Môi trường trong quá trình gia nhập WTO - Pdf 26

CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP TỔ
CHỨC WTO VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ
LỜI NÓI ĐẦU
Đứng trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay Việt Nam không có con đường
nào khác ngoài con đường hội nhập kinh tế quốc tế . Lịch sử phát triển của thế
giới chỉ ra rằng chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu thương mại
quốc tế thì một quốc gia mới có thể phát triển hưng thịnh, mới có thể bắt kịp với
đà phát triển chung của thế giới.
Việt Nam đã gần như hoàn tất quá trình đàm phán chỉ còn một số khâu
nhỏ nữa trong quá trình đàm phán với Mỹ, EU, Austraylia nữa là Việt Nam có
thể trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO trong
thời gian ngắn tới.
Chúng ta vui mừng và háo hức đón chờ sự kiến trọng đại mang tính bước
ngoặt trong tiến trình phát triển kinh tế nước nhà. Bên cạnh đó chúng ta cũng
phải nhận thức được những cơ hội và thách thức lớn lao mà chúng ta sẽ gặp
phải khi hoà mình vào vòng luân chuyển WTO để từ đó có những bước đi và
hành động đúng đắn. Một trong những cơ hội và thách thức lớn đặt ra với Việt
Nam là vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế.
Trong phạm vi nghiên cứu đề cập đến “Các vấn đề môi trường trong quá
trình gia nhập tổ chức WTO và biện pháp xử lý”.
1
I LÝ LUẬN
1 . Vai trò của môi trường:
Trước khi đề cập đến vai trò của môi trường chúng ta cùng xem qua về
khái niệm môi trường. Theo “luật bảo vệ môi trường” của Việt Nam: “ môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người ,có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và thiên nhiên”. Như vậy môi trường có 4 vai trò chính đó
là:
-Là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động
sản xuất của con người

hiểu là các quy định về môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động
xuất nhập khẩu giữa các quốc gia. Bên cạnh yếu tố tích cực là bảo vệ môi trường
nó còn là một công cụ phi thuế quan cực kỳ hiệu quả của các nước phát triển và
đang phát triển ở trình độ cao để bảo hộ hàng hoá trong nước. Đây là một vấn đề
nan giải được đặt ra với nước ta.
Thực tế đã chỉ ra Việt Nam ngày càng phải đương đầu với rất nhiều các
yêu cầu về môi trường từ các nước phát triển . Bằng chứng là tôm xuất khẩu của
Việt Nam bị Mỹ, cộng đồng châu Âu từ chối, bị trả lại do không đạt tiêu chuẩn
về vệ sinh an toàn thực phẩm. Thịt xuất khẩu bị đe doạ vì nạn Sar và H5N1. Hậu
quả xuất khẩu bị đe doạ vì những tin đồn về chất diệt cỏ dioxin…. Không còn
nghi ngờ gì, khi Việt Nam gia nhập WTO, các nhu cầu về môi trường còn
nghiêm ngặt hơn và đất nước cần chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với các vấn đề
liên quan đến vấn đề môi trường- thương mại. Về phía Việt Nam, chúng ta cũng
cần sử dụng một cách hiệu quả hơn“ Rào cản xanh” để kiểm soát xuất, nhập
khẩu các sản phẩm liên quan đến vấn đề môi trường bảo vệ các ngành sản xuất
3
trong nước cũng như hạn chế tối đa các ngoại ứng tiêu cực do các doanh nghiệp
nước ngoài hoạt động sản xuất tại Việt Nam.
3. Các yêu cầu đặt ra với Việt Nam
Thứ nhất : Phải đáp ứng được các yêu cầu về môi trường để vượt qua
rào cản xanh” mà nhiều nước đang áp dụng đồng thời năng lực bảo vệ môi
trường trong nước cũng phải được nâng cao để đáp ứng được các biện pháp
quản lý sắp tới sẽ phải áp dụng chung cho cả hàng hóa trong nước cũng như
hàng hoá nhập khẩu.
Thứ hai: Do sự phức tạp của rào cản thương mại liên quan đến vấn đề
môi trường cho nên đòi hỏi các cơ quan trong nước và các doanh nghiệp phải
nắm vững các quy định liên quan đến vấn đề môi trường để đấu tranh bảo vệ
quyền lợi của mình đồng thời cũng cần nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu về
môi trường trong quá trình sản xuất để đáp ứng yêu cầu của các nước mới có thể
tiếp cận và nở rộng thị trường ra nước ngoài.

Ô nhiễm bụi nhiều nơi bị ô nhiễm trầm trọng tới mức báo động. Nồng độ bụi
trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng
trung bình cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần. Đặc biệt ở các nút giao thông
thì nồng độ bụi cho phép cao hơn tiêu chuẩn từ 2-5 lần. Quá trình phát triển của
các khu đô thị và quá trình hội nhập đang đặt ra vấn đề về môi trường như: Ô
nhiễm môi trường tại các chợ đầu mối nhất là những rác thải rắn và rác thải
lỏng. Những rác thải phát sinh do giết mổ và hoạt động buôn bán thuỷ hải sản…
Bên cạnh đó ô nhiễm do rác thải của các bệnh viện, ô nhiễm do lạm dụng hoá
chất trong sản xuất nông nghiệp, ô nhiễm do qua trình vận tải, chuyên chở dầu
do sự cố ngày càng gia tăng.Cũng như việc xử lý rác chủ yếu bằng biện pháp
chôn lấp là một trong những nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước ngầm…
2-Về cơ chế chính sách:
5
Hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, việc gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO chúng ta đã phải chỉnh sửa và bổ sung hơn 100 luật. Hơn nữa luật
của chúng ta là luật khung vì thế không thể thực hiện được khi chưa có những
văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành.Chính vì thế đã gây ra rất nhiều những
khó khăn cho cả doanh nghiệp cũng như những người làm công tác quản lý môi
trường.
Cơ chế chính sách, nhìn nhận từ phía doanh nghiệp: Về việc giải quyết các
vấn đề thương mại và môi trường là một vấn đề rất bức xúc với các doanh
nghiệp liên doanh. 37% số doanh nghiệp liên doanh cho rằng khó khăn lớn nhất
mà họ gặp phải là cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, còn nhiều bất cập, 32% số
doanh nghiệp liên doanh cho rằng họ gặp khó khăn lớn nhất về hệ thống quản lý,
trong chỉ đạo điều hành của các địa phương, các cơ quan chức năng chưa có sự
thống nhất, chồng chéo nhiều và chưa tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ họ thực
hiện các yêu cầu môi trường trong sản xuất kinh doanh.Trong khi đó 20% doanh
nghiệp nhà nước và 17% số doanh nghiệp tư nhân cho rằng họ gặp khó khăn liên
quan đến cơ chế, chính sách. Như vậy vấn đề đặt ra là phải có sự nghiên cứu để
có sự dồng bộ về cơ chế chính sách, có sự thống nhất trong quản lý nhà nước

và môi trường.Cho đến nay việc sản xuất các sản phẩm xanh chưa được quan
tâm đúng mức. Một số nhà quản lý điều hành doanh nghiệp còn chưa được trang
bị kiến thức hoặc hiểu biết còn hạn chế về những yêu cầu xanh đối với sản
phẩm. Khảo sát về hiện trạng quản lý môi trường ở một số doanh nghiệp điển
hình tại Việt Nam cho thấy, hầu hết các công ty nhà máy đều chưa đạt được tiêu
chuẩn, quy định về môi trường.
Thứ hai: Hầu hết các công ty nhà máy đều chưa có bộ phận chuyên trách
về môi trường. Các cán bộ được giao thực hiện công tác về môi trường không có
chuyên môn sâu trong lĩnh vực này hoặc chỉ mới tham gia các khoá đào tạo
7
ngắn hạn về môi trường. Người chịu trách nhiệm thêm nhiều công tác chuyên
môn khác như các vấn đề kỹ thuật, an toàn lao động, nhân sự...dẫn đến tỷ lệ thời
gian giành cho công tác này chỉ chiếm khoảng 40-50%.Thực trạng này cho thấy
công tác quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường do các cơ quan quản lý môi
trường nhà nước và địa phương yêu cầu bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện
chưa thực sự đáp ứng với mức độ chuyên nghiệp theo yêu cầu bảo vệ môi
trường mà nhiều nước đặt ra đối với hàng nhập khẩu.
Thứ ba: Về đầu tư cho công nghệ xử lý môi trường. Theo quá trình kháo
sát từ tháng 9đến tháng 12/2003 tại 526 doanh nghiệp tại 18 tỉnh thành phố
trong cả nước đã chỉ ra nhiều thực trạng trong vấn đề môi trường cũng như việc
giải quyết vấn đề môi trường tại doanh nghiệp.Các doanh nghiệp thiếu vốn để
đầu tư cho vấn đề xử lý môi trường. Điều đó thể hiện rõ nét nhất với những
doanh nghiệp nhà nước: 57% số doanh nghiệp nhà nước cho rằng khó khăn nhất
là họ thiếu vốn để đầu tư cho vấn đề đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường. Một số
doanh nghiệp tư nhân cho rằng họ gặp rất nhiều khó khăn do thiếu vốn, hiện tại
họ chưa dám nghĩ tới việc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài mặc dù sản phẩm
của họ rất có ưu thế.
Thứ tư: Thông tin về các vấn đề rào cản môi trường ở các nước nhập
khẩu. Vấn đề này được nhóm các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ rất quan
tâm. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng nhanh qua các năm xong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status