Nghiên cứu đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Học viện Hành chính - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động của giảng viên trong trường đại học cũng như bất kỳ một
công việc chuyên môn nào khác đều chịu áp lực của hai loại lợi ích: lợi ích
cá nhân và lợi ích của tập thể. Giảng viên đại học là những người có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao, được xã hội, nhà trường, sinh viên tôn vinh, kính
trọng và tạo mọi điều kiện để họ học tập, tu dưỡng và thăng tiến trong sự
nghiệp của mình [7]. Mặt khác, xã hội, nhà trường, sinh viên cũng đòi hỏi
giảng viên có tinh thần trách nhiệm cao, toàn tâm, toàn ý với công việc của
họ. Chính vì vậy, việc đánh giá GV là nhằm ủng hộ, thúc đẩy sự phát triển
của cá nhân giảng viên, đồng thời cũng giúp cho sự tiến bộ của nhà trường.
Xu hướng hội nhập giáo dục đại học ở nước ta và yêu cầu đào tạo theo nhu
cầu xã hội đòi hỏi phải tăng cường hoàn thiện công tác quản lý các trường
đại học, trong đó có nội dung đổi mới hoàn thiện việc đánh giá giảng viên
thông qua đánh giá hoạt động NCKH.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo tháng 12 năm
2008 quy định về chế độ làm việc của giảng viên các trường đại học và cao
đẳng đã xác định NCKH là một nhiệm vụ cơ bản của giảng viên Đại học [2].
Trên thực tế, hoạt động NCKH đã được giảng viên quan tâm và thực
hiện vì mục tiêu nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao
chất lượng giảng dạy của bản thân. Tuy nhiên, quan niệm về hoạt động
NCKH của giảng viên nhiều trường Đại học còn nhiều bất cập. Các cơ sở
giáo dục đại học thường trú trọng nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên; giảng
viên các trường dành phần lớn thời gian cho công tác giảng dạy nên ít có
điều kiện để thực hiện nhiệm vụ NCKH một cách có hiệu quả. Hơn nữa, việc
đánh giá giảng viên hàng năm chưa thoả đáng đến tiêu chí về hoạt động
NCKH, hoặc quy trình; phương pháp đánh giá hoạt động này của giảng viên
1
chưa khoa học nờn khụng tạo được động lực để GV thực hiện nhiệm vụ khoa
học của mình.
Những kết quả NC ban đầu do Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện cho

giảng viên, tạo thêm cơ sở khoa học cho công tác đánh giá giảng viên của
Học viện và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý GV của Học viện.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiờn cứu
Công tác đánh giá giảng viên nói chung, đánh giá hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên nói riêng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí và quy trình đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên Học
viện Hành chính.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể xác định được các tiêu chí và quy trình đánh giá hoạt động
NCKH của GV Học viện Hành chính nếu phân tích được hoạt động NCKH
của giảng viên với tư cách là nhiệm vụ của người giảng viên và xác định cụ
thể các nguồn cung cấp minh chứng cũng như các minh chứng cần thiết.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về đánh giá hoạt động của giảng viên;
đánh giá hoạt động nghiên cứu của giảng viên đại học.
5.2. Đề xuất tiêu chí và quy trình để thực hiện đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên Học viện Hành chính.
5.3. Khảo nghiệm độ tin cậy của các tiêu chí và quy trình đã đề xuất.
6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Về nội dung nghiên cứu
Hoạt động NCKH của giảng viên được xác định tương ứng với
nhiệm vụ NCKH và là một trong những nhiệm vụ mà giảng viên phải thực
3
hiện theo chức trách, nhiệm vụ đã được nhà nước quy định. Theo đó, đánh
giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên được thực hiện theo nội
dung đánh giá giảng viên với tư cách là một nội dung của quản lý nhân sự
trong quản lý giáo dục đại học.
6.2. Về địa bàn nghiên cứu

Mục đích chính khi sử dụng phương pháp này là nhằm tìm hiểu, thu
thập các thông tin trực tiếp về thực trạng NCKH và quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học của Học viện (bao hàm cả nội dung đánh giá hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên). Phương pháp này cũng được sử dụng để thu
thập thông tin trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm quy trình và kỹ thuật
đánh giá hoạt động NCKH của GV Học viện Hành chính do tác giả đề xuất.
7.3.2. Phương pháp chuyên gia
Bằng việc chuẩn bị sẵn một hệ thống các câu hỏi nhằm thu thập
thông tin về vấn đề nghiên cứu từ những chuyên gia và các giảng viên với tư
cách là các nhà nghiên cứu và là những chuyên gia trong thực tiễn quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện và các trường đại học.
7.3.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng hoạt
động nghiên cứu khoa học, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học
viện như đó nờu trong mục 7.2. Phương pháp này cũng được sử dụng để tìm
hiểu những đánh giá của giảng viên về tác dụng của quy trình và kỹ thuật
đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Học viện.
7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm quy trình và kỹ thuật đánh giá hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên Học viện Hành chính
5
7.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công thức thống kê để xử lý các kết quả nghiên cứu thu
được từ các phương pháp nghiên cứu khác.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn có cấu trúc gồm phần mở đầu; 3 chương và phần kết luận
khuyến nghị.
Chương 1: Cơ sở lí luận về đánh giá hoạt động NCKH của giảng
viên đại học.
Chương 2: Thực trạng đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của

việc đầu tư nhân lực và vật lực cho giáo dục đại học được quan tâm thường
7
xuyên. Mối quan tâm đến chất lượng là kết quả trực tiếp của sự gia tăng mối
quan tâm được các Chính phủ biểu lộ với tính cạnh tranh quốc tế trong các
nền kinh tế dựa trên sức mạnh của các lĩnh vực KH&CN. Do đó, với quan
điểm luôn luôn thích ứng trong đào tạo và nghiên cứu, các trường đại học
thấy được sự cần thiết hình thành các phương pháp có hệ thống và phản hồi
thường xuyên về hiệu suất của giảng viên trường đại học, nguồn lực quan
trọng nhất của họ. Các trường đại học trên thế giới, đặc biệt là những trường
theo hệ thống tự chủ, có một truyền thống lâu năm và thực hành đánh giá
giảng viên thông qua cả cơ chế chính thức và không chính thức. Trước kia sự
phát triển nghề nghiệp của giảng viên được xem là trách nhiệm cá nhân, thì
hiện nay phát triển nghề nghiệp đang trở thành trách nhiệm có tính qui hoạch
của trường đại học [7].
Đối với một cơ sở giáo dục đại học, giảng dạy và NCKH là hai
nhiệm vụ chức năng cơ bản có quan hệ gắn bó biện chứng và hữu cơ với
nhau, có vai trò tác động qua lại lẫn nhau và định chế lẫn nhau thúc đẩy hoặc
kìm hãm sự phát triển của nhau. Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
mỗi GV phải không ngừng nâng cao chất lượng bài giảng mà yếu tố giữ vai
trò quan trọng trong nhà trường là phải đẩy mạnh hoạt động NCKH, ứng
dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào trong thực tiễn giảng dạy và đào
tạo. Đội ngũ giảng viên của các cơ sở giáo dục đại học được coi là lực lượng
đi đầu, và quyết định trong việc thực hiện các nhiệm vụ NCKH của các cơ sở
giáo dục đại học. Làm thế nào để tạo được động lực, nâng cao năng lực
NCKH của đội ngũ GV là vấn đề quan tâm của mọi cấp, mọi ngành nói
chung và của từng cơ sở GDĐH nói riêng. Một trong những cách làm có
hiệu quả và được nhiều cơ sở GDĐH áp dụng đó là đánh giá hoạt động
NCKH của giảng viên đại học.
Mặc dù vấn đề đánh giá giảng viên nói chung, đánh giá hoạt động
NC của giảng viên nói riêng có vài trò rất quan trọng trong quá trình quản lý

đánh giá giá trị cao thấp nhất định”[22]. Trong cuốn “Kiểm tra đánh giá
trong dạy học đại học, thì “Đỏnh giỏ là một quá trình có hệ thống bao gồm
việc thu thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác định mức độ người
học đạt được các mục tiêu dạy học (trả lời câu hỏi: tốt như thế nào?).
Theo Mark K. Smith “Đỏnh giỏ là sự khám phá có hệ thống và sự
phán xét về quá trình làm việc, kinh nghiệm và kết quả”. Theo ụng thỡ đánh
giá gắn liền với việc thu thập, sắp xếp và đưa ra phán xét về thông tin theo
một cách có phương pháp. Đánh giá thì khác với giám sát, giám sát thì gắn với
“nhỡn, xem” theo dấu vết và có thể liên quan đến các chỉ số thực hiện. Đánh
giá liên quan đến việc phán xét một cách cẩn thận giá trị, ý nghĩa của hiện
tượng. Đánh giá rất phức tạp, không có một cách đơn giản mà lại có thể đưa ra
những phán xét tốt được. Đánh giá thường liên quan đến phát triển tiêu chí
hoặc các chuẩn liên quan đến cả ý nghĩa và danh dự của công việc, con
người Theo Scriven Michael “Bản chất của đánh giá là đòi hỏi phương pháp
có tính hệ thống để xác định về phẩm chất, giá trị của sự vật, hiện tượng ”.
Để có thể nhận định, đưa ra phán xét về giá trị của sự vật/con người,
người ta cần phải dựa vào những căn cứ nào đó (những căn cứ này do chủ
thể đánh giá lựa chọn theo quan điểm riêng của mình). Những căn cứ này
thường được tổ chức, sắp xếp theo một cách tiếp cận nào đó và được gọi là
công cụ để đánh giá, nó có thể có ý nghĩa định tính hoặc định lượng. Khi đã
có căn cứ để dựa vào đó mà đánh giá thì người ta cần thu thập thông tin, dữ
liệu, bằng chứng về đối tượng cần đánh giá rồi so sánh đối chiếu với căn cứ
đã đề ra xem đối tượng đú cú đạt yêu cầu người ta đã đề ra hay không (kết
quả của đánh giá).
Chúng tôi thống nhất với quan niệm của Trịnh Hồng Hà trong việc
xác định khái niệm đánh giá như sau: Đánh giá là hành động đưa ra nhận
định (phán xét) về giá trị của sự vật/con người trên cơ sở sử dụng những dữ
liệu, bằng chứng thu thập và xử lí được, cũng như dựa trên những lí lẽ và
10
lập luận của chủ thể đánh giá. Kết quả của đánh giá là giá trị được xếp

nhiệm vụ chính sau [18]; [2]; [1] :
(i) Giảng dạy đại học, bồi dưỡng sau đại học, hướng dẫn NCS,
hướng dẫn thực tập tốt nghiệp, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy.
(ii) Nghiên cứu khoa học.
(iii) Học tập, bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ chuyên môn.
(iv) Tham gia công tác quản lý của trường.
(v) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người công dân với xã hội lao
động nghĩa vụ, luyện tập quân sự.
Trong các nhiệm vụ trờn thỡ nhiệm vụ giảng dạy liên quan trực tiếp
đến mọi giảng viên. Tuy nhiên, theo từng loại giảng viên thỡ cỏc nhiệm vụ
trên sẽ được thực hiện với các mức độ khác nhau. Ví dụ, hoạt động tự học
tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ GV trẻ thường được thực hiện
nhiều hơn, còn hoạt động nghiên cứu khoa học lại gắn nhiều đến giảng viên
có trình độ chuyên môn sâu.
1.2.3.3. Phân loại giảng viên
(i) Theo ngạch viên chức và chức danh
Theo cách phân loại này giảng viên được chia ra làm 3 – 4 ngạch sau:
- Giảng viên: là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và
đào tạo ở bậc ĐH, CĐ thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học,
cao đẳng. Giảng viên có nhiệm vụ giảng dạy các môn học được phân công;
tham gia hướng dẫn, đánh giá, chấm luận văn, đồ án tốt nghiệp đại học; tham
gia các đề tài NCKH; thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn, nghiệp
vụ, và quy chế của các trường đại học và tham gia quản lý nếu có yêu cầu.
Yêu cầu về trình độ đối với giảng viên là: 1/ Đó cú bằng cử nhân trở
lên. Hiện nay, nhiều trường yêu cầu phải có bằng thạc sỹ; 2/ Đã qua thời kỳ
12
tập sự theo quy định hiện hành; 3/ Phải có ít nhất hai chứng chỉ bồi dưỡng
sau đại học (chương trình chính trị, triết học nâng cao cho NCS và cao học,
những vấn đề cơ bản của tâm lý học và lý luận dạy học ); 4/ Sử dụng được
một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ B (là ngoại ngữ thứ hai đối với

ngạch tối thiểu là 6 năm; 3/ Tốt nghiệp lý luận Chính trị cao cấp; 4/ Sử dụng
được hai ngoại ngữ để phục vụ giảng dạy, NCKH và giao tiếp quốc tế (ngoại
ngữ thứ nhất tương đương với trình độ C, ngoại ngữ thứ hai tương đương với
trình độ B); 5/ Có tối thiểu 3 công trình khoa học sáng tạo được HĐKH
trường đại học hoặc chuyên ngành công nhận và đưa vào áp dụng có hiệu quả.
Việc phân loại theo ngạch trên chỉ phù hợp với ngạch công chức,
viên chức nói chung. Đối với các trường Đại học và Cao đẳng, phù hợp với
đặc thù của mình, giảng viên được phân loại chủ yếu là giảng viên, giảng
viên chính, phó giáo sư và giáo sư. Trong đó, phó giáo sư và giáo sư là chức
danh cao hơn giảng viên và giảng viên chính, và được Nhà nước xét phong.
Mặc dù không có ngạch lương riêng cho phó giáo sư và giáo sư, nhưng giáo
sư trong thực tế được công nhận là giảng viên cao cấp, còn phó giáo sư hiện
nay chỉ được hưởng như giảng viên chính. Đây là một bất cập trong lương
chưa được điều chỉnh.
(ii) Phân loại giảng viên theo học vị
- Cử nhân: Chỉ những người tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học.
- Thạc sỹ: Chỉ những người tốt nghiệp cao học.
- Tiến sỹ: Chỉ những người hoàn thành quá trình NC sau thạc sỹ.
Đây là cách phân chia dựa trên trình độ chuyên môn của giảng viên.
Thời gian học tập để đạt các học vị trên cũng khác nhau. Để đạt học vị Cử nhân
cần 3 – 5 năm, đạt học vị Thạc sỹ cần 2 – 3 năm, còn để đạt học vị Tiến sỹ cần
2 – 3 năm tiếp theo. Ngoài ra, hiện nay ở các trường đại học cũn cú giảng viên
có học vị Tiến sỹ khoa học, đây là học vị của những giảng viên đạt học vị Tiến
14
sỹ tại các nước Đông Âu, bao gồm Liờn Xụ (cũ), Hungari, Bungari, Cộng hoà
Dân chủ Đức (Đông Đức). Nhiều trường đại học, để nâng cao chất lượng giảng
dạy, quy định tiêu chuẩn giảng viên phải ít nhất có bằng thạc sỹ.
(iii) Phân loại giảng viên theo hình thức tuyển dụng, chia ra:
- Giảng viên trong biên chế của nhà trường. Giảng viên trong biên
chế lại được chia ra làm hai loại: 1/ Giảng viên cơ hữu là CBGD thuộc biên

hội nói chung và của nhân loại. Do đó, việc đào tạo và sử dụng đội ngũ khoa
học sáng tạo hiện nay là quốc sách hàng đầu đối với mọi quốc gia. Phẩm
chất của người làm khoa học là sự hội tụ của các yếu tố: sự hiểu biết sâu
rộng, có sáng tạo, có sự phê phán khoa học, luôn tham gia vào quá trình phổ
biến khoa học và hoạt động khoa học, có lương tri và đức độ,
Đặc trưng hoạt động của lĩnh vực nghề nghiệp này là:
Chủ thể hoạt động là các nhà khoa học hoạt động độc lập, đặc trưng
của hoạt động này là khám phá, tìm tòi. Kết quả NC có thể là thành công
hoặc thất bại. Do đó, đòi hỏi chủ thể nghiên cứu phải có ý chí phẩm chất cao
về sự say mê, kiên trì, sáng tạo, dám phiêu lưu mạo hiểm nhận thức của chủ
thể về thế giới hiện thực rất khách quan, trung thực.
Đối tượng hoạt động của lĩnh vực này rất phong phú, đa dạng và
phức tạp, đòi hỏi nhà khoa học phải huy động toàn bộ trí tuệ và sức lực
(thậm chí cả cuộc đời, hoặc nhiều thế hệ) để giải quyết các vấn đề khoa học.
Công cụ lao động phục vụ cho hoạt động khoa học là hệ thống tri
thức khoa học, kĩ năng nhận thức và kĩ năng chuyên biệt, gồm các phương
tiện kĩ thuật phục vụ quá trình nghiên cứu, cỏc kờnh thông tin
Sản phẩm của hoạt động khoa học cũng đa dạng và hết sức phong
phú, nó có thể phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống xã hội. Nét đặc
trưng của sản phẩm này là có đóng góp mới cho nhân loại dù ở các mức độ
khác nhau. Đó là hệ thống tri thức mới, phương pháp mới, cách làm mới có
16
tác dụng định hướng cho các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, góp phần đổi
mới hoặc cải tạo thực tiễn.
1.2.5. Đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
1.2.5.1.Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Hoạt động NCKH học của giảng viên được sử dụng trong nghiên
cứu đề tài này với ý nghĩa chỉ các hoạt động mà giảng viên phải thực hiện để
hoàn thành nhiệm vụ NCKH của giảng viên đã được quy định. Hoạt động
NC trong chức trách của giảng viên bao gồm tất cả các hoạt động phát hiện

hiện. Điều này khiến cho GV thực sự là tấm gương về nhân cách và NCKH
đối với sinh viên.
1.2.5.2. Đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên là quá trình thu thập và
xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về các hoạt động trong việc thực hiện
những chức năng và nhiệm vụ NCKH của mình theo quy định của pháp luật.
Đõy là một quá trình thu thập, xử lý thông tin và đưa ra những quyết
định nhằm thay đổi thực trạng hoạt động NCKH của giảng viên. Về bản
chất, đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên là một trong những nội dung
của đánh giá giảng viên. Đõy là hoạt động mang tính nhân văn cao nên đánh
giá giảng viên nói chung, đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên nói
riêng mang tính chất hỗ trợ cho quá trình giảng viên thực hiện các hoạt động
của mình một cách tốt nhất, trong và bằng cách đó đạt đến mục tiêu chung
của trường đại học.
Đỏnh giá hoạt động NC của giảng viên cần [20]: 1/Nhấn mạnh tới
việc giúp GV giải quyết vấn đề còn tồn tại để nâng cao chất lượng hoạt động
NCKH của giảng viên; 2/ Nhấn mạnh tới qui trình làm việc hơn là tới cá
nhân giảng viên; 3/ Hỗ trợ giảng viên lập kế hoạch tương lai nhằm cải thiện
chất lượng hoạt động NCKH hiện tại; 4/ Liờn tục phát triển dựa trên các kết
18
quả đạt được trong giai đoạn trước để xác định các mục tiêu nhằm làm cho
hoạt động NCKH của giảng viên ngày càng tốt hơn.
Đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên là một quá trình thực hiện
các công việc: hình thành kết quả mong đợi (chuẩn đánh giá); lựa chọn và
sắp xếp các minh chứng và sử dụng minh chứng. Như vậy, nội dung đánh giá
hoạt động NCKH của giảng viên cần căn cứ vào nhiệm vụ NCKH của họ để
thực hiện các công việc dưới đây [20]:
(i) Xõy dựng chuẩn (bao gồm hệ thống các tiêu chí) đánh giá.
Đõy là công việc phức tạp bao gồm việc xác định các loại hình công
việc thuộc phạm trù hoạt động NCKH của giảng viên và xây dựng kết quả

Các minh chứng sẽ được sắp xếp theo các tiêu chí nhất định. Các tiêu
chí này bao gồm: tính tin cậy, tính hợp lệ, tính công bằng và hiệu quả xã hội.
(iii) Sử dụng minh chứng
Người sử dụng các minh chứng đánh giá trước hết là bản thân giảng
viên, những minh chứng này giúp họ tự điều chỉnh hoạt động NCKH của bản
thân. Tiếp đó là cán bộ quản lý trong trường đại học. Cán bộ quản lý sử dụng
các minh chứng để đưa ra những kết luận mà cả hai bên (CBQL và GV)
cùng chấp nhận được. Kết luận mà cả hai bên cùng chấp nhận được là kết
luận vừa có giá trị giúp cho mỗi giảng viên có được những tiến bộ mới trong
NCKH của mình, đồng thời phục vụ cho việc nâng cao chất lượng hoạt động
NC nói riêng, hoạt động đào tạo nói chung của trường đại học.
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC
1.3.1. Vấn đề định mức lao động và định mức NCKH của giảng viên
1.3.1.1. Định mức lao động của giảng viên
Định mức (norm) theo nghĩa kinh tế là lượng tính toán về hao phí
thời gian lao động, vật chất, tiền tệ cho mỗi đơn vị sản phẩm. Định mức lao
20
động là cơ sở của tổ chức lao động khoa học. Định mức lao động là quá trình
xây dựng mức lao động. Mức lao động là sản phẩm của định mức lao động,
bao gồm nhiều loại mức khác nhau, như mức sản lượng, mức thời gian và
mức phục vụ.
Định mức lao động của GV có liên quan đến các khái niệm sau:
- Mức thời gian: là lượng thời gian lao động cần thiết ( phút, giờ,
ngày ) được quy định cho một người lao động hay một nhóm người lao động
thuộc một ngành nghề nào đó có trình độ thành thạo tương ứng với mức độ
phức tạp của công việc để hoàn thành một sản phẩm hay một công việc nào
đó trong những điều kiện nhất định. Do đặc thù nghề nghiệp của giảng viên
chỉ có mức thời gian là phù hợp với đối tượng nghiên cứu – giảng viên. Hơn
nữa, mức thời gian không phải quy định cho một sản phẩm như trong sản

1.3.1.2. Định mức hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Nhiệm vụ NCKH của giảng viên bao gồm nhiều hoạt động như: tự
xây dựng kế hoạch NCKH và tổ chức thực hiện; chủ nhiệm đề tài NCKH các
cấp; tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học với tư cách là các thành viên;
viết bài báo hoặc các bài tham gia hội thảo, các cuộc trao đổi chuyên môn
nghiệp vụ khoa, bộ môn; hướng dẫn luận văn cao học và luận án NCS; viết
và biên soạn giáo trình; viết và biên soạn các chuyên đề, các chuyên khảo;
hướng dẫn sinh viên NCS v.v.
Để thực hiện nhiệm vụ NCKH, các hoạt động cơ bản mà giảng viên
cần thực hiện như đã trình bày tại mục 1.2.5.2. và được xác định cụ thể cho
từng chức danh giảng viên như sau:
- Giảng viên: viết báo, hội thảo, NC đề tài cấp bộ và tương đương
- GVC: bổ sung thêm: NC đề tài cấp nhà nước và tương đương
- PGS: bổ sung thêm; biên soạn giáo trình; hướng dẫn cao học và NCS
22
- GS: tham gia tất cả các nhiệm vụ kể trên.
Kết quả nghiên cứu về định mức hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên được thể hiện qua tính toán thời gian hao phí cho NCKH của
giảng viên như sau [24]:
Bảng 1.1: Số thời gian hao phí cho NCKH phân theo ngạch giáo viên
Đơn vị tính: tiết giảng
GV GVC PGS GS
LĐ TC LĐ TC LĐ TC LĐ TC
Bài báo, hội thảo 20-30 15-20
ĐT cấp bộ
và tương đương
30-40 15-20
ĐT cấp NN
và tương đương
25-30 25-30 40-60

Thứ hai, nơi làm việc của họ không cố định. Ngoài nhiệm vụ chủ
yếu là giảng dạy ở trường họ còn có thể và có quyền tham gia các hoạt động
khác ở ngoài trường (giảng dạy, NC đề tài khoa học phục vụ thực tiễn với
các trường học, cơ quan, địa phương ). Hơn nữa, phần lớn thời gian chuẩn bị
bài giảng, NCKH, họ đều làm việc tại nhà là chủ yếu. Vì vậy, việc điều tra
khảo sát thời gian làm việc của họ một cách trực tiếp rất khó khăn.
Thứ ba, đối tượng lao động của giảng viên là các sinh viên - những
người đã được trang bị các kiến thức cơ bản có khả năng nhận thức và đánh
giá. Như vậy, đối tượng lao động của GV cũng khác so với đối tượng lao
động của các công nhân sản xuất (những vật thể, máy móc thiết bị vô tri vô
giác ). Quan hệ giảng dạy là quan hệ hai chiều: GV  SV và ngược lại SV
 GV. Vì thế, việc đánh giá chất lượng hoạt động lao động của giảng viên là
rất khú, nú không chỉ phụ thuộc vào khả năng của người GV mà còn phụ
thuộc vào khả năng hiểu và vận dụng khác nhau. Mặt khác, sinh viên ngày
càng tiếp xúc nhiều hơn với các thông tin mới nâng tầm hiểu biết lên cao
hơn, linh hoạt hơn, thông minh hơn đòi hỏi đội ngũ GV cũng cần phải
nhạy bén hơn. Chớnh vì vậy, họ còn phải dành nhiều thời gian hơn cho NC,
tìm tòi, khảo nghiệm để tỡm cỏc phương pháp giảng dạy mới, không giống
24
như công nhân sản xuất sau mỗi ngày làm việc thì nghỉ ngơi lấy lại sức khoẻ
để rồi hôm sau lại lặp lại những công việc như thế.
Thứ tư, giảng viên là những người lao động trí óc, hàm lượng chất
xám bỏ ra trong quá trình lao động cao. Để thực hiện hoạt động lao động
cho ngày hôm sau như đã trình bày ở trên, người giảng viờn cũn phải chuẩn
bị bài, nghiên cứu, tìm tòi đảm bảo chất lượng tiết học. Chớnh vì vậy, họ là
những người có bằng cấp, có trình độ cao, được lựa chọn cẩn thận, được học
tập nâng cao trình độ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng đào tạo.
Thứ năm, tính chất công việc phức tạp, hoạt động của GV gồm
nhiều nhiệm vụ khác nhau. việc lượng hoỏ cỏc nhiệm vụ của GV thường rất
khó, cần phải có sự cân đối về thời gian thực hiện các nhiệm vụ và sự thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status