, theo tuổi xương đốt sống cổ vẫn chưa đề cập đến. Vì vậy
chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu:
1. Xác lập công thức tính tuổi xương đốt sống cổ trên phim sọ
nghiêng dựa theo tiêu chuẩn trưởng thành xương bàn-cổ tay.
2. Khảo sát kích thước xương hệ thống sọ mặt giai đoạn 8-18 tuổi
trên phim sọ nghiêng theo tuổi năm sinh và TXĐSC.

lên sự tăng trưởng của khối mặt.
3
Sự tăng trưởng trong giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi xương của
từng cá thể hơn là phụ thuộc vào tuổi năm sinh.
Phương pháp đánh giá tuổi xương đốt sống cổ
Phương pháp đánh giá tuổi xương bàn-cổ tay (TXBCT) trên phim X
quang là chuẩn vàng để đánh giá mức độ trưởng thành xương của hệ
thống sọ mặt. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp xác định tuổi xương
đốt sống cổ (TXĐSC) trên phim sọ nghiêng được quan tâm trong
CHRM vì phương pháp này có độ tin cậy cao và hạn chế nhiễm tia X
cho bệnh nhân.
Các nghiên cứu về tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt
Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu về sự tăng trưởng hệ thống
sọ mặt trong giai đoạn vị thành niên. O’Reilly và Yanniello (1988)
kết luận các giai đoạn TXĐSC liên quan với sự tăng trưởng xương
hàm dưới trong thời kỳ dậy thì. Nanda (1995), Bishara (1997) kết
luận có độ biến thiên cao giữa các cá thể vì vậy cần dự đoán tăng
trưởng ở từng cá thể riêng lẻ để có thể ứng dụng trong thực hành.
Franchi (2000) kết luận chiều dài xương hàm dưới thay đổi theo các
giai đoạn TXĐSC.
Ở Việt nam có nhiều nghiên cứu về sự tăng trưởng hệ thống sọ mặt ở
các lứa tuổi năm sinh khác nhau: từ 3-5 tuổi của Phan Thị Thanh
Yên, Trần Thúy Nga; từ 10-14 tuổi của Lê Võ Yến Nhi; sự tăng
trưởng của xương hàm dưới từ 4-12 tuổi của Nguyễn Tuyết Oanh và
sự tăng trưởng hệ thống sọ mặt với mối liên quan với nền sọ ở trẻ từ
3-13 tuổi của Đống Khắc Thẩm. Tuy nhiên, sự tăng trưởng xương hệ
thống sọ mặt giai đoạn từ 8-18 tuổi theo TXĐSC chưa được đề cập.

5
Bảng 2.1. Phân nhóm của mẫu 1:
Nhóm
Fishman
Đặc điểm tăng trưởng
I (N= 46)
SMI 1, 2, 3, 4
Giai đoạn khởi đầu và tăng tốc
II (N= 27)
SMI 5, 6
Giai đoạn chuyển tiếp
III (N= 24)
SMI 7, 8
Giai đoạn giảm tốc
IV (N=18)
SMI 9, 10
Giai đoạn trưởng thành
V (N=64)
SMI 11
Giai đoạn hoàn tất
Tìm phương trình hồi quy đa biến thiết lập mối tương quan giữa 5
giai đoạn tuổi xương (tương ứng với 5 giai đoạn tăng trưởng trong
thời kỳ dậy thì) với các số đo hình thái đốt sống cổ C2, C3 và C4.
Nghiên cứu thứ hai: thiết kế nghiên cứu dọc
Tính TXĐSC cho mẫu 2, khảo sát sự thay đổi kích thước và tốc độ
tăng trưởng theo tuổi năm sinh và TXĐSC
Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ có những bất thường vùng hàm mặt hoặc

hiệu chỉnh = 0,914.
Giai đoạn 8-18 tuổi, có 5 giai đoạn TXĐSC như sau:
TXĐSC I : TXĐSC I < 2,55;
TXĐSC II : 2,55 ≤ TXĐSC II < 3,33;
TXĐSC III : 3,33 ≤ TXĐSC III < 4,36;
TXĐSC IV : 4,36 ≤ TXĐSC IV < 5,39;
TXĐSC V : TXĐSC V ≥ 5,39
3.2. Sự tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt
3.2.1. Tuổi xương đốt sống cổ trung bình theo tuổi năm sinh
Bảng 3.7: TXĐSC cổ theo tuổi năm sinh ở nam và nữ
TX ĐSC
Nam
Nữ
Chênh
lệch
N=309
TB
ĐLC
N=199
TB
ĐLC

I
95
11,05
1,60
32
10,16
1,32
0,89

1,18
1.10
7
Nhận xét: các giai đoạn tuổi xương ở nữ thường diễn ra trước nam
trung bình từ 1-1,5 tuổi tính theo tuổi năm sinh
3.2.2. Sự thay đổi kích thước xương sọ mặt giai đoạn 8-18 tuổi theo
tuổi xương đốt sống cổ
Tất cả các kích thước sọ mặt tăng dần từ 8-18 tuổi ở cả nam lẫn nữ.
Tuy nhiên kích thước theo TXĐSC có sự khác biệt giữa nam và nữ ở
các giai đoạn tuổi xương.
Bảng 3.12: Kích thước nền sọ ở nam và nữ theo TXĐSC
Nền
sọ
mm

Nam
Nữ
p
TXĐSC
N
309
TB
ĐLC
N
199
TB
ĐLC

40
69,07
2,30
**
V
57
72,09
3,75
63
69,72
2,60
**

S-Ba
I
95
46,99
2,56
32
44,00
3,51
**
II
49
49,95
2,46
33
46,84
2,91
**

XHT
mm

Nam
Nữ
P
TXĐ
SC
N=309
TB
ĐLC
N=199
TB
ĐLC

S-A
I
95
81,77
3,65
32
79,78
3,36
**
II
49
86,19
4,09
33
82,88

81,65
3,31
32
80,67
3,70
NS
II
49
86,16
3,95
33
83,29
3,02
***
III
55
89,59
4,39
31
85,56
3,02
***
IV
53
90,78
4,09
40
86,85
3,67
***

114,26
5,72
***
II
49
127,18
6,21
33
120,25
5,27
***
III
55
133,39
7,73
31
123,81
5,58
***
IV
53
135,65
8,18
40
127,00
5,29
***
V
57
137,45

***
IV
53
116,38
5,99
40
110,61
4,58
***
V
57
117,17
5,69
63
113,74
4,35
***
Kiểm định t; (**) p< 0,01;(***) p< 0,001;NS: không ý nghĩa thống kê
9
Bảng 3.15: Kích thước tầng mặt ở nam và nữ theo TXĐSC
Tầng mặt
(mm)
TXĐSC

Nam
31
76.89
4.53
***
IV
53
86.23
6.93
40
79.44
4.92
***
V
57
87.72
7.11
63
82.73
4.23
***
Na-Me
I
95
117.31
5.53
32
110.88
5.32
***
II

***
3.2.3. Tốc độ tăng trưởng các kích thước hệ thống sọ mặt giai đoạn 8-
18 tuổi theo tuổi xương đốt sống cổ
Tốc độ tăng trưởng theo tuổi năm sinh và TXĐSC hầu như không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ. Tuy nhiên nếu tính
tốc độ theo TXĐSC, đường biểu diễn tốc độ tăng trưởng thường theo
quy luật: tăng tốc-đạt đỉnh-giảm tốc. Ở nam và nữ đỉnh tăng trưởng
kích thước sọ mặt ở TXĐSC I-II (ngoại trừ đỉnh tăng trưởng chiều
cao tầng mặt của nam ở TXĐSC III).Tốc độ tăng trưởng theo
TXĐSC của nam diễn ra hơi trễ hơn nữ. Chiều cao tầng mặt sau (S-
Go) có tốc độ tăng trưởng cao nhất và thấp nhất là nền sọ trước (S-
Na).
Biểu đồ 3.12: Tốc độ tăng trưởng theo TXĐSC ở nam

TXĐSC
%
10


Biểu đồ 3.15: Tốc độ tăng trưởng XHT và XHD theo TXĐSC ở nữ
*.Tốc độ tăng trưởng XHT và XHD ở từng cá thể theo TXĐSC
Khi khảo sát tốc độ tăng trưởng theo TXĐSC, đỉnh tăng trưởng trung
bình của XHT và XHD thường ở TXĐSC: I-II. Tuy nhiên, trong mẫu
nghiên cứu đánh giá tăng trưởng có cá thể số 2 và 665 có đỉnh tăng
trưởng xương hàm trên và dưới ở giai đoạn TXĐSC IV.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Công thức tuổi xương đốt sống cổ
4.1.1.Đánh giá tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt
Giai đoạn 8-18 tuổi có sự tăng tốc tăng trưởng của cơ thể để đạt đến
đỉnh tăng trưởng dậy thì. Đỉnh tăng trưởng dậy thì không diễn ra ở
một thời điểm nhất định, luôn thay đổi ở mỗi cá thể. Khảo sát quá
trình tăng trưởng theo tuổi năm sinh thường không phản ánh chính
xác tình trạng tăng trưởng của từng cá thể. Trong giai đoạn này sử
dụng tuổi xương tương đối chính xác hơn vì tuổi xương đánh giá tình
trạng tăng trưởng hệ xương của cơ thể.
- Xác định tuổi xương là cần thiết đối với Bác sĩ CHRM đặc biệt khi
cần tác động những điều trị bất hài hòa xương hàm trong giai đoạn vị
thành niên. Một công cụ chẩn đoán xác định tuổi xương là dựa vào
phim X quang bàn-cổ tay như phương pháp Greulich và Pyle,
phương pháp TW2, TW3, phương pháp của Bjork, Fishman…

TXĐSC
12

sống cổ của đối tượng nghiên cứu vừa ở giai đoạn trước vừa ở giai
13
đoạn sau. Sử dụng phương pháp định tính cần có nhiều kinh nghiệm.
Phương pháp định lượng xác định các giai đoạn trưởng thành xương
đốt sống cổ một cách khách quan hơn.
- Theo Mito, TXĐSC chỉ phụ thuộc vào chiều cao (AH3, AH4, PH4)
và chiều trước sau (AP3, AP4) của thân C3 và C4 chứ không phụ
thuộc vào độ cong lõm của bờ dưới thân đốt sống cổ. (Công thức
định lượng của Mito: TXĐSC= -0,2 + 6,2 x AH3/AP3 + 5,9 x AH4/
AP4 + 4,74 x AH4/ PH4). Thật sự trong quá trình tăng trưởng của đốt
sống cổ giai đoạn dậy thì, không chỉ kích thước thân đốt sống cổ tăng
mà độ cong lõm của bờ dưới thân đốt sống cũng lõm rõ. Mito không
đưa ra những đặc trưng tăng trưởng của từng giai đoạn và chủ yếu dự
đoán tăng trưởng của xương hàm dưới, không đánh giá mức độ tăng
trưởng của các thành phần khác của hệ thống sọ mặt.
- Phương pháp định lượng theo San Roman, Fudalej và Bollen dựa
vào các đặc điểm định lượng về hình dạng thân các đốt sống cổ để
đưa ra được đặc trưng tăng trưởng của từng giai đoạn tuổi xương.
Tuy nhiên khó xác định chính xác giai đoạn trưởng thành xương của
một cá thể khi cá thể đó không hội đủ tất cả các tiêu chí của một giai
đoạn hoặc các tiêu chí đánh giá kéo dài qua cả hai giai đoạn.
- Công thức định lượng của Chen (2010) phụ thuộc vào chiều cao và
chiều rộng của thân C3, C4 và độ cong lõm của bờ dưới thân C2.
Theo phân loại của Chen chỉ có 4 giai đoạn TXĐSC và nếu phân loại
ít giai đoạn, khó có thể thấy được đỉnh tăng trưởng. Ngoài ra, chúng
tôi cũng đã áp dụng công thức xác định tuổi xương theo Chen (2010)
trên một nhóm nghiên cứu nhỏ nhưng sai số khá cao. Có lẽ có sự

dưới thân C4; AB3/BC3: Tỉ lệ chiều dài bờ dưới và bờ trước thân C3;
h4/w4: Tỉ lệ chiều cao và chiều rộng thân C4).
- Biến số α2, α4, AB3/CB3, h4/w4 có tương quan rất cao với các giai
đoạn TXĐSC. Những số đo góc (α2, α4) và tỉ lệ (AB3/CB3, h4/w4)
bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi hình dạng, không bị ảnh hưởng bởi sự
TXĐSC= 1,92+ 0,04 * α2 + 0,03 * α4 –1,12*AB3/CB3 + 3,17 * h4/w4
15
thay đổi kích thước thân đốt sống cổ. Như vậy hạn chế được sai lầm
do độ phóng đại của các máy chụp phim khác nhau. Có 5 giai đoạn
TXĐSC tương ứng với các giá trị đo đạc thân C2,C3 và C4 như sau:
I: TXĐSC < 2,547: tăng trưởng bắt đầu và sẽ vào giai đoạn tăng tốc
II: 2,547 ≤ TXĐSC < 3,333: chuyển tiếp (đạt đỉnh tăng trưởng)
III: 3,333 ≤ TXĐSC < 4,356: giai đoạn giảm tốc tăng trưởng
IV: 4,356 ≤ TXĐSC < 5,392: giai đoạn trưởng thành
V: 5,392 ≤ TXĐSC: giai đoạn hoàn tất, sự tăng trưởng còn lại rất ít.
Như vậy, TXĐSC là một chỉ số có thể đánh giá chi tiết và khách quan
mức độ trưởng thành xương đốt sống cổ trên phim sọ nghiêng.
4.2. Kích thước xương hệ thống sọ mặt giai đoạn 8-18 tuổi theo
tuổi năm sinh và TX ĐSC
4.2.1. Tuổi xương đốt sống cổ theo tuổi năm sinh
- Các giai đoạn TXĐSC của nam đều trễ hơn nữ từ 1-1,5 năm theo
tuổi năm sinh. Điều này cũng gần tương tự nhận định cho rằng nam
bước vào tuổi dậy thì trễ hơn nữ từ 1-2 năm (Fishman, 1982;
(English, 2009; Proffit, 2013) hoặc 1.5-2năm (Lewis, 1985).
- Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian trung bình của một giai đoạn
tuổi xương kéo dài khoảng 1,3-1,9 năm ở nam và khoảng 1,4-1,7
năm ở nữ như vậy một giai đoạn tuổi xương trung bình ở nam kéo dài

theo TXĐSC, đỉnh tăng trưởng các kích thước sọ mặt thường diễn ra
trong giai đoạn TXĐSC I-III, và ở nữ sớm hơn nam. Kết quả nghiên
cứu phù hợp với nhận định của Nanda (1995), Bambha (1963),
Fishman (1982), Oreilly và Yaniello (1988).
- Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng (cũng như kích
thước) của khối sọ mặt theo chiều đứng (tầng mặt sau và trước) tăng
đáng kể. Nhận định này phù hợp với nhận xét của Bergersen (1972).
Điều này nhấn mạnh khuynh hướng tăng trưởng theo chiều đứng của
khối mặt trong giai đoạn TXĐSC I-V.
17
- Trong giai đoạn TXĐSC I-V, nếu khảo sát tương quan hai xương
hàm, xương hàm dưới tăng trưởng với tốc độ cao hơn xương hàm
trên. Điều này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Bambha (1963),
Nanda (1995). Ngoài ra, xương hàm dưới đạt đỉnh tăng trưởng sau
xương hàm trên ở cả nam và nữ. Như vậy cuối giai đoạn TXĐSC V,
mức độ chênh lệch giữa hai xương hàm sẽ giảm do sự khác biệt về
tốc độ và thời điểm tăng trưởng giữa hai xương hàm. Sự thay đổi
tương quan hai xương hàm trong quá trình tăng trưởng sẽ ảnh hưởng
đến kế hoạch cũng như kết quả sau điều trị. Xương hàm dưới tăng
trưởng trễ hơn và nhiều hơn ở bệnh nhân sai hình xương hạng II là
một yếu tố thuận lợi cho quá trình điều trị nhưng là yếu tố bất lợi khi
điều trị bệnh nhân sai hình xương hạng III.
4.3.2. Tốc độ tăng trưởng xương hàm trên và dưới ở từng cá thể
- Đỉnh tăng trưởng của xương hàm trên và dưới thường ở TXĐSC I-
III, tuy nhiên khi đánh giá đỉnh tăng trưởng của từng cá thể trong
mẫu nghiên cứu, có sự khác biệt giữa các cá thể (cá thể số 2 và 665
có đỉnh tăng trưởng xương hàm trên và dưới ở TXĐSC IV).

đứng của khối sọ mặt giai đoạn 8-18 tuổi (cùng với sự gập góc của
nền sọ) ở loài người là một quá trình tiến hóa từ tư thế đi bằng bốn
chân sang tư thế đứng thẳng đi bằng hai chân của con người.
4.3.3. Ứng dụng trong CHRM
4.3.3.1. Xác định tuổi xương đốt sống cổ: kết quả nghiên cứu cho
thấy sự tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt liên quan với các giai
đoạn TXĐSC. Với công thức xác định TXĐSC của nghiên cứu, có
thể xác định tuổi xương đốt sống cổ cho từng bệnh nhân CHRM. Đây
là phương pháp định lượng nên khách quan hơn các phương pháp
định tính. Hơn nữa, công thức được xác định trên nhóm mẫu người
Việt nên bước đầu có thể áp dụng để xác định tuổi xương cho các cá
thể người Việt.
19
4.3.3.2. Xác định đỉnh tăng trưởng xương hàm trong điều trị CHRM:
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự tăng trưởng xương hàm có liên
quan với các giai đoạn TXĐSC.
Các bác sĩ thường dựa vào tuổi năm sinh để tiến hành các điều trị
CHRM. Tuy nhiên điều trị các bất hài hòa do xương hàm có hiệu quả
trong giai đoạn xương hàm tăng trưởng. Sự tăng trưởng xương hàm
liên quan với tuổi xương hơn là tuổi năm sinh vì có cá thể trưởng
thành sớm lúc 8-9 tuổi nhưng cũng có cá thể trưởng thành trễ lúc 14-
15 tuổi vì vậy nếu dựa vào tuổi năm sinh không được xem là hợp lý.
Điều trị các bất hài hòa do xương dựa vào tuổi xương là thích hợp
hơn. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định sự tăng trưởng xương hàm có
liên quan với các giai đoạn TXĐSC.
Những trường hợp bất hài hòa xương hàm, điều trị CHRM thường
gồm hai giai đoạn: giai đoạn I là tác động lên xương hàm và giai

Sai hình xương hạng II do xương hàm dưới kém phát triển thường
kèm một khớp cắn sâu vùng răng trước. Cần cải thiện khớp cắn sâu
để tạo điều kiện cho xương hàm dưới tiếp tục tăng trưởng hoặc phải
tác động khí cụ để kích thích xương hàm dưới tăng trưởng. Nếu tác
động điều trị quá trễ, sự tăng trưởng của xương hàm dưới không còn,
khó có thể đạt được tương quan hai hàm bình thường. Nếu tác động
điều trị quá sớm, quá trình điều trị và theo dõi kéo dài, tốn kém chi
phí và thời gian của bệnh nhân cũng như mất thời gian của bác sĩ, tạo
tâm lý mệt mỏi cho trẻ vì phải theo quá trình điều trị quá lâu.
KẾT LUẬN
Công trình nghiên cứu được trình bày trong luận án này về “Nghiên
cứu tuổi xương đốt sống cổ trên phim sọ nghiêng và ứng dụng khảo
sát sự tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt giai đoạn 8-18 tuổi” gồm
hai nghiên cứu độc lập, kế tiếp nhau và bổ sung nhau:
Nghiên cứu thứ nhất: Xác lập công thức định tuổi xương đốt sống cổ
dựa vào tiêu chuẩn trưởng thành xương bàn-cổ tay.
21
- Nghiên cứu thứ hai: Đánh giá tăng trưởng hệ thống sọ mặt trong
giai đoạn từ 8-18 tuổi bằng sự thay đổi kích thước và tốc độ tăng
trưởng theo tuổi năm sinh và tuổi xương đốt sống cổ (rút ra từ nghiên
cứu thứ nhất).
Từ kết quả của nghiên cứu, cho phép rút ra những kết luận sau:
1. Công thức tính tuổi xương đốt sống cổ (TXĐSC): TXĐSC=
1,92+ 0,04*α2 + 0,03*α4 –1,12*AB3/CB3 + 3,17 * h4/w4
Giai đoạn TXĐSC I : TXĐSC < 2,55;
Giai đoạn TXĐSC II : 2,55 ≤ TXĐSC < 3,33;
Giai đoạn TXĐSC III : 3,33 ≤ TXĐSC < 4,36;

1/ Công trình nghiên cứu đã khẳng định giá trị của tuổi xương đốt
sống cổ đối với nghiên cứu tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt:
nghiên cứu tăng trưởng xương hệ thống sọ mặt giai đoạn dậy thì cần
căn cứ trên tuổi xương chứ không phải theo tuổi năm sinh.
Trong thực hành lâm sàng CHRM, có thể ứng dụng công thức xác
định tuổi xương đốt sống cổ của nghiên cứu để xác định các giai
đoạn tăng trưởng xương hàm. Tuy nhiên để có thể áp dụng công thức
dễ dàng, cần thiết lập phần mềm để việc đo đạc giá trị tuổi xương
mang giá trị thực tiễn hơn.
2/ Kết quả nghiên cứu về công thức xác định tuổi xương đốt sống cổ
và sự tăng trưởng các thành phần hệ thống sọ mặt trong giai đoạn 8-
18 tuổi theo tuổi xương đốt sống cổ giúp xác định thời điểm thích
hợp cho các điều trị cần can thiệp vào quá trình tăng trưởng xương
hàm. Tuy nhiên, những điều trị CHRM cần tác động lên tăng trưởng
xương hàm chủ yếu ở bệnh nhân hạng II và hạng III, vì vậy cần
nghiên cứu đỉnh tăng trưởng của xương hàm trên và xương hàm dưới
ở bệnh nhân hạng II và hạng III, trong giai đoạn TXĐSC nào để
công thức tuổi xương đốt sống cổ có ý nghĩa áp dụng thực tế hơn?
23
3/ Việc tăng trưởng trễ của xương hàm dưới là vấn đề mà các bác sĩ
CHRM rất quan tâm nhất là đối với các sai hình xương hạng III. Sự
tăng trưởng xương hàm gần như hoàn tất ở giai đoạn Ru (theo
phương pháp xác định tuổi xương bàn-cổ tay). Như vậy ở giai đoạn
tuổi xương TXĐSC V (TXĐSC > 5,39) có còn sự tăng trưởng xương
hàm dưới? Vấn đề tăng trưởng trễ của xương hàm dưới là vấn đề cần
được nghiên cứu sâu hơn để có thể ứng dụng trong thực hành lâm
sàng CHRM.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status