TÌM HIỂU MÔ HÌNH ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY ỨNG DỤNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CẤP TỈNH - Pdf 26

MỤC LỤC
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của
các thầy cô trường Đại học Công Nghệ Thông Tin Và Truyền Thông Thái
Nguyên, của gia đình, bạn bè và các anh chị cán bộ Sở Thông Tin và Truyền
Thông Thái Nguyên.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trường Đại Học Công Nghệ Thông
Tin Và Truyền Thông Thái Nguyên đặc biệt là các thầy cô trong khoa Công
Nghệ Thông Tin, bộ môn Công Nghệ Phần Mềm.
Xin gửi lời cảm ơn tới Sở Thông Tin và Truyền Thông Thái Nguyên đã
tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa thực tập.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.s Nguyễn Hồng
Tân cùng Th.s Lê Hữu Nhân đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để em hoàn thành
đợt thực tập.
Dù đã cố gắng hoàn thiện một cách tốt nhất có thể. Nhưng với phạm vi
khả năng nhất định của bản thân và thời gian có hạn, chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót. Chính vì vậy, những sự góp ý, tận tình chỉ bảo của thầy, cô
và các bạn, sẽ là điều vô cùng quý báu cho việc đúc rút kinh nghiệm và hoàn
thiện hơn.
Kính chúc các thầy cô, quý cơ quan, gia đình và bạn bè mạnh khỏe, hạnh
phúc và thành công.

SINH VIÊN

Vũ Văn Huyên
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Điện toán đám mây (ĐTĐM) là một mô hình điện toán mới ra đời và đang dần
trở thành mô hình tương lai trong việc cung cấp dịch vụ tính toán cho người dùng.

nâng cao vì những máy chủ sẽ không bị nhàn rỗi, và do đó sẽ giảm chi phí đáng
kể trong khi tốc độ phát triển của ứng dụng được gia tăng. Dựa trên tiêu chí đó,
đề tài nghiên cứu sẽ đi sâu vào tìm hiểu các công nghệ về hạ tầng như một dịch
vụ của ĐTĐM, đưa ra những chiến lược phù hợp để áp dụng mô hình Chính Phủ
Điện Tử(CPĐT) vào đám mây.
Trong giới hạn của đề tài về thời gian cũng như cấp độ tìm hiểu, những
vấn đề khách quan và chủ quan cần giải quyết. Vì vậy bản báo cáo này chỉ tập
trung vào tìm hiểu nghiên cứu, đưa ra giải pháp thực hiện có hiệu quả cho mô
hình CPĐT trên nền tảng đám mây.
Đó là lý do mà em chọn nghiên cứu và thực hiện đề tài:” Tìm hiểu điện
toán đám mây và xây dựng mô hình chính phủ điện tử trên nền tảng đám mây”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tìm hiểu về các lý thuyết, giải pháp về điện toán đám mây, tìm hiểu
về chính phủ điện tử, xây dựng mô hình chính phủ điện tử trên nền tảng đám mây.
Tìm hiểu lợi ích và hạn chế liên quan tới chi phí, duy trì, vận hành và bảo
đảm an toàn, bảo mật dữ liệu, cũng như các phương án chuyển đổi dữ liệu sẵn có
của chính phủ điện tử sangg mô hình ĐTĐM.
3. Phạm vi nghiên cứu
Giải pháp điện toán đám mây ứng dụng trong triển khai Chính phủ điện tử
với quy mô cấp tỉnh, thành phố của Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phân tích các tài liệu và thông tin liên quan đến đề tài nhằm nắm được
phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước.
Nghiên cứu qua nguồn tư liệu đã xuất bản, các bài báo đăng trên các tạp
chí khoa học, sưu tầm các tài liệu trên internet.
4
5.Ý nghĩa khoa học thực tiễn
Phần nghiên cứu lý thuyết sẽ hệ thống hóa những khái niệm cơ bản về
ĐTĐM, CPĐT, kiến trúc, đặc tính, thành phần của ĐTĐM, CPĐT .
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc triển lhai các ứng dụng về

CPĐT Chính phủ điện tử
6
CHƯƠNG 1. ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY VÀ ỨNG DỤNG
1.1. Khái niệm.
Điện toán đám mây (Thuật ngữ tiếng Anh: Cloud Computing, hay còn
biết đến với tên gọi “Điện toán máy chủ ảo”) là mô hình máy tính dựa trên nền
tảng phát triển của Internet.
 !"#$%&'()*
+#$),&-./(
Điện toán đám mây là sự nâng cấp từ mô hình máy chủ mainframe sang
mô hình cleint-server. Cụ thể, người dùng sẽ không còn phải có các kiến thức về
chuyên mục để điều khiển các công nghệ, máy móc và cơ sở hạ tầng, mà các
chuyên gia trong “đám mây” của các hãng cung cấp sẽ giúp thực hiện điều đó.
Thuật ngữ "đám mây" ở đây là lối nói ẩn dụ chỉ mạng Internet (dựa vào
cách được bố trí của nó trong sơ đồ mạng máy tính) và như một liên tưởng về độ
phức tạp của các cơ sở hạ tầng chứa trong nó. Ở mô hình điện toán này, mọi khả
năng liên quan đến công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng các "dịch
vụ", cho phép người sử dụng truy cập các dịch vụ công nghệ từ một nhà cung cấp
nào đó "trong đám mây" mà không cần phải có các kiến thức, kinh nghiệm về
công nghệ đó, cũng như không cần quan tâm đến các cơ sở hạ tầng phục vụ công
nghệ đó.
Ví dụ nếu một website được chứa trên một máy chủ, người dùng phải lựa
chọn hệ điều hành để cài đặt (Linux/Windows/Mac), tiến hành các thiết lập để
máy chủ và website có thể hoạt động. Tuy nhiên, nếu trang web được chứa trên
7
“đám mây”, người dùng sẽ không cần phải thực hiện thêm bất cứ điều gì khác.
Điều này cũng đảm bảo yếu tố đầu tư về phần cũng được giảm tải ở mức tối đa.
Tài nguyên, dữ liệu, phần mềm và các thông tin liên quan đều được chứa
trên các server (chính là các “đám mây”).
Nói một cách đơn giản nhất “ứng dụng điện toán đám mây” chính là

khách hàng có thể dựa trên nhu cầu khác nhau của khách hàng và có thể được
thực hiện mà không phiền phức nào, các nguyên cần thiết là rất ít.
Một trong những thành tựu quan trọng của điện toán đám mây có thể khái
quát là xử lý dữ liệu lớn gấp 1000 lần không nhất thiết phải thực hiện với sự
phức tạp hơn 1000 lần thông thường. Khi số lượng dữ liệu tăng, các đám mây
dịch vụ điện toán có thể được sử dụng để quản lý việc tải một cách hiệu quả và
làm cho công việc xử lý dễ dàng hơn. Trong thời đại của máy chủ doanh nghiệp
và máy tính cá nhân, phần cứng là tiêu chuẩn chính cho khả năng xử lý,
chúng phụ thuộc vào cấu hình phần cứng của máy chủ. Nhưng với sự ra đời của
đám mây máy tính, các hàng hóa đã thay đổi với chu kỳ và byte - tức là
trong dịch vụ điện toán đám mây, người dùng được tính dựa trên số lượng các
chu trình được thực hiện hay là số lượng byte được dịch chuyển.
Các phần cứng hoặc các máy mà các ứng dụng được chạy thì được ẩn
khỏi người sử dụng. Số lượng phần cứng cần thiết cho tính toán được thực hiện
bởi trình quản lý và nói một cách khái quát là khách hàng được tính chi phí dựa
trên cách ứng dụng sử dụng các nguồn tài nguyên.
Những Đặc Điểm Của Điện Toán Đám Mây:
01234536
Bất kỳ ứng dụng hoặc dịch vụ nào đang chạy trong một môi trường điện
toán đám mây có một tính chất tự sửa chữa. Trong trường hợp ứng dụng thất bại,
luôn luôn có một dự phòng tức thời của ứng dụng sẵn sàng để cho công việc
không bị gián đoạn. Có nhiều bản sao của cùng một ứng dụng - mỗi bản cập nhật
chính nó thường xuyên vì vậy ở những lần thất bại, có ít nhất một bản sao của
ứng dụng có thể lấy lên hoạt động mà thậm chí không cần thay đổi nhỏ nào trong
trạng thái chạy của nó.
07#892 "6
9
Với điện toán đám mây, bất kỳ ứng dụng nào cũng hỗ trợ đa người dùng -
đó là khái niệm dùng để chỉ nhiều người sử dụng đám mây trong cùng thời gian.
Hệ thống cho phép một số khách hàng chia sẻ cơ sở hạ tầng được phân bổ cho họ

Một tính năng khác của các dịch vụ điện toán đám mây là chúng linh hoạt.
Chúng có thể được dùng để phục vụ rất nhiều loại công việc có khối lượng khác
nhau từ tải nhỏ của một ứng dụng nhỏ cho đến tải rất nặng của một ứng dụng
thương mại.
1.3. Ưu và nhược của mô hình "Điện toán đám mây"
1.3.1. Ưu điểm
Những ưu điểm và thế mạnh dưới đây đã góp phần giúp "điện toán đám
mây" trở thành mô hình điện toán được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới:
1. Tính mềm dẻo, đáp ứng nhanh
Điện toán đám mây được thiết kế để cung cấp các dịch vụ với khả năng
mở rộng không giới hạn, đây được coi là một trong các đặc điểm cơ bản của nó.
Khách hàng có thể truy cập một kho tài nguyên rộng lớn được ảo hóa, cho phép
đáp ứng các nhu cầu tài nguyên không định trước một cách hiệu quả và kinh tế.
Khách hàng chỉ phải trả phí cho những tài nguyên thực dùng, được kiểm soát tự
động theo thời gian thực. Bởi vậy, hiệu năng và tính bền vững kinh tế của hệ
thống được cân đối hài hòa.
2. Hỗ trợ kỹ thuật và duy trì
Những nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây quản lý, duy trì các ứng
dụng, máy chủ, họ cũng thực hiện công tác nâng cấp phần mềm, triển khai các hỗ
trợ kỹ thuật chuyên nghiệp. Việc duy trì, cài đặt, nâng cấp phần mềm sẽ được
thực hiện trên đám mây mà không cần thực hiện trên máy tính của khách hàng.
Đây thực sự là một lợi điểm nổi bật của ĐTĐM, đặc biệt đối với các cơ quan
chính phủ ở các nước đang phát triển, hoặc ở khu vực nông thôn khi mà khó có
thể thu hút đủ nhân lực công nghệ thông tin để duy trì, cập nhật hoạt động của
các hệ thống thông tin.
3. Hiệu quả chi phí
Các mô hình dịch vụ điện toán đám mây hiện nay đều tập trung cung cấp
các dịch vụ hiệu quả về chi phí. Chúng tạo ra một cơ hội để dịch chuyển từ chi
11
phí đầu tư sang chi phí vận hành, tránh được việc phải đầu tư lớn để mua các hệ

- Tính sẵn sàng (Availability): Tính sẵn sàng dịch vụ trong ĐTĐM đóng
vai trò rất quan trọng đối với khách hàng. Một nghiên cứu của Trường đại học
California về tính sẵn sàng và sự gián đoạn cung cấp dịch vụ của 4 nhà cung cấp
dịch vụ điện toán đám mây lớn chỉ ra rằng các quá tải hệ thống đã gây ra các lỗi
chương trình, điều này gây lỗi, gián đoạn dịch vụ. Mặt khác, các thảm họa thiên
nhiên cũng là rủi ro tiềm tàng làm gián đoạn các dịch vụ ĐTĐM. Đã có hiện
tượng sét đánh các thiết bị ĐTĐM và làm gián đoạn dịch vụ. Tính sẵn sàng ở đây
cần được hiểu thêm nghĩa là quá trình cung cấp dịch vụ liên tục trong thời gian
dài, các dịch vụ ĐTĐM được thuê từ nhà cung cấp, vậy cần lường trước khả
năng họ ngừng cung cấp dịch vụ do một lí do bất khả kháng nào đó, ví dụ chuyển
mục tiêu kinh doanh, thậm trí phá sản.
- Tải mạng (Network load): Tải mạng đám mây cũng là vấn đề cần quan
tâm. Nếu dung lượng sử dụng tài nguyên mạng trên 80% thì các máy tính có thể
trở thành không đáp ứng, hoặc giảm hiệu năng tính toán (do nhà cung cấp có cơ
chế bảo vệ thiết bị của họ), đặc biệt khi xử lý, trao đổi dữ liệu lớn.
- Tính toàn vẹn (Integrity): Tính toàn vẹn dữ liệu ảnh hưởng đến độ
chính xác của thông tin trong hệ thống. Trong môi trường ĐTĐM, tính hiệu lực,
chất lượng, mức độ an toàn, an ninh của dữ liệu ảnh hưởng đến hoạt động của hệ
thống và kết quả đầu ra. Nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM phải có cơ chế bảo đảm
tính toàn vẹn của dữ liệu trong các tình huống xảy ra. Ví dụ như mất dữ liệu, đám
mây không sẵn sàng.
- An ninh dữ liệu (Data Security): Cần bảo đảm dữ liệu phải được bảo
vệ, với ĐTĐM, số tổn hại dữ liệu tăng lên khi dữ liệu được chia sẻ tùy tiện trong
nhiều hệ thống khác nhau trên đám mây, đặc biệt là các hệ thống thông tin của
Chính phủ điện tử. Đây là điều mà các nhà cung cấp dịch vụ hết sức lưu ý để có
các cơ chế phù hợp.
- Vị trí dữ liệu (Data location): Trong ĐTĐM, về nguyên tắc, dữ liệu
được phân tán trên toàn cầu, điều này tạo nên sự nhận biết không rõ ràng của
khách hàng về vị trí chính xác dữ liệu của họ trên đám mây, gây khó khăn cho
việc quản lý, điều tra nếu có vấn đề.

đám mây bao gồm phần cứng và phần mềm, để dựa
vào đó, khách hàng có thể truy cập và sử dụng các
ứng dụng/dịch vụ được cung cấp từ điện toán đám
mây. Chẳng hạn máy tính và đường dây kết nối
Internet (thiết bị phần cứng) và các trình duyệt web (phần mềm)….
2) Application (Lớp Ứng dụng): Lớp ứng dụng của điện toán đám mây làm nhiệm
vụ phân phối phần mềm như một dịch vụ thông quan Internet, người dùng không
cần phải cài đặt và chạy các ứng dụng đó trên máy tính của mình, các ứng dụng
dễ dàng được chỉnh sữa và người dùng dễ dàng nhận được sự hỗ trợ. Các đặc
trưng chính của lớp ứng dụng bao gồm :
• Các hoạt động được quản lý tại trung tâm của đám mây, chứ không nằm ở phía
khách hàng (lớp Client), cho phép khách hàng truy cập các ứng dụng từ xa thông
qua Website.
• Người dùng không còn cần thực hiện các tính năng như cập nhật phiên bản, bản
vá lỗi, download phiên bản mới… bởi chúng sẽ được thực hiện từ các “đám
mây”.
3) Platform (Lớp Nền tảng): Cung cấp nền tảng cho điện toán và các giải pháp của
dịch vụ, chi phối đến cấu trúc hạ tầng của “đám mây” và là điểm tựa cho lớp ứng
dụng, cho phép các ứng dụng hoạt động trên nền tảng đó. Nó giảm nhẹ sự tốn
kém khi triển khai các ứng dụng khi người dùng không phải trang bị cơ sở hạ
tầng (phần cứng và phần mềm) của riêng mình.
4) Infrastructure (Lớp Cơ sở hạ tầng): Cung cấp hạ tầng máy tính, tiêu biểu là môi
trường nền ảo hóa. Thay vì khách hàng phải bỏ tiền ra mua các server, phần
mềm, trung tâm dữ liệu hoặc thiết bị kết nối… giờ đây, họ vẫn có thể có đầy đủ
tài nguyên để sử dụng mà chi phí được giảm thiểu, hoặc thậm chí là miễn phí.
15
Đây là một bước tiến hóa của mô hình máy chủ ảo (Virtual Private Server).
5) E)E)DB&E)E)JKLG6 Bao gồm các sản phẩm phần cứng và phần mềm
máy tính, được thiết kế và xây dựng đặc biệt để cung cấp các dịch vụ của đám
mây. Các server phải được xây dựng và có cấu hình đủ mạnh để đám ứng nhu

duy trì. Do đó, thay vì phải đầu tư từ đầu rất nhiều tiền cho chi phí xây dựng cơ
sở hạ tầng riêng, các cá nhân, doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sẽ chỉ phải
trả số tiền vừa đủ theo nhu cầu sử dụng của mình (pay-for-what-you-use).
Như vậy, mô hình này có rất nhiều lợi ích như sử dụng hợp lý nguồn
vốn, điều hòa chi tiêu tính toán theo thực tế sử dụng, luôn hưởng năng suất tính
toán theo cam kết của nhà cung cấp dịch vụ, tận dụng được sức mạnh của
Internet và các siêu máy tính, giảm cơ bản trách nhiệm quản lý hệ thống CNTT
nội bộ.
1.6. Mô hình điện toán đám mây
1.6.1 Các Dịch vụ Điện toán Đám mây:
Các giải pháp dịch vụ điện toán
đám mây được phân thành ba mô hình : SaaS,
PaaS, IaaS.
• Dịch vụ hạ tầng IaaS (Infrastructure as a
Service)
Dịch vụ IaaS cung cấp dịch vụ cơ bản
bao gồm năng lực tính toán, không gian lưu trữ, kết nối mạng tới khách hàng.
Khách hàng có thể sử dụng tài nguyên hạ tầng này để đáp ứng nhu cầu tính toán
hoặc cài đặt ứng dụng riêng cho người sử dụng. Với dịch vụ này khách hàng làm
17
chủ hệ điều hành, lưu trữ và các ứng dụng do khách hàng cài đặt. Khách hàng
điển hình của dịch vụ IaaS có thể là mọi đối tượng cần tới một máy tính và tự cài
đặt ứng dụng của mình.
IaaS xuất hiện rộng rãi bởi các nhà cung cấp Amazon, Memset, Google,
Windows…. Một cách giúp quản lý IaaS dễ dàng hơn là phát triển các templates
cho các dịch vụ đám mây nhằm tạo ra 1 bản kế hoạch chi tiết để xây dựng hệ
thống ready-to-use, và tránh tình trạng di chuyển giữa các đám mây khác nhau.
• Dịch vụ nền tảng PaaS (Platform as a Service)
Dịch vụ PaaS cung cấp nền tảng điện toán cho phép khách hàng phát triển
các phần mềm, phục vụ nhu cầu tính toán hoặc xây dựng thành dịch vụ trên nền

Public Cloud: Các đám mây công
cộng là các dịch vụ đám mây được một bên
thứ ba (người bán) cung cấp. Chúng được lưu
trữ đầy đủ và được nhà cung cấp bởi đám
mây quản lý.
Private Cloud : Các đám mây riêng là các dịch vụ đám mây được cung cấp
trong doanh nghiệp. Những đám mây này được doanh nghiệp quản lý.
Hybrid Cloud : Các đám mây lai là một sự kết hợp của các đám mây công
cộng và riêng. Những đám mây này thường do doanh nghiệp tạo ra và các trách
nhiệm quản lý sẽ được phân chia giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp đám mây
công cộng. Đám mây lai sử dụng các dịch vụ có trong cả không gian công cộng
và riêng.
19
1.7. Thách thức của điện toán đám mây
Điện toán đám mây là một mô hình điện toán mới mở ra cánh cửa đến với
những cơ hội lớn. Trong đám mây điện toán, các tài nguyên và dịch vụ công
nghệ thông tin được tách khỏi cơ sở hạ tầng và được cung cấp theo nhu cầu, phù
hợp với quy mô trong một môi trường đa người dùng. Điện toán đám mây đã có
những ảnh hưởng rất sâu rộng, có ý nghĩa ngay cả đối với những người không
làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật. Trước đây, thông tin thường phát sinh từ một
nguồn, từ email hoặc thư thoại và phần lớn là không đồng bộ. Hiện nay, thông tin
xuất phát từ nhiều ứng dụng và thông qua nhiều công cụ. Các dịch vụ được chia
sẻ giữa nhiều tổ chức, cho phép cùng một tập hợp hệ thống và ứng dụng nền tảng
đáp ứng nhiều nhu cầu một cách đồng thời và an toàn. Các ứng dụng, dịch vụ và
dữ liệu có thể được truy cập thông qua đa dạng các thiết bị được kết nối như là
điện thoại thông minh, máy laptop và các thiết bị Internet di động khác.
Khác với môi trường điện toán truyền thống, điện toán đám mây đang mở
ra nhiều cơ hội mới nhưng kèm theo đó là những thách thức mà các nhà quản lý
phải nắm rõ để vận hành hệ thống được trơn tru. Điện toán đám mây đang trở
thành đích đến của nhiều doanh nghiệp lớn, đặc biệt có liên quan tới mảng trung

việc chia sẻ các ứng dụng và hạ tầng. Một trong những vấn đề quan trọng cần lưu
ý là bảo mật, điều ngày càng trở thành một yếu tố trọng yếu trong môi trường
đám mây công cộng.
Thách thức lớn của điện toán mây là vấn đề bảo mật. Điện toán mây được
cấu thành từ nhiều thành phần khác nhau. Từ máy chủ, lưu trữ, mạng được ảo
hóa, tiếp theo là các thành phần quản lý Cloud Management. Thành phần này sẽ
quản lý tất cả các tài nguyên được ảo hóa và tạo ra các máy chủ ảo với hệ điều
hành, ứng dụng để cung cấp cho khách hàng. Như vậy, điện toán mây là một mô
hình lego với rất nhiều miếng ghép công nghệ tạo thành. Mỗi một miếng ghép lại
tồn tại trong nó những vấn đề bảo mật và vô hình chung, điện toán mây khi giải
bài toán bảo mật tất yếu phải giải quyết các vấn đề của những miếng ghép trên.

21
4M !"L3
Một đánh giá khác từ Gartner về bảo mật trong điện toán mây năm
2009,có 7 nỗi lo ngại mà khách hàng sử dụng điện toán mây đòi hỏi nhà cung
cấp dịch vụ giải đáp thỏa đáng. Dưới đây là chi tiết các vấn đề trên:
Tựu chung của 7 vấn đề trên, xin phân vào 3 nhóm tính chất về bảo mật sau:
[1] Tính tin cẩn (Confidentiality)(vấn đề 1, 2, 4): Dữ liệu của khách
hàng được bảo vệ như thế nào? Ngoài khách hàng, dữ liệu đó có thể bị xem trộm
bởi chính nhà cung cấp hay những khách hàng khác không? Các nhà cung cấp có
đạt các chứng nhận của các tổ chức thứ ba đánh giá về bảo mật hay không?
[2] Tính sẵn sàng (Availability)(Vấn đề 3, 5, 7): Ứng dụng cung cấp trên
điện toán mây luôn sẵn sàng hay không? Nếu xảy ra sự cố, thời gian khôi phục
dịch vụ mất bao nhiêu thời gian? Nhà cung cấp dịch vụ có đủ tài chính để cung
cấp lâu dài cho khách hàng? Chế độ bảo hiểm dữ liệu ra sao nếu nhà cung cấp
ngừng dịch vụ vì lý do tài chính?
22
[3]Tính an ninh (Security)(Vấn đề 6): Ngoài các vấn đề, phòng chống
tấn công, nhà cung cấp dịch vụ có minh bạch cung cấp hiện trạng phục vụ điều

bản của dịch vụ và chỉ tính phí ở phần nâng cao. Dropbox miễn phí 2GB nội
dung upload. Các công cụ di động có khả năng đặc biệt và điện toán đám mây là
hai trong ba cột trụ cơ bản tạo ra cuộc cách mạng điện toán cá nhân. Nhưng cột
trụ thứ ba – sự phổ biến của internet dải rộng - đã tăng tốc độ cho nó.
24
CHƯƠNG 2. CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
2.1. Lịch sử hình thành và sự ra đời Chính phủ điện tử
Ngày nay người ta nói nhiều về Chính phủ điện tử (e-government). Một
khi mà Internet và thương mại điện tử ra đời, thì sự ra đời Chính phủ điện tử là
điều tất yếu. Trước kia, hầu hết Chính phủ các nước phải giải quyết các vấn đề
kinh tế xã hội theo cách cũ, tức là hoàn toàn không có sự tham gia của công nghệ
thông tin và viễn thông. Như đã thấy ở hầu hết các nước, cơ cấu bộ máy Nhà
nước bao gồm các Bộ như bộ Giáo dục, bộ Y tế, bộ Giao thông vận tải, bộ
Thương mại, bộ Khoa học và công nghệ…Trung bình mỗi Chính phủ có khoảng
50 tới 70 bộ hay cơ quan khác nhau ở trung ương. Mỗi bộ như vậy đều có các cơ
quan chức năng riêng. Việc phát hiện một cơ quan làm không đúng chức năng,
nhiệm vụ của mình có thể là khó khăn. Tệ hơn, ngay cả các vấn đề đơn giản như
cấp giấy phép kinh doanh cho một doanh nghiệp, bán một số lớn các cơ quan
khác nhau đòi hỏi một số biểu mẫu khác nhau. Điều này là quá thừa và không
cần thiết. Hơn nữa, thủ tục giải quyết vấn đề về quản lý thường quá rườm rà, gây
khó khăn cho người dân khi có nhu cầu.
Một trong các lý do cơ bản làm cho khu vực công kém hiệu quả, quan liêu
là những việc xảy ra ở trên. Hệ thống tổ chức hàng dọc hay ngang của các cơ
quan có quá nhiều ban ngành tạo ra sự phức tạp cho cán bộ nhân viên trong lúc
thừa hành nhiệm vụ. Để giải quyết tình trạng trên, Chính phủ các nước trên thế
giới đã tìm ra giải pháp áp dụng Internet và các thành tựu khác của khoa học
công nghệ để cải thiện hoạt động của bộ máy nhà nước.
Khả năng áp dụng Internet để cung cấp thông tin Chính phủ tới mọi người
ở mọi nơi mà không cần bất cứ khâu trung gian nào sẽ ảnh hưởng rất lớn tới bản
thân các quan chức Chính phủ. Các doanh nghiệp nhỏ có thể thu thập các quy tắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status