LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BỘ BA bất KHẢ THI VÀ THỰC TRẠNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM - Pdf 26

Lời Cảm Ơn
Xin chân thành bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến cô PGS.TS. Hồ Thủy Tiên cùng cô TH.S Trần Xuân Hằng , người đã dạy dỗ chúng em trong suốt thời gian qua và nhất là đã động viên, khuyến khích, giúp đở chúng em trong bộ môn Tài Chính Quốc Tế
Với lượng thời gian có hạn và điều kiện của sinh viên, đề tài không tránh khỏi những hạn chế và sai sót. Chúng em kính mong nhận được lời góp ý chân thành của quý thầy cô và bạn bè gần xa.
TP.HCM, ngày 16 tháng 03 năm 2015
Tập thể nhóm
Trân trọng!

Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Quý đọc giả thân mến!
Khi đề cập đến Tài Chính Quốc Tế, một trong những lý thuyết kinh tế học được quan
tâm và suy xét cẩn trọng đó là “ Bộ Ba Bất Khả Thi – Impossible Trinity”. Như vậy trên
thực tế lý thuyết này là gì và tác động của nó đối với nền kinh tế của các quốc gia trên
thế giới như thế nào?
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ vấn đề này bằng việc trình bày về
bộ ba nhân tố của lý thuyết và một số phương pháp đo lường bộ ba bất khả thi đến quý
đọc giả. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng giới thiệu về bộ ba bất khả thi ở các nước trên thế
giới trong đó có nhóm quốc gia đang phát triển và phát triển. Đồng thời trình bày về tác
động của bộ ba bất khả thi đến Việt Nam, sự thay đổi của bộ ba bất khả thi sau mỗi
cuộc khủng hoảng và sự lựa chọn chính sách “Impossible Trinity” ở các nước trên thế
giới như thế nào.
Hy vọng quý bạn đọc sẽ tìm thấy nhiều nội dung bổ ích, mới mẻ mà chúng tôi đã tốn
khá nhiều công để biên soạn hình thành nên đề tài nghiên cứu này.
Thành phần tham gia đề tài nghiên cứu gồm :
STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH VIÊN GHI CHÚ
1 Lê Thị Chinh 1212210006
2 Trần Thị Cherry 1212210005
3 Trịnh Văn Duy 1212210012
4 Nguyễn Quốc Dũng 1212210015
5 Nguyễn Thị Hòa 1212210028
6 Vũ Hiếu 1212210018

2. Sự chọn lựa của nhóm nước phát triển………………………………….28
V. THAY LỜI KẾT…………………………………………………….30
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………… 32
VII. CÂU HỎI TỰ LUẬN……………………………………………… 32
VIII. CÂU HỎI TỰ LUẬN( ĐÁP ÁN)……………………………………35
IX. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM…………………………………………55
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 3
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
BỘ BA BẤT KHẢ THI
I. LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI
1. Ba nhân tố của lý thuyết
Trong kinh tế học, bộ ba bất khả thi (còn gọi là Bộ ba chính sách không thể
đồng thời hoặc tam nan kinh tế, tiếng Anh: impossible trinity) chỉ một giả thuyết kinh
tế cho rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố
định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự do lưu chuyển vốn. Chỉ có thể
thực hiện đồng thời hai trong ba chính sách này mà thôi. Thuật ngữ này còn dùng để chỉ
tình thế kinh tế dễ đổ vỡ khi mà một quốc gia cố tình thi hành ba chính sách trên cùng
lúc.
Các lý luận kinh tế như sơ đồ DD-AA hay mô hình Mundell-Fleming đều chỉ ra
quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái với giả định là vốn được tự do lưu
chuyển qua biên giới quốc gia. Khi ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ
nới lỏng thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên, khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì tỷ
giá giảm đi. Như thế, nếu thực hiện một chế độ tỷ giá cố định, thì chính sách tiền tệ
không thể thay đổi linh hoạt được.
Lý thuyết bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity (hay Inconsistent Trinity
hay Triangle of Impossibility)) là một chính sách kinh tế quốc tế. Lý thuyết phát biểu
rằng: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách
vĩ mô:
- Ổn định tỷ giá
- Tự do hóa dòng vốn

đổi của quốc gia không đúng thực tế. . Do vậy rất khó để một quốc gia có được một hệ
thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả. Lý thuyết bộ ba bất khả thi khẳng định rằng:
trong điều kiện ngày nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa việc giảm thiểu sự thay đổi
tỷ giá hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập ổn định. Nó không thể có đồng thời
cả hai.
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 5
Giáo sư Robert Mundell được xem là cha đẻ của lý thuyết bộ ba bất khả thi. Và “mô
hình Mundell-Fleming” được xem là điểm khởi đầu của bộ ba bất khả thi, là kết quả
nghiên cứu của Robert Mundell (1962, 1963) và J.M.Fleming (1962) trong thời gian
làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF.
Chúng ta có thể hình dung giống như việc chúng ta không thể nào chặn ba góc của một
tấm vải bị gió tung lên chỉ bằng hai hòn đá. Nghĩa chúng ta chỉ có thể chặn tối đa hai
góc của tấm vải ấy mà thôi, hoặc có thể là không thể chặn được vì gió quá mạnh. nền
kinh tế như tấm vải ấy, ba góc của tấm vải như là ba yếu tố của bộ ba bất khả thi. Và
hai viên đá chính là công cụ, chính sách của nhà nước, mà chỉ có thể dùng được hai
công cụ là tối đa để điều tiết hai trong ba yếu tố của bộ ba ấy. và buộc phải thả nổi yếu
tố còn lại.
Tại sao lại không thể tiến hành đồng thời cả ba yếu tố trên ?
Giả sử một nước cố gắng thực hiện cả ba chính sách trên đồng thời. Khi kinh tế tăng
trưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ. Khi
đó, ngân hàng trung ương muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện chính
sách tiền tệ nới lỏng, nhằm tăng lượng cung tiền, điều tiết tỉ lệ đồng ngoại tệ và đồng
VN. Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến tăng tốc
lạm phát. Muốn lạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh khoản đối
ứng. Song như thế thì vốn nước ngoài càng chảy vào nhiều.
(Chính sách thanh khoản đối ứng, còn gọi theo cách khác là chính sách vô hiệu hóa, là
chính sách thu hồi bớt nội tệ từ lưu thông nhằm vô hiệu hóa hoặc giảm thiểu ảnh
hưởng tiêu cực của việc thu mua ngoại tệ tới giá trị nội tệ).
1.1 Chính sách tiền tệ độc lập
Chính sách tiền tệ độc lập là những chính sách mà nhà nước thực hiện nhằm mục

phát tăng tốc 2 con số. Lúc bấy giờ tỷ giá dao động mức 1 USD=16.500 VND.
Nhiều nhà kinh tế lúc bấy giờ đưa ra đề xuất để cho tỷ giá giảm xuống mức 1
USD = 15.500 VND để nhập khẩu lạm phát thấp ở nước ngoài về.Tỷ giá giảm
làm cho giá hàng nhập khẩu giảm đi. Kết quả của việc giảm tỷ giá, tức để cho
đồng nội tệ lên giá, kéo theo giá hàng nhập khẩu giảm đi (nếu các yếu tố khác
không đổi). Vào thời điểm này do dòng vốn chảy vào nền kinh tế Việt Nam quá
nhiều nên tỷ giá có lúc đã giảm xuống khoảng 1 USD = 15.500 VND. Vấn đề là
thay vì nhập khẩu các vật tư cần thiết cho sản xuất giúp hạ nhiệt lạm phát thì các
doanh nghiệp Việt Nam lại nhập khẩu quá nhiều ô tô. Nhìn chung tỷ giá quá
cứng nhắc chẳng những có khả năng dẫn đến bất ổn trong tăng trưởng, rủi ro
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 7
lạm phát cao mà còn dẫn đến phân bổ sai nguồn lực và tăng trưởng không bền
vững.
1.3 Hội nhập tài chính (tự do hóa dòng vốn )
Hội nhập tài chính hợp tác giữa các nền kinh tế, hay có thể nói là sự luân
chuyển dòng vốn giữa các nền kinh tế.
• Lợi ích :
+ Hữu hình : quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn. giúp
nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư.
+ Vô hình : Tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản
trị tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập.
• Lợi ích lớn nhất-lợi ích vô hình-mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động
lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo
kịp những thay đổi từ hội nhập. Trên thực tế chính nhờ vào quá trình tự do
hóa tài chính cuối những thập niên 1990, nhất là sau trở thành thành viên
WTO 2007 mà chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách sâu rộng,
trong đó có cải cách thủ tục hành chính và chất lượng thể chế.
• Mặt trái : Hội nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất ổn
kinh tế những năm gần đây. Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần
là ngắn hạn và mang tính đầu cơ. Mặc dù vậy hội nhập tài chính cũng được

- Khác với Rose, Obstfeld, Jay C. Shambaugh và Taylor (2005) đề xuất
phương pháp đo lường độc lập tiền tệ bằng cách không dựa trên số lượng mà
dựa trên lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. tuy nhiên, phương pháp này hiện đang
gây tranh cãi vì chỉ dựa chủ yếu bằng trực giác khi cho rằng điều hành chính
sách tiền tệ chủ yếu dựa vào mức lãi suất mục tiêu hơn là dựa trên số lượng
tiền tệ.
Yếu tố khó đo lường nhất trong bộ ba là hội nhập tài chính. Thường thì các nhà kinh
tế dựa vào phương thức kiểm soát vốn của mỗi quốc gia theo phân loại của IMF để
xem xét chỉ số độ mở của tài khoản vốn. tuy nhiên, điều mà các nhà kinh tế thực sự
quan tâm là mức độ hội nhập tài chính trên thực tế. có thể một quốc gia tuy tuyên bố
kiểm soát chặt giá giao dịch vốn nhưng thực tế các chính sách lại khá thông thoáng.
Để đo lường từng mục tiêu chính sách trong bộ ba bất khả thi, Chinn và Ito (2008)
đã phát triển 3 thước đo để đánh giá mức độ độc lập tiền tệ (MI), ổn định tỷ giá
(ERS) và hội nhập tài chính (KAOPEN).
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 9
- Độc lập tiền tệ (MI). mức độ độc lập tiền tệ được đo lường bằng hàm nghịch
đảo của mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng của quốc gia sở
tại và quốc gia cơ sở. chỉ số mức độ độc lập tiền tệ được xác định bằng:
Trong đó i : quốc gia sở tại, j là quốc gia cơ sở. theo đó, MI sẽ nhận giá trị [0;1].
Giá trị càng lớn có nghĩa là chính sách tiền tệ càng độc lập hơn. Ví dụ nếu chúng ta
muốn đo lường mức độ độc lập của tiền tệ Việt Nam, quốc gia sở tại là Việt Nam và
quốc gia cơ sở là Mỹ ( nếu chúng ta muốn xem xét thay đổi lãi suất VND với lãi
suất USD)
- Ổn định tỷ giá (ERS). Độ ổn định tỷ giá chính là độ lệch chuẩn của tỷ giá,
được tính theo năm dựa trên dữ liệu tỷ giá mỗi tháng giữa quốc gia sở tại và
quốc gia cơ sở. Độ ổn định tỷ giá sẽ nhận giá trị [0;1], càng tiến về 1 tỷ giá
càng ổn định
Cách thức đo lường ổn định tỷ giá như trên có ưu điểm là giúp chúng ta xác
định được chính sách tỷ giá trên thực tế mà một quốc gia đang áp dụng chứ
không phải dựa trên những gì quốc gia đó tuyên bố.

đánh giá đã phản ánh được các mục tiêu chính sách quan trọng mà một quốc
gia theo đuổi trong tiến trình hội nhập tài chính.
Chỉ số Chin- Ito (KAOPEN) biến thiên giữa 0 và 1. Giá trị càng cao của chỉ
số này cho thấy quốc gia mở cửa hơn với những giao dịch vốn xuyên quốc
gia.
Lưu ý là chỉ số KAOPEN chỉ cho ta thấy độ mở tài khoản vốn theo pháp lý
dựa trên các báo cáo của chính phủ cho IMF, WB các chỉ số kinh tế vĩ mô
liên quan đến kiểm soát vốn và ngoại hối.
Lane và Milesi- Ferretti (2006) có đề xuất sử dụng chỉ số độ mở tài khoản
vốn trên thực tế. Chỉ số của Lane và Milesi- Ferretti đo lường khối lượng nợ
và tài sản nước ngoài trong cán cân thanh toán. Khi đo lường tổng hợp nợ và
tài sản nước ngoài trong cán cân thanh toán, ta sẽ thấy được mức độ kiểm
soát vốn trên thực tế mà quốc gia đó đang theo đuổi. Ngoài ra còn một
phương pháp thứ 2 để đo lường độ mở của tài khoản vốn trên thực tế, đó là
tính toán tỷ số dòng tài chính xuyên biên giới trong cán cân thanh toán quốc
tế so với GDP
Thường khi phân tích các chỉ số của bộ ba bất khả thi, các nhà kinh tế có xu
hướng sử dụng đồng thời cả 2 chỉ số độ mở tài khoản vốn theo pháp lý và
trên thực tế cùng một lúc.
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 11
II. BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1. Bộ ba bất khả thi ở các nước phát triển
Theo nghiên cứu của Aizenman, Chinn, Ito (2009, 2011), ưu tiên hàng đầu của các
nước công nghiệp phát triển thay đổi theo thời gian, đầu tiên là độc lập tiền tệ, tiếp đến
là hội nhập tài chính vào những năm 90 và cho đến nay là duy trì mục tiệu ổn định tỷ
giá ở mức cao, cùng với tự do hóa tài chính rộng rãi đã làm mất đi sự độc lập về tiền tệ.
Irma Rosenburg trong bài nghiên cứu “The impossible trinity and constraints on policy
options” (2010) chỉ ra rằng : ngày nay, tất cả các nước phát triển ngoại trừ Đan Mạch
đều duy trì một chế độ tỷ giá neo cố định hoặc thả nổi. Một ví dụ cụ thể là trường hợp
của Thụy Điển. Trước năm 1992, Thụy Điển duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định kết

(trong đó 32 quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển) trong giai đoạn 1970-2008
đã cùng đưa ra kết luận: Từ giữa những năm 1980, hầu hết các nước đang phát triển
đều thích chọn lựa mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập và chế độ tỷ giá hối đoái cố
định, đóng cửa thị trường tài chính – thị trường tài chính tự cung tự cấp. - Đồng
quan điểm như trên, nhóm 3 tác giả Aizenman, Chinn, Ito trong các bài nghiên cứu
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 13
năm 2008, 2009, 2010 và 2011 dựa trên dữ liệu từ 1970-2006 của 179 quốc gia, đã
kết luận rằng:
Sau những năm 80, các nước đang phát triển không phải thị trường mới nổi (NON-
EMG) vẫn kiên trì với chính sách tỷ giá ổn định ở mức cao, theo sau là độc lập tiền
tệ trong suốt thời kỳ quan sát và không có một xu hướng rõ ràng trong hội nhập tài
chính.
+Các nước mới nổi (EMG) không ngừng hội nhập đồng thời chấp nhận đánh
mất độc lập tiền tệ, và tỷ giá có xu hướng linh hoạt hơn
+ Xu hướng hiện tại, các nước đang phát triển lựa chọn một mô hình trung gian
với chế độ tỷ giá thả nổi có quản lí bằng cách nỗ lực gia tăng dự trữ ngoại hối, chính
sách tiền tệ độc lập vừa phải và hội nhập tài chính.
Vijay Joshi trong bài nghiên cứu “ Ấn Độ và bộ ba bất khả thi” lấy số liệu từ
năm 1990-2000 cũng đưa ra kết luận là Ấn Độ trong suốt thập kỷ đã đối phó với bộ
ba bất khả thi bằng cách áp dụng một tỷ giá hối đoái trung gian kết hợp với kiểm
soát dòng vốn. - Ila Patnaik và Ajay Shah trong bài báo “ Châu Á đương đầu với bộ
ba bất khả thi” - “Asia confronts the Impossible Trinity” (2010) dựa trên dữ liệu
trong khoảng thời gian từ 1970-2008 của 11 quốc gia châu Á đã đưa ra kết luận là
sự phản ứng của 11 quốc gia Châu Á đối với bộ ba bất khả thi khá đa dạng:
+Ấn Độ và Trung Quốc trước đây đã lựa chọn mở cửa tài khoản vốn thấp
và chế độ tỷ giá hối đoái cố định cùng một chính sách tiền tệ độc lập. Gần đây (từ
năm 2008 trở về sau), Trung Quốc và Ấn Độ đã và đang phấn đấu để giữ tỷ giá hối
đoái ít linh hoạt kết hợp với chính sách mở cửa tài khoản vốn khá mạnh. Có phải hai
nước này đã bảo vệ chính sách tiền tệ độc lập? Phân tích cho thấy, mặc dù đã dùng
chính sách vô hiệu hóa hoặc các kỹ thuật can thiệp khác dựa trên kiểm soát vốn

+ Thái Lan đã duy trì tỷ lệ lãi suất phù hợp. Và với dự trữ ngoại hối gia tăng vào
khoảng một nửa GDP hàng năm, đã có thời gian Thái Lan có những can thiệp mạnh
mẽ nhằm chống lại sự biến động mạnh trong tỷ giá hối đoái gia tăng. Từ đó, ông kết
luận rằng: Thuyết bộ ba bất khả thi áp dụng khi các giả định là đơn giản, thực tế
phức tạp hơn. Ngoài sự ảnh hưởng của chênh lệch lãi suất đến dòng chảy vốn đầu
tư, còn có những nhân tố khác ảnh hưởng (đánh giá rủi ro, ý muốn chủ quan…).
Các thị trường mới nổi vẫn rất nhỏ bé và dễ bị tổn thương khi có bất kỳ sự thay đổi
nhỏ nào. Do đó, cần phải xây dựng những chính sách giúp cố đình tỷ giá nhưng vẫn
đảm bảo thu hút vốn đầu tư, hạn chế tối thiểu sự sụp đổ.
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 15
Kết luận: Nhìn chung, trong nhiều thập kỷ qua, nhóm các nước đang phát triển có
nhiều sự thay đổi trong chính sách điều hành vĩ mô của mình để tìm ra hướng giải
quyết bộ ba bất khả thi. Tuy nhiên, chưa có một quốc gia nào thực sự giải quyết
được vấn đề này. Nếu như trước đây, hầu hết các quốc gia đang phát triển đều lựa
chọn mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập, duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định và từ
bỏ hội nhập tài chính thì theo thời gian, xu hướng lựa chọn đó đã hoàn toàn thay
đổi. Dựa theo nghiên cứu của Joshua Aizenman trong bài “The Impossible Trinity
(aka The Impossible trilemma -2010) đã nghiên cứu dựa trên dữ liệu của 50 quốc
gia (trong đó 32 quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển) trong giai đoạn 1970-
2008.
3. Tác động của bộ ba bất khả thi ở Việt Nam
 Sự gia tăng lạm phát:
Trong bối cảnh thị trường mở còn yếu kém thì số tiền mà NHNN thu về thông
qua việc bán chứng khoán là không đáng kể so với lượng cung tiền đã tung ra
,điều này dẫn đến sự gia tăng trong lạm phát. Cụ thể:
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Tỷ lệ lạm
phát
7.70% 12.63% 19.89% 8.9% 11.75%
 Căng thẳng về vấn đề lãi suất

luật đầu tư và luật doanh nhiệp mới ra đời đánh dấu bước tiến quan trọng trong lộ trình
hội nhập kinh tế với thế giới trên lĩnh vực lập pháp
- Nguồn vốn hỗ trợ và phát triển chính thức –ODA được xem như là một nguồn
vốn với chi phí tương đối thấp, nó được cung cấp với lãi suất ưu đãi, đôi khi còn
được cung cấp dưới hình thức viện trợ không hoàn lại
- Nguồn vốn ODA đã mang lại cho đất nước và người dân nhiều công trình kinh
tế và phúc lợi xã hội quan trọng,
- Nhìn từ vị trí của nước tiếp nhân viện trợ, nếu ODA được xem như là mộ nguồn
lực và được lồng ghép 1 cách hợp lý với các nguồn lực khác trong nước trong
quá trình phát triển để đạt mục tiêu quốc gia trong từng giai đoạn nhất định đó là
“ viện trợ đích thực”. viện trợ ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua là “ viện trợ
đích thực” và đây là một tiền đề cần thiết để sử dụng có hiệu quả nguồn lực này
 Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 17
- Nguồn vốn nước ngoài gián tiếp FPI có tác dụng kích thích thị trường tài chính
phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính
minh bạch tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận các
nguồn vốn mới nâng cao vai trò quản lý của nhà nước và vai trò quản trị của doanh
nghiệp, thúc đảy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế
- Tuy nhiên dòng vốn FDI cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động
vốn từ nước ngoài khác, do vậy thúc đẩy FDI ổn định, tương xứng với tiềm năng,
góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lự quản trị của
doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hậu WTO là vấn đề cần được quan
tâm thích đáng.
- Nguyên nhân của việc chưa đẩy mạnh việc thu hút nguồn vốn đầu tư chủ yếu từ sự
vận hành của TTCK:
+ Sự kết nối giữa nhà đầu tư và cơ hội đầu tư còn nhiều hạn chế, hiện nay số
lượng công ty chứng khoán có khả năng cung cấp bằng ngôn ngữ chính như Anh,
Pháp, Trung , Nhật … không nhiều . các rào cản về ngôn ngữ và thông tin đã hạn
chế dòng vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp vào TTCK Việt Nam

đột, không thể đạt cùng một lúc, đặc biệt khi hội nhập kinh tế toàn cầu và nới lỏng các
quy định về giao dịch vốn.
III. SỰ THAY ĐỔI CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI SAU MỖI CUỘC
KHỦNG HOẢNG
1. Sự sụp đổ của hệ thống Bretton woods 1973
• Nguyên nhân:
Dưới hệ thống Bretton Woods, các ngân hàng trung ương của các nước trừ Hoa
Kỳ phải có nhiệm vụ duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa các đồng tiền của họ với
đồng đôla. Họ làm điều này bằng việc can thiệp vào các thị trường ngoại hối. Nếu
đồng tiền của một nước quá cao so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của
nước đó cần phải bán tiền của mình để đổi lấy đôla, đẩy giá trị của đồng tiền đó
xuống. Ngược lại, nếu giá trị đồng tiền của một nước quá thấp thì nước đó cần phải
mua vào tiền của chính mình, do vậy sẽ đẩy giá của đồng tiền đó lên. Hệ thống
Bretton Woods đã kéo dài cho tới năm 1971. Tại thời điểm đó, lạm phát và thâm hụt
thương mại của Hoa Kỳ gia tăng đã làm suy giảm giá trị đồng đôla. Người Hoa
Kỳ cố thuyết phục Đức và Nhật Bản, là hai nước đều có cán cân thanh toán thuận
lợi, tăng giá trị các đồng tiền của họ. Nhưng các quốc gia này miễn cưỡng chấp
nhận bước đi này, vì việc tăng giá trị đồng tiền của họ sẽ làm tăng giá hàng hóa của
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 19
các nước đó và gây tổn hại đến xuất khẩu của họ. Cuối cùng, Hoa Kỳ đã bỏ giá trị
cố định của đồng đôla và cho phép nó được thả nổi - tức là cho dao động đối với các
đồng tiền khác. Đồng đôla ngay lập tức hạ giá. Các nhà lãnh đạo thế giới tìm cách
khôi phục lại hệ thống Bretton Woods bằng một hiệp định có tên gọi Hiệp định
Smithson năm 1971, nhưng cố gắng này đã thất bại. Năm 1973, Hoa Kỳ và các quốc
gia khác đã chấp thuận cho phép tỷ giá hối đoái thả nổi. Vào năm 1971, Hoa Kỳ rút
khỏi Chế độ tiền tệ Bretton Woods. Lý do là hệ thống Bretton Woods đã giới hạn
hoạt động chi tiêu của Hoa Kỳ và thế giới do lượng vàng sở hữu là có hạn trong khi
nhu cầu sử dụng tiền lại lớn hơn rất nhiều. Việc Hoa Kỳ in tiền phục vụ cho việc tài
trợ cho Chiến tranh Việt Nam hoặc viện trợ cho các nước khác đã khiến đôla mất
giá và tăng lạm phát. Để xóa bỏ sự bất hợp lý trên, vào tháng 8 năm 1971 Tổng

• Sự thay đổi của bộ ba bất khả thi:.
- Trước khủng hoảng: ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính
- Sau khủng hoảng Mexico: tỷ giá linh hoạt hơn, và thắt chặt kiểm soát vốn, hội nhập
tài chính mạnh mẽ hơn nữa
3. Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997
• Nguyên nhân:
- Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế
gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của
mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn).
Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên
1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung
ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền
tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được
áp dụng để chống lạm phát vô hình trung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh
tế.
- Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
• Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản
cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức.
Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh
mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các
nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước
châu Á cao hơn ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt
chảy vào các nước châu Á.
- Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc
tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á.
Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảng yếu
kém. Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu
Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để

Các nước công nghiệp hóa tiên phong trong tự do hóa tài khoản vốn , các nước đang
phát triển bắt đầu tăng tốc hội nhập tài chính và theo đuổi chế độ tỷ giá linh hoạt nhưng
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 22
vẫn tìm mọi cách theo đuổi chính sách tiền tệ độc lập, các quốc gia thị trường mới nổi
tiến hành hội nhập tài chính nhiều hơn với tỷ giá linh hoạt nên đã mất đi độc lập tiền tệ.
Xét trên phương diện bộ ba bất khả thi đánh dấu sự gia tăng trong lựa chọn cặp mục
tiêu ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính ở hầu hết các nước trên thế giới do việc toàn
cầu hóa đem lại một khoản lợi nhuận khổng lồ từ FDI. Chính những dòng lợi nhuận này
đã dẫn đến sự mất cân đối giữa đầu tư và tiết kiệm, qua đó làm cho mức lãi suất trong
một thời gian dài bị hạ thấp một cách đáng kể, dẫn đến hiện tượng bong bong giá nhà
đát xuất hiện đồng thời ở nhiều quốc gia và cuối cùng là sụp đổ của hệ thống tài chính.
Sau khủng hoảng:
Các quốc gia bắt đầu có thay đổi nhận thức của mình về hội nhập tài chính , tăng cường
các biện pháp kiểm soát vốn tránh việc thả tự do dẫn đến khủng hoảng năm 2008 , tuy
nhiên hội nhập tài chính vẫn là mục tiêu được chọn do xu thế phát triển hiện tại của thế
giới nhưng được các nước sử dụng thận trọng hơn, điển hình là Mỹ đã chọn 2 mục tiêu
tỷ giá thả nổi và hội nhập tài chính để thoái ra khỏi khủng hoảng, FED(Cục dự trữ liên
bang Mỹ) hầu như đã sử dụng tối đa công cụ chính sách tiền tệ để đạt mục tiêu kép là
góp phần tạo việc làm và ổn định giá cả để thoát ra khỏi khủng hoảng bằng các chương
trình bơm hàng nghìn tỷ USD vào nền kinh tế. Quyết định này tức là Mỹ đã hy sinh
mục tiêu thứ 3 là ổn định tỷ giá. Nhưng việc tăng lượng USD như vậy cũng đã dẫn đến
nhiều vấn đề như chiến tranh tiền tệ , bảo hộ mậu dịch của các nước .
“Trò chơi chiến tranh tiền tệ đã trở nên khốc liệt hơn khi xảy ra ở trung tâm của cuộc
khủng hoảng thị trường chứng khoán toàn cầu giai đoạn cuối năm 2008 và đầu năm
2009.
Phía Nga khi đó tuyên bố chỉ chấp nhận vàng chứ không chấp nhận đồng USD của Mỹ
trong các giao dịch dầu và khí đốt của họ. Phía Trung Quốc cũng đã sử dụng chính sách
thắt chặt tiền tệ nhằm loại bỏ đồng USD của Mỹ. Đối với đồng USD, Tổng thống Nga
Vladimir Putin tuyên bố: "Đồng tiền dự trữ này trở thành một hiểm họa đối với nền
kinh tế thế giới''. Cuộc chiến tranh tiền tệ theo nhận định của ông Putin thực sự đã bùng

luật đánh đổi giữa các biến trong bộ ba bất khả thi, đó là: chính sách tiền tệ độc lập, chế
độ tỷ giá cố định và tự do hóa dòng vốn. Như vậy, xu hướng lựa chọn trong bộ ba bất
khả thi của mỗi nhóm quốc gia như thế nào?
1. Chính sách lạm phát mục tiêu và mẫu hình bộ ba bất khả thi ở các nhóm nước
đang phát triển:
Bộ Ba Bất Khả Thi Trang 24
Lạm phát mục tiêu và việc lựa chọn các chính sách còn lại trong mẫu hình bộ ba
bất khả thi ở các nước đang phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, khi vấn đề lạm phát
đang là vấn đề nhức nhối của nhiều quốc gia trên thế giới đe dọa nghiêm trọng đến tình
hình kinh tế xã hội của một quốc gia thì các mục tiêu của chính sách vĩ mô được đưa ra
tranh cãi. Tuy nhiên để có một bước đi đúng đắn cho sự phát triển lâu bền các nước cần
có một nhận định đúng đắn về các mục tiêu tăng trưởng, phát triển và ổn định.
Thực tế chỉ ra rằng việc mau chóng đạt được một vài mục tiêu (tạo thêm việc
làm và tăng trưởng kinh tế) với sự trợ giúp của chính sách tiền tệ mở rộng sẽ không
tránh khỏi lạm phát gia tăng, dẫn đến xung đột nguyên tắc ổn định giá cả. Và từ đó, họ
nhận ra rằng việc đạt được ổn định giá cả mới là yếu tố tiên quyết thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế cũng như để đạt được mục tiêu cuối cùng là có một nền kinh tế phồn thịnh trong
tương lai thì mục tiêu duy nhất của chính sách tiền tệ phải là ổn định giá cả trong dài
hạn, và chiếc neo tốt nhất để neo giữ giá cả ổn định chính là bằng mọi cách đạt được
mức lạm phát mục tiêu hợp lý.
Ngay từ những năm 1990, đã có một số quốc gia phá lệ trong việc xây dựng các
mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ truyền thống (cung tiền hoặc tỷ giá) tập
trung tâm điểm vào chỉ số lạm phát. Cách tiếp cận này tập trung vào kiểm soát lạm
phát và được gọi là lạm phát mục tiêu. Đây là cơ chế điều hành chính sách tiền tệ
tương đối mới, và được áp dụng lần đầu tiên tại New Zeland (năm 1990), sau đó là
một số nước phát triển khác như Canađa (1991), Vương quốc Anh (1992), Phần lan
(1993), Thụy Điển (1993), Úc (1993), Tây Ban Nha (1994), Các nước đang phát
triển cũng nắm được xu hướng chung và đã có số một quốc gia đi tiên phong thực
hiện đó là Chile, Brazil và Isarael.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể theo đuổi được chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status