bước đầu tìm hiểu về sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình học - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, ngoài sự nỗ lực của các
thành viên trong nhóm, nhóm chúng tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận
tình của các thầy cô giáo giảng dạy trong khoa Tâm lý – giáo dục. Các thầy cô
đã luôn quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập
nghiên cứu.
Đặc biệt nhóm chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Vũ
Anh Tuấn - Giảng viên bộ môn Phương pháp nghiên cứu khoa học, Khoa Tâm lý –
giáo dục, trường Đại học Tây Bắc đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi
giúp đỡ cho nhóm chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Nhóm chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới toàn thể các bạn sinh viên
K53 ĐHSP Ngữ văn A và K53 ĐHSP Ngữ văn B, trường Đại học Tây Bắc, người
thân, gia đình bạn bè đã động viên giúp đỡ nhóm trong quá trình làm đề tài.
Do hạn chế về thời gian, kinh nghiệm và đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên
trong chương trình học Đại học nên mặc dù đã rất cố gắng nhưng đề tài không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy cô và các bạn đóng góp ý
kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Nhóm tác giả
1
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành.
BĐTD : Bản đồ tư duy.
ĐHSP : Đại học Sư phạm.
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo.
GV : Giảng viên.
HS : Học sinh.
KH : Kì học.
NXB : Nhà xuất bản.
PPDH : Phương pháp dạy học.

6
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào ngưỡng cửa đại học là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của
mỗi con người. Đó cũng là lúc mà chúng ta tự thay đổi chính mình để trở thành
những con người tự tin và năng động để thích nghi với môi trường mới – môi
trường đại học đầy gian nan và thử thách. Trong những sự thay đổi ấy, cần có sự
thay đổi về phương pháp học tập bởi đó là yếu tố chính quyết định kết quả học
tập của mỗi sinh viên. Phương pháp học chính là “chìa khóa” của sự thành công,
cũng vì tầm quan trọng của “chiếc chìa khóa vô hình” ấy mà nhiều công trình
nghiên cứu về phương pháp học đã ra đời để mang lại cho học sinh, sinh viên
những phương pháp học hiệu quả.
Trong một thế giới bùng nổ thông tin như hiện nay, việc học tập chăm chỉ
vẫn chưa là giải pháp tối ưu bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là
học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng vào công việc gì. Các phương
pháp luận học tập đã đem lại thành công cho chúng ta trong quá khứ đang gặp
nhiều thử thách. Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu chúng ta không chỉ có
kiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức. Nếu ví thông
tin như các yếu tố đầu vào, còn kiến thức, kĩ năng, thái độ làm việc là yếu tố đầu
ra thì “hộp đen” hay “bộ vi xử lí” chính là bộ não của chúng ta. Thực tế, chúng
ta có thể dành nhiều thời gian để học cách sử dụng tốt một chiếc máy tính,
nhưng lại ít quan tâm đến cơ chế hoạt động, xử lí thông tin, phân tích, tổng hợp,
sáng tạo, của cỗ máy kì diệu là bộ não.
Bản đồ tư duy là một hệ thống có tính cách mạng trong việc lập kế hoạch
và ghi chú nhanh những công việc cần làm đã giúp thay đổi cuộc sống của hàng
triệu người trên thế giới. Bản đồ tư duy là một hệ thống kiến thức được tóm tắt
ngắn gọn bằng những “nhánh cây”, những kí hiệu và những hình ảnh sinh động
nhằm mô tả phần kiến thức mà ta muốn biểu thị. Vì đặc điểm ngắn gọn mà
người học có thể ghi nhớ kiến thức một cách nhanh chóng, và những tri thức
cũng được sắp xếp vào não bộ một cách hết sức khoa học. Bên cạnh những đặc

Bắc” làm đề tài nghiên cứu.
Trên thế giới hiện nay đang diễn ra những chuyển biến trong lĩnh vực giáo
dục. Xu hướng giáo dục đang phát triển với mục tiêu đổi mới nội dung, chương
8
trình, phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động cũng như khả năng tự học,
tự nghiên cứu của người học.
Trong xu hướng đó, giáo dục Việt Nam cũng đã và đang có nhiều thay đổi
mau lẹ, mạnh mẽ để hòa nhập với nền giáo dục hiện đại trên thế giới, đặc biệt là
vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường.
Tại Nghị quyết của hội nghị Trung Ương lần thứ 2 BCH Trung Ương
Đảng khóa VIII (2- 19960) có đoạn: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục
và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học”. Cũng tại Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 cũng đã
khẳng định: “ phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học,
khả năng thực hành nhằm say mê học tập và ý chí vươn lên”. Hiện nay, học tập
theo Bản đồ tư duy là một phương pháp học được khuyến khích áp dụng rộng
rãi, nhất là đối với sinh viên. Trong xu thế hội nhập của đất nước, vai trò của
phương pháp học này càng trở nên quan trọng trong việc góp phần nâng cao
hiệu quả học tập, tích lũy kiến thức, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Nhưng nó vẫn còn mang tính chung chung hoặc chỉ áp dụng cho những đối
tượng cụ thể, với những môn học riêng lẻ.
=>> Nếu đưa ra giải pháp thích hợp trong việc áp dụng hình thức học tập
này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên K53 Ngữ văn nói riêng
và Đại học Tây Bắc nói chung.
2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2.1. Khách thể nghiên cứu
Sơ đồ tư duy.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng sơ đồ tư duy vào đổi mới phương pháp học tập của sinh viên

(gồm: phương pháp lập kế hoạch học tập, phương pháp ghi chép, phương pháp
thuyết minh, phương pháp đọc tài liệu, phương pháp tự học, phương pháp học
nhóm, phương pháp làm đề cương ôn tập).
Những hạn chế và nguyên nhân của phương pháp học tập truyền thống
(gồm: Những hạn chế còn tồn tại của phương pháp học tập truyền thống.
Nguyên nhân của những hạn chế đó).
10
Đề xuất giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học
tập cho sinh viên K53 Ngữ văn trường Đại học Tây Bắc (sẽ được làm rõ ở
chương 3).
Những giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập
của sinh viên K53 Ngữ văn ( gồm: đổi mới phương pháp lập kế hoạch học tập.
Đổi mới phương pháp ghi chép bài. Đổi mới phương pháp thuyết trình. Đổi mới
phương pháp đọc tài liệu. Đổi mới phương pháp tự học. Đổi mới phương pháp
học nhóm. Đổi mới phương pháp làm đề cương ôn tập).
Những kiến nghị (gồm: Những kiến nghị liên quan đến sinh viên, những
khuyến nghị liên quan đến tập thể lớp. Những khuyến nghị liên quan đến giảng
viên. Những khuyến nghị liên quan đến nhà trường).
7. Địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Tây Bắc.
8. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã áp dụng những phương pháp cụ thể
sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát cho phép thu thập kết quả từ việc ghi chép, hoặc
những phương tiện công nghệ cao như: máy ghi âm, quay phim…Nhằm quan
sát thực tế phương pháp học tập truyền thống của sinh viên các lớp K53 ĐHSP
Ngữ văn, trường Đại học Tây Bắc.
Phương pháp thu thập phân tích tài liệu

chương này nhóm chúng tôi trình bày những vấn đề sau: lịch sử nghiên cứu vấn
đề, các khái niệm liên quan đến đề tài.
Chương 2: Kết quả nghiên cứu. Từ thực tế chúng tôi xác định được thực
trạng, những hạn chế và nguyên nhân của phương pháp học tập truyền thống của
sinh viên các lớp K53 ĐHSP Ngữ văn, trường Đại học Tây Bắc.
12
Chương 3: Những giải pháp nhằm ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới
phương pháp học tập của sinh viên các lớp K53 ĐHSP Ngữ văn, trường Đại học
Tây Bắc. Trong chương này chúng tôi đưa ra một số giải pháp ứng dụng bản đồ
tư duy để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên K53 ĐHSP Ngữ Văn và
một số phần mềm để tạo sơ đồ tư duy.B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài “ Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn” của Nguyễn
Trọng Pháo.
Đề tài đưa ra việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS
tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một các
h hệ thống, khoa học. Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích
cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi m
13
ới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS nói chung và môn Ngữ văn nói
riêng.
Đề tài “ Ứng dụng bản đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học
môn Ngữ văn ở trường THCS” của Phạm Hoài Nam.
Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chu
ng và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở trường THCS Vũ
Phạm Khải đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong hỗ trợ

thức này tùy thuộc vào nội dung “Phương pháp là sự vận động bên trong của
nội dung” (Hêghen).
Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có
nghĩa là con đường để đạt mục đích. Theo đó, Phương pháp học tập là con
đường để đạt mục đích học tập.
Theo Lexicon der Padagogik: “Phương pháp giúp để trình bày có lý lẽ
vững vàng một chân lý đã xác định rồi hoặc để vạch ra một con đường tìm tòi
một chân lý mới”.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Phương pháp là các cách thức
được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức luận cứ để chứng minh luận điểm
(luận đề). Phương pháp là cách thức hành động được chủ thể sử dụng nhằm
thực hiện một mục đích nhất định nào đó”.
Như vậy, tóm lại có thể hiểu: “Phương pháp là cách thức, con đường,
phương tiện để đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn”.
Khái niệm học tập
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, nghiên cứu dạy học theo quan điểm quá
trình: “Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học,
bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện.
Vai trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và
sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Học
có 2 chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển”.
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện ngôn
ngữ học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”.
15
Như vậy, ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về học tập là: “Học
tập là một loại hình hoạt động được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với
hoạt động dạy, giúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phương
thức hành vi nhằm phát triển nhân cách toàn diện”.
Phương pháp học tập
Tùy theo quan niệm về mối quan hệ trong quá trình học tập , đã có nhiều

Đổi mới phương pháp học tập là thay đổi, kế thừa các phương pháp học
tập truyền thống và tiếp thu các phương pháp học tập mới một cách linh hoạt,
phù hợp với điều kiện. Hoàn cảnh, để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai
đoạn hiện nay.
Đổi mới không phải thay cái cũ bằng cái mới. Nó là sự kế thừa, sử dụng
một cách có chọn lọc và sáng tạo hệ thống phương pháp học tập truyền thống
hiện còn có giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kỹ năng,
kinh nghiệm và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá
trị xã hội. Đổi mới phương pháp học tập theo hướng khắc phục những phương
pháp lạc hậu, tăng cường vận dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật,
CNTT, nhằm tạo điều kiện cho người học hoạt động tích cực, độc lập và sáng
tạo.
1.2.2. Khái niệm bản đồ tư duy, lịch sử hình thành, tác dụng và cách
thành lập bản đồ tư duy
Khái niệm bản đồ tư duy
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Bản đồ tư duy (Mindmap) là
phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng
ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay
để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Khác
với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự
nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ
17
còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau. Phương pháp này khai
thác cả hai khả năng này của bộ não”.
Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưa
bao giờ được hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức
trong nước mà chỉ được dùng tản mạn trong giới sinh viên học sinh trước các
mùa thi.
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý,
tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì

và dễ ôn tập hơn.
Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã
truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện
giáo dục.
Tác dụng (lợi ích) của việc ứng dụng bản đồ tư duy
19
Trong cuộc sống
Ghi chú: Khi thông tin được gợi ra, Bản đồ tư duy (Mind maps) giúp tổ
chức thông tin theo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ. Được
sử dụng để ghi chú tất cả các loại sách vở, bài giảng, hội họp, phỏng vấn, và
đàm thoại.
Gợi nhớ, hồi tưởng: Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ
não thì Mind maps cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay sau khi nó
được sinh ra vào một hệ được tổ chức. Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu.
Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thể
giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn.
Sáng tạo: Bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, Mind maps
sẽ giúp bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiện
theo dòng cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tư
duy xuất hiện.
Giải quyết vấn đề: Khi bạn gặp trở ngại với một vấn đề, Mind maps có thể
giúp bạn nhìn nhận tất cả các vấn đề và làm thế nào để liên kết chúng lại với
nhau. Nó cũng giúp bạn có được cái nhìn tổng quát là bạn có thể nhìn nhận vấn
đề dưới góc độ nào và sự quan trọng của nó.
Trình bày (trình diễn): Mind maps không chỉ giúp ta tổ chức các ý kiến
hợp lý, dễ hiểu mà còn giúp ta trình bày mà không cần phải nhìn vào biên bản có
sẵn.
Trong giáo dục, đào tạo
BĐTD giúp sinh viên học được phương pháp học:
Việc rèn luyện phương pháp học tập cho sinh viên không chỉ là một biện

21
BĐTD có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của
các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc
cũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy.
Việc sử dụng BĐTD giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quát toàn bộ
vấn đề, giúp GV đổi mới PPDH, giúp sinh viên học tập tích cực đó chính là một
trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả - nội
dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng
Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát
động.
Cách thành lập bản đồ tư duy
Cho dù vẽ bằng tay hay bằng máy chúng ta đều có thể thực hiện theo các
bước sau:
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang) hoặc
trên máy.
Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể
thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của
mình. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ
ràng.
Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình
ảnh.
Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng
sâu sắc về chủ đề.
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.
Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi
bật.
Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được
vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.

trong bài học, trong tài liệu tham khảo, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các
kiến thức có liên quan với nhau.
Tuy nhiên qua quan sát từ thực tế thì sinh viên còn hạn chế trong việc tư
duy để lập luận và trình bày đầy đủ kiến thức
23
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Thực trạng phương pháp học tập truyền thống của sinh viên K53
ĐHSP Ngữ văn, Đại học Tây Bắc.
Phương pháp ghi chép bài
Ghi chép là một việc rất quan trọng trong quá trình học tập. Nghe, nhìn
vào người giảng và ghi chép là ba hoạt động gắn bó mật thiết trong quá trình
24
nghe giảng. Học sinh ghi chép bài tập đầy đủ và đúng cách sẽ giúp ghi nhớ bài
học tốt hơn, việc học tập đạt hiệu quả hơn.
Khi nghiên cứu về phương pháp ghi chép bài tác giả nhận thấy các sinh
viên thường ghi bài theo cách “cô đọc trò ghi” ghi rất nhiều mà không trọng tâm
vào nghe, đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi của giáo viên đưa ra. Một quyển vở
nhiều chữ, nhìn rất khó nhớ và để tìm lại một khái niệm hay một công thức tính
toán sinh viên phải dở đi dở lại, mất rất nhiều thời gian tìm kiếm. Trong ghi
chép hầu hết các sinh viên không biết phân tích và chọn lọc thông tin, nên thông
tin được ghi lại dài dòng, khó hiểu.
Ghi chép bài theo kiểu truyền thống làm cho sinh viên cảm thấy nhàm
chán. Khiến học sinh không tập trung trong giờ học. Có lẽ sẽ khá khó để tìm
thấy một giảng đường mà 100% các bạn sinh viên đều chăm chú theo dõi và ghi
chép bài đầy đủ. Nhiều bạn thường chọn những chỗ ngồi giáo viên ít để ý để…
ngủ, hay online bằng laptop, rồi không ghi bài, hoặc đọc giáo trình của những
môn học khác…
Phương pháp thuyết trình
Thuyết trình là trình bày bằng lời trước người nghe về một vấn đề nào đó
nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe. Một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status