Khí nhà kính và đánh giá sự phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước công nghiệp - Pdf 26

TIỂU LUẬN MÔN : KIỂM SOÁT Ô NHIỄM NƯỚC
Đề tài : Khí nhà kính và đánh giá sự phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý
nước công nghiệp
1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÍ NHÀ KÍNH
1.1.Khí nhà kính.
Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng
ngoại) được phản xạ từ bề mặt Trái Đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt
trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái Đất, gây nên hiệu ứng nhà kính. Các khí
nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước, CO
2
, CH
4
, N
2
O, O
3
, các khí CFC. Trong hệ
mặt trời, bầu khí quyển của Sao Kim,Sao Hỏa và Titan cũng chứa các khí gây
hiệu ứng nhà kính. Khí nhà kính ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiệt độ của Trái Đất,
nếu không có chúng nhiệt độ bề mặt Trái Đất trung bình sẽ lạnh hơn hiện tại
khoảng 33 °C (59 °F).
Tỷ lệ phần trăm các khí gây hiệu ứng nhà kính
Khí

Hơi nước
CO
2
CH
4
O
3


Các khí clorolfuorocacbon (CFC): là những hóa chất tổng hợp, có mặt trong khí
quyển từ khi công nghiệp làm lạnh, mỹ phẩm phát triển. Bên cạnh khả năng làm
nón trái đất mạnh (hơn CO
2
gấp 11.000 lần trong thời gian 20 năm), CFC ở sang
sol khí thường làm tổn hại tầng ozon. Nếu chấm dứt phát thải ngay thì khoảng
100 năm sau mới phân hủy hết lượng CFC hiện có

Khí oxit nito (NO
2
): chiếm một lượng nhỏ trong thành phần các khí nhà kính,
nhưng khả năng làm nóng trái đất cao (gấp 289 lần trong khoảng thời gian 20
năm) và làm tổn hai tầng ozon. Do nó có thời gian tồn tại trongkhis quyển lâu
dài, nên lượng oxit nito thải ra tiếp tục gây ấm lên toàn cầu và kéo dài đến thế kỷ
sau.

Các nguồn phát thải khí oxit nito gồm: sản xuất phân bón, hóa chất, đốt nhiên
liệu hóa thạch, cháy rừng, đốt rơm rạ, xử lí nước thải, quá trình nitrat hóa các
loại phân bón hữu cơ, vô cơ trong nông nghiệp.

Ôzôn (O
3
) được tạo ra tự nhiên do các phản ứng trong khí quyển và do hoạt động
của con người, như từ xe cộ và các nhà máy năng lượng. Ở tầng cao của khí
quyển, tầng ôzôn hấp thu bức xạ tia cực tím bảo vệ trái đất, trong khi sự gia tăng
ôzôn ở tầng thấp của khí quyển góp phần làm trái đất nóng lên. Do có thời gian
tồn tại trong khí quyển ngắn, nên ôzôn chủ yếu gâp nóng lên ở quy mô khu vực
nhiều hơn là gây ấm lên toàn cầu.
1.2 .Hiện tượng hiệu ứng nhà kính :

Phần lớn các nhà khoa học ủng hộ giả thuyết cho rằng việc tăng nồng độ các khí
nhà kính do loài người gây ra, hiệu ứng nhà kính nhân loại, sẽ làm tăng nhiệt độ
trên toàn cầu (sự nóng lên của khí hậu toàn cầu) và như vậy sẽ làm thay đổi khí
hậu trong các thập kỷ và thập niên kế đến.
Giả thuyết này bị phủ nhận bởi một số người gọi là nhà phê bình khí hậu mà con
số các nhà khoa học trong họ đã giảm đi rõ rệt trong những năm vừa qua.
Sau đây là một số hậu quả liên đới với việc thay đổi khí hậu do hiệu ứng này có
thể gây ra:
• Các nguồn nước: Chất lượng và số lượng của nước uống, nước tưới tiêu,
nước cho kỹ nghệ và cho các máy phát điện, và sức khỏe của các loài thủy
sản có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự thay đổi của các trận mưa rào
và bởi sự tăng khí bốc hơi. Mưa tăng có thể gây lụt lội thường xuyên hơn.
Khí hậu thay đổi có thể làm đầy các lòng chảo nối với sông ngòi trên thế
giới.
• Các tài nguyên bờ biển: Chỉ tại riêng Hoa Kỳ, mực nước biển dự đoán
tăng 50 cm vào năm 2100, có thể làm mất đi 5.000 dặm vuông đất khô ráo và
4.000 dặm vuông đất ướt.
• Sức khỏe: Số người chết vì nóng có thể tăng do nhiệt độ cao trong những
chu kì dài hơn trước. Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ có thể đẩy mạnh các
bệnh truyền nhiễm.
Nhiệt độ tăng lên làm tăng các quá trình chuyển hóa sinh học cũng như hóa học
trong cơ thể sống, gây nên sự mất cân bằng.
• Lâm nghiệp: Nhiệt độ cao hơn tạo điều kiện cho nạn cháy rừng dễ xảy ra
hơn.
• Năng lượng và vận chuyển: Nhiệt độ ấm hơn tăng nhu cầu làm lạnh và
giảm nhu cầu làm nóng. Sẽ có ít sự hư hại do vận chuyển trong mùa đông
hơn, nhưng vận chuyển đường thủy có thể bị ảnh hưởng bởi số trận lụt tăng
hay bởi sự giảm mực nước sông.
• Những khối băng ở Bắc cực và nam cực đang tan nhanh trong những năm gần
đây và do đó mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến nạn hồng thủy.

oxy sinh học (BOD). Trong điều kiện tương tự nhau, nước thải có nồng độ COD hay
BOD cao hơn sẽ phát sinh một lượng lớn khí CH
4
. Nước thải của một số ngành công
nghiệp như đường, sữa, giấy, nhựa, bia, rượu, chế biến thực phẩm có chứa nhiều
chất hữu cơ dễ phân hủy và có khả năng phát sinh khí CH
4
nhiều nhất. IP CC (2006) đã
xác định nồng độ OD trong nước thải của một số ngành công nghiệp như sau: sản
xuất rượu (11 kg/m
3
); chế biến tinh bột sắn (10 kg/m
3
); nước giải khát (5 kg/m
3
); chế biến
thịt (4,1 kg/m
3
); sản xuất bia (2,9 kg/m
3
); chế biến thủy sản (2,5 kg/m
3
); sản xuất giấy và
bột giấy (tương ứng là 1,5 kg/m
3
và 2 kg/m
3
).
+ Phương thức xử lý nước thải: Tùy từng phương thức xử lý nước thải sẽ làm
phát sinh một lượng khí CH

4
phát sinh.
2.2. LƯỢNG PHÁT THẢI KHÍ CH
4
TRONG NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở
VIỆT NAM
Ở Việt Nam, theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia n m 2010, hai nhóm
ngành công nghiệp lớn là chế biến thực phẩm và đồ uống; sản xuất giấy và các sản phẩm
giấy có tỷ trọng đóng góp lớn về hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy (BOD). Trong đó,
ngành chế biến thực phẩm và đồ uống chiếm 59,66%; ngành sản xuất giấy và các sản
phẩm giấy chiếm 23,34% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011).
Hình 1: Tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp
đối với tổng lượng BOD năm 2006
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011
Với tỷ trọng đóng góp BOD của 2 nhóm ngành trên thì sự gia t ng sản lượng
của các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống; ngành sản xuất giấy và các sản
phẩm giấy hằng n m sẽ đóng góp một lượng lớn sự phát thải khí nhà kính (chủ yếu là khí
CH
4
) vào bầu khí quyển.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu sẽ tiến hành tính toán lượng khí CH
4
có thể
phát sinh trong nước thải của 2 nhóm ngành chủ yếu này với các lĩnh vực sản xuất sau:
sản xuất bia, rượu, nước giải khát; chế biến tinh bột sắn; chế biến thịt, chế biến thủy sản;
sản xuất giấy, bột giấy.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2010), sản lượng của ngành công nghiệp
giấy và bột giấy là 1.536,80 và 345,9 nghìn tấn sản phẩm; sản lượng của ngành bia, rượu,
nước giải khát, sữa lần lượt là: 2.420,20; 120; 2.000; 579,5 nghìn tấn sản phẩm; sản lượng
của ngành dầu thực vật tinh luyện và đường là 565,9 và 1.141 nghìn tấn sản phẩm; sản

.
2.3. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
GIẢM PHÁT THẢI KNK.
Có thể thấy tổng lượng khí CH
4
phát thải trong nước thải công nghiệp là rất lớn
với 1,25 tỷ tấn CO
2
/n m. Vì vậy, cần đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu sự phát
thải KNK này ra ngoài môi trường khí quyển. Dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến
lượng khí CH
4
phát sinh trong nước thải, nghiên cứu kiến nghị một số giải pháp để
giảm lượng khí này như sau:
- Nâng cấp và cải tạo hệ thống xử lý bằng phương pháp hiếu khí đang hoạt động
bị quá tải và cải thiện phương thức quản lý.
Đối với nước thải đang áp dụng hệ thống xử lý hiếu khí những không được
quản lý tốt và bị quá tải dẫn đến việc phát sinh khí metan trong nước thải với hệ số
phát thải khí CH
4
của phương thức xử lý này là 0,3. Để giảm thiểu lượng khí CH
4
phát
thải từ quá trình này, cần tiến hành nâng cấp, cải tạo hệ thống xử lý hiếu khí hiện tại và
thực hiện quản lý tốt quá trình xử lý này đảm bảo không bị quá tải. Với phương thức xử lý
này thì hệ số phát thải của metan là 0. Như vậy, giải pháp này sẽ góp phần giảm
tránh được lượng khí CH
4
phát thải. Cụ thể, có thể tiến hành các giải pháp nhằm nâng
cấp, cải tạo và cải thiện phương thức quản lý như sau:

qua việc ứng dụng các giải pháp này sẽ mang lại những lợi ích về kinh tế (tiết kiệm chi phí mua
nhiên liệu đốt) và lợi ích về môi trường (cải thiện chất lượng môi trường nước, không khí,
giảm mùi hôi…). Do đó, trong thời gian tới cần thúc đẩy việc triển khai các giải pháp này trong việc
xử lý nước thải của các ngành công nghiệp có hàm lượng hữu cơ cao nhằm thích ứng với
biển đổi khí hậu và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status