512
* Thạc sĩ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG & NHỮNG CƠ HỘI
CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG
NGUỒN NƯỚC TỪ CÁC TRANG TRẠI NUÔI CÁ TRA (PANGASIUS
HYPOPTHLAMUS) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, VIỆT NAM Chau Thi Đa*, Ken Phillips, Thái Huỳnh Phương Lan
Khoa Nông Nghiệp và Tài Nguyên Thiên Nhiên, Trường Đại Học An Giang Tóm tắt
Trước những áp lực ngày càng lớn đối với việc sử dụng nguồn tài nguyên nước,
cần phải tăng khối lượng nước để phục vụ cho nền nông nghiệp và thủy sản ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long (ĐBSCL) cho sản xuất nông nghiệp, bài báo này tìm hiểu tầm quan trọng
của việc sử dụng nguồn tài nguyên nước ngọt và việc quản lý chất lượng nước phục vụ
cho hệ thống trang trại thủy sản cá tra và basa bền vững. Các nhà khoa học cũng đã
nhận thấy rằng việc nuôi trồng thủy sản ảnh hưởng đến chất lượng nước không chỉ xảy
ra tại một vùng nuôi mà còn ảnh hưởng đến các vùng lân cận khác của ĐBSCL. Các nhà
khoa học cũng đã chỉ ra rằng một số cơ hội thiết thực cho giáo dục bậc cao liên quan
đến việc sử dụng nguồn tài nguyên nước để trả lời một câu hỏi rất quan trọng đó là còn
bao lâu nữa nghề nuôi cá tra và basa có thể được bền vững. Các mô hình nuôi cá tra ở
ĐBSCL bao gồm mô hình nuôi cá trong ao đất, nuôi trong bè (trên sông), hoặc nuôi đăng
quầng (dọc theo vùng bãi bồi ven sông và các cù lao). Lịch sử phát triển nghề nuôi cá tra
cho thấy mô hình nuôi cá tra trong ao đất được xem là thành công nhất trong nền công
nghiệp ngành thủy sản của Việt Nam. Ao nuôi cá tra được đào sâu và chiều cao mực
nước đạt khoảng từ 3,5 - 4,0 m (thậm chí có thể lên đến trên 6 m). Điều này nhằm phục
vụ cho mục đích lấy được nguồn nước dồi dào và để có thể thả cá ở mật độ cao trên đơn
vị diện tích mặt nước, và nhằm giúp ngăn chặn cá thất thoát ra ngoài trong mùa lũ. Hầu
hết các trang trại nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL có mật độ thả rất dày, trung bình khoảng
lượng thủy sản đã gia tăng trên khắp thế
giới, chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ các sản
phẩm thủy sản tăng, và nhu cầu có nguồn
thức ăn mới. Hệ thống trang trại công
nghiệp cá nước ngọt Catfish (Pangasius
hypophthalmus), còn được gọi là cá Tra ở
Việt Nam đã phát triển rất mạnh trong
những năm gần đây và đã trở thành ngành
công nghiệp thủy sản quan trọng ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt
Nam.
Hệ thống trang trại công nghiệp
nuôi loài cá nước ngọt này đã chứng minh
là một nghề quan trọng giúp tăng mức
sống của người dân ở ĐBSCL bởi vì nó là
một nguồn prôtein, giải quyết công ăn
việc làm, thu nhập, trao đổi ngoại tệ, và
có giá trị thương mại cao và được cả thị
trường trong và ngoài nước ưa chuộng.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp nuôi trồng
thủy sản đã không còn đáp ứng được
mong đợi như ban đầu bởi vì trong một
vài khía cạnh nó đã dẫn đến những thảm
họa về môi trường (Pullin, 1993). Sự mở
rộng và phát triển nhanh nuôi thâm canh
thủy sản đã tạo ra các vấn đề kinh tế xã
hội và môi trường nghiêm trọng. Mặc dù
sự phát triển này tạo ra lợi nhuận và thu
nhập, nó cũng gây ra những mối nguy hại
và tác động xấu đến môi trường, như ô
lý nước, phòng ngừa và điều trị bệnh (Da
& Berg, 2009). Ngoài ra theo Lin & Yi
514
(2003) một phần chất thải trong quá trình
nuôi lắng dưới đáy ao đã được nạo quét
và bơm ra sông trong lúc thu hoạch và
sau khi thu hoạch (Lin & Yi, 2003). Vì
vậy việc nuôi cá tra đã trở thành một vấn
đề môi trường nghiêm trọng, khi mà thức
ăn thừa và các cặn bã khác của cá cùng
với các chất rắn lơ lửng và các chất dinh
dưỡng vô cơ đã làm gia tăng nhu cầu oxy
hóa sinh (BOD) và sự phú dưỡng trong
nước (Muir, 1982).
Bài viết này cung cấp số liệu cơ
bản về tình hình nuôi hiện tại, chi tiết đầu
vào và đầu ra của các trang trại nuôi cá
tra, đồng thời cũng phân tích tổng quan
về những ảnh hưởng môi trường đến việc
sử dụng nguồn tài nguyên nước trong các
hệ thống nuôi cá tra thâm canh. Bài báo
này chỉ ra ảnh hưởng của việc nuôi trồng
thủy sản lên chất lượng nước ở các vùng
lân cận của Đồng bằng Sông Cửu Long
và cũng đã nhận ra những cơ hội hiện tại
cho sự giáo dục bậc cao liên quan đến
việc sử dụng nguồn tài nguyên nước để
trả lời câu hỏi còn bao lâu nữa việc nuôi
cá tra có thể được bền vững.
10’ 12.35
"
Đông và
106
0
51’ 12.71
"
Đông. Khí hậu có 2 mùa:
mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 và mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 9. ĐBSCL sản
xuất 90% lúa, 60% hải sản, 70% cây ăn
quả và hoa màu xuất khẩu của cả nước
Việt Nam. Diện tích mặt nước chiếm
khoảng 67,2%. Vùng này có nhiều hoạt
động nuôi trồng thủy sản và là nơi có
tiềm năng sản xuất thủy sản rất cao (Sub-
Institute of Water Resources Planning,
2003). Các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và
Cần Thơ là trung tâm sản xuất cá tra
chính ở ĐBSCL và nằm ở lưu vực thấp
của sông Mêkông, đầu nguồn ĐBSCL ở
Việt Nam.
III. Tình trạng nuôi cá tra ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long
Kỹ thuật nuôi (phương pháp nuôi)
rất đa dạng, từ dạng nuôi ao qui mô nhỏ
đến các qui mô lớn (qui mô công nghiệp).
Các hệ thống nuôi cá tra chính ở ĐBSCL
là: ao đất, bè nổi và nuôi đăng quầng ở
vùng nước tự nhiên. Sự phát triển của hệ
việc làm cho khoảng 20.000 đến 23.000
lao động trong năm 2010 và sản lượng sẽ
tiếp tục tăng từ 11.000 ha năm 2015 lên
13.000 ha năm 2020 (MARD, 2009).
IV. Các nhân tố chính trong việc
nuôi cá tra
Các nhân tố kỹ thuật chính ở các
ao nuôi cá trong vùng khảo sát là hầu hết
các nông dân nuôi cá tra trong ao qui mô
nhỏ phát triển và ứng dụng các kỹ thuật
do tự học hoặc học từ những người láng
giềng. Ao được thiết kế sâu, mực nước
cao từ 3,5 đến 4m (hoặc thậm chí 6 m ở
một vài trường hợp). Đào ao sâu để có
được nguồn nước dồi dào và có thể thả cá
ở mật độ dày và ngăn ngừa cá thoát ra
ngoài trong mùa lũ. Điều này khác xa với
thiết kế ao để nuôi cá tra Châu Phi, tôm
và các loài khác ở Việt Nam, cũng như ở
các nước Châu á khác. Nghiên cứu này
cũng ghi nhận mật độ trung bình thả cá
cũng rất cao (35-40 con m
-2
), nhưng có
một vài nghiên cứu khác đã báo cáo mật
độ cá thả cao hơn 52,8 con m
-2
(Phuong
& Oanh, 2009) và thậm chí cao hơn 75
con m
vài hộ nuôi cũng bơm hút các chất thải
rắn và những chất cặn bã tích tụ ở dưới
đáy ao mỗi tháng. Vào lúc thu hoạch, các
chất cặn ở đáy ao và nước thải trong ao
được bơm ra ngoài và phơi khô đáy ao
trong vòng 1 đến 2 tháng trước khi bắt
516
đầu mùa vụ nuôi mới. Hầu hết người
nuôi cá khoảng (45–60%) ở 3 tỉnh An
Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ bơm nước
thải của ao trực tiếp ra sông và kênh rạch.
Khoảng 55% các hộ nuôi ở An Giang thải
nước thải trực tiếp vào ruộng lúa, so với
khoảng 45% ở Đong Tháp và 28% ở Cần
Thơ.
4.2. Sử dụng thuốc và hóa chất
Hầu hết nông dân đều xử lý ao
nuôi của họ giữa các kỳ nuôi (vụ nuôi).
Các chất cặn tích tụ ở đáy ao thì thường
được xử lý bằng cách rãi vôi, nạo quét
bùn, xử lý muối và sau đó phơi khô 15-30
ngày trước khi cho nước mới vào ao.
Ngoài ra, cũng có một vài hộ nuôi khác
dùng vôi, muối và chlorine để xử lý đáy
ao trước khi phơi khô và cấp nước mới
vào. Các hộ nuôi ở Đồng Tháp sử dụng
khoảng 500 kg vôi ha
-1
, cao hơn so với
V. Việc sử dụng và quản lý nguồn
tài nguyên nước ở Việt Nam
Nước là một nguồn tài nguyên
quan trọng cho đời sống của hơn 1 tỉ
người đang sống với thu nhập dưới 1 đôla
trên ngày, đặc biệt đối với 850 triệu người
nghèo nông thôn làm nghề nông và nuôi
trồng thủy sản. Ở các nước đang phát
triển, nước là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến năng suất nông nghiệp và thu
nhập của người dân nông thôn nghèo trên
thế giới (Namara và ctv., 2010). Trong sự
đánh giá toàn diện về ảnh hưởng xã hội
của những đầu tư trong quản lý nước
trong nông nghiệp, các yếu tố cần để xem
xét toàn bộ lợi ích (bao gồm các yếu tố đa
ảnh hưởng) và toàn bộ chi phí tương
đương (bao gồm các chi phí về sức khỏe,
môi trường và xã hội ) chưa được nghiên
cứu đến (J. M. Faures và ctv., 2007). Việt
nam có hệ thống sông ngòi, kênh rạch và
hồ chứa với diện tích 1.700.000 ha với
tiềm năng rất lớn về thủy sản: nó bao gồm
các ao nhỏ, hồ, kênh, mương vườn
(120,000 ha); hồ chứa nước lớn (340,000
ha); cánh đồng lúa có thể nuôi trồng thủy
sản (580,000 ha), và các vùng thủy triều
(660,000 ha) (Sub-Institute of Water
Resources Planning, 2003). Tuy nhiên,
theo đánh giá của thế giới thì Việt Nam
Tuy nhiên, chất lượng nước ngầm ở
ĐBSCL thì tương đối tốt, và có tiềm năng
là nguồn cung cấp nước chính cho hầu hết
các vùng ở nông thôn (Anh và ctv.,
2010). Để ngành nuôi trồng thủy sản bền
vững, chính phủ cần có chính sách quản
lý chất thải và bảo vệ giá trị tài nguyên
nước sẵn có.
VI. Các vấn đề ảnh hưởng đến môi
trường nước trong mô hình nuôi cá tra
Việc nuôi cá tra thâm canh phụ
thuộc vào hệ sinh thái khổng lồ để tạo ra
sản lượng thức ăn và vì vậy việc tìm ra
các mối liên kết này để tránh những mâu
thuẩn về tài nguyên trong tương lai là cần
thiết (Folke & Kautsky, 1992). Việc nuôi
cá tra ở ĐBSCL dựa vào thuận lợi về
nguồn nước cấp dồi dào sẵn có và vì vậy
nuôi cá tra có cả những mặt thuận lợi và
bất lợi ảnh đến môi trường và có rất nhiều
vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.
Vấn đề cần quan tâm nhất đó là tác động
nguồn nước từ nuôi trồng thủy sản ảnh
hưởng đến môi trường xung quanh. Việc
sử dụng thức ăn quá mức làm tăng ô
nhiễm nguồn nước. Sự bùng phát dịch
bệnh và sử dụng quá mức thuốc kháng
sinh trong nuôi cá cũng là vấn một đề
quan trọng ảnh hưởng đến người dân
đang sống trong vùng này (Da & Berg,
Thơ (Da & Berg, 2009). Một số kết quả
khác cho thấy hàm lượng dinh dưỡng
trong chất thải từ ao, bè nuôi cá tra thâm
518
canh thì cao (Veerina, 1989) và hơn 64%
tổng N and 77% tổng P trong lượng thức
ăn đầu vào bị khuếch tán trong nước
(Udomkam, 1989).
Theo Yi và ctv. (2002), tổng lượng
chất thải từ các bè cá tra ở tỉnh Đồng
Tháp lên đến 5.784 tấn nitrogen, 1.470
tấn phosphorus, 171.176 tấn vật chất hữu
cơ, và 215.255 tấn chất rắn lơ lững hằng
năm. Kết quả này đã chứng minh có
khoảng 41 mg N m
-3
, 10 mg P m
-3
, 1,210
mg/m
3
vật chất hữu cơ, và 1,522 mg/m
3
chất rắn lơ lững thải vào dòng sông. Dựa
vào số liệu này, có thể ước tính rằng nếu
số bè tăng lên khoản 4.000-5000 bè, số ao
lên 6.000 ao và 2.000 đăng quầng ở
ĐBSCL thì tổng lượng các chất thải này
ao nuôi mang lại kết quả đáng kể
(Schwartz & Boyd, 1995).
Tuy nhiên, việc sử dụng thảm cỏ ở
tầng mặt để lọc từ nước thải ao cá tra tỏ ra
kém hiệu quả (Ghate và ctv., 1997). Từ
các khía cạnh về kinh tế của việc xử lý
dòng chảy từ ao cá tra ra môi trường, có
thể kết luận rằng sử dụng nước thải của
để tưới tiêu cho lúa mang lại hiệu quả
kinh tế cao (Kouka & Engle, 1996).
VII. Đảm bảo tính bền vững
môi trường nước trong việc nuôi cá tra
Việc nuôi cá tra công nghiệp đã
cho thấy được một vài nhân tố có thể tác
động đến tính bền vững của việc nuôi
này, đó là sự ô nhiễm tiềm tàng từ nước
thải và chất thải, dịch bệnh bùng phát và
con giống kém chất lượng. Sự bền vững
của việc nuôi cá tra liên quan rất nhiều
đến môi trường nước bên ngoài. Hàm
lượng chất thải cao từ các ao nuôi cá tra
không được xử lý được xem như là một
nguồn nguyên nhân của sự ô nhiễm làm
xấu đi chất lượng nước trên sông, kênh
rạch nói chung (Phuong & Oanh, 2009).
Cần có kế hoạch định hướng tốt cho sự
phát triển các hệ thống nuôi thủy sản
trong vùng để giảm bớt những trợ ngại và
thiệt hại lớn cho người nuôi về sau.
Bài báo này nhận thấy rằng ngành
nuôi trồng thủy sản tác động đến chất
lượng nước trên sông Mêkông. Luận
điểm của chúng tôi là cần phải làm giảm
sự ảnh hưởng này bất cứ ở nơi đâu có thể,
các trường Đại học là một chìa khóa
chính trong việc phát triển cho cả hoạch
định nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật để
cải thiện tác động này. Các bài báo trước
đã chỉ ra rằng ngành nuôi trồng thủy sản
sử dụng thuốc và hóa chất để duy trì sức
khỏe của cá. Hàm lượng (mức độ) sử
dụng này thì cao hơn tiêu chuẩn của
phương tây mặc dù một vài trường hợp
những loại thực phẩm ở nước ngoài có
thể được cho phép xử lý bằng nhiều thuốc
và hóa chất. Tuy nhiên, giai đoạn cuối
của sản phẩm thì không được kiểm soát
một cách nghiêm khắc ở ngành công
nghiệp thủy sản ở ĐBSCL. Vì vậy tác giả
đề nghị rằng các trường đại học cần phải
tham gia phát triển và đưa ra những
phương pháp quản lý sạch hơn để giảm
thiểu sự lệ thuộc này. Đặc biệt sự ảnh
hưởng của việc sử dụng thuốc cho những
mục đích chăm sóc sức khỏe cá chưa
được nghiên cứu vì vậy nó cũng có khả
năng còn lưu lại trong chuỗi thức ăn của
con người và vì vậy ảnh hưởng đến sức
khỏe con người. Các trường đại học có
việc cứ diễn ra. Tác giả tin chắc rằng
nghiên cứu xã hội này là một chức năng
chính của các trường đại học. Cái đó thì
các trường Đại học cần nhận ra các động
lực và các rào cản để chọn kỹ thuật mới
và nó không chỉ mong đợi một cách đơn
giản là kỹ thuật mới này sẽ dẫn đến
những thay đổi đáng kể. Xử lý nước là
một ngành khoa học mới ở ĐBSCL.
Giảm thiểu dòng chảy của nước sông
(hoặc kênh rạch) sẽ có những ảnh hưởng
nào đó như nhiều người cũng đã tranh
luận rằng dòng chảy yếu sẽ làm giảm khả
năng pha loãng chất thải. Các trường Đại
học cần bắt đầu nghiên cứu để giúp các cá
nhân và cộng đồng xử lý nước và loại bỏ
những chất gây ô nhiễm do các hoạt động
thủy sản gây ra một cách thích hợp.
8.1. Giáo dục
Chắc chắn các nhà nghiên cứu sẽ
mang kiến thức mới đến cho chúng ta. Ở
nhiều quốc gia, người ta đã chỉ ra rằng kỹ
thuật có sẵn thì lỗi thời ít nhất 10 năm
tuổi so với các phương pháp mà nông dân
đang ứng dụng và sau nhiều năm, khoảng
cách giữa kiến thức và ứng dụng đã gây
khó khăn cho các tổ chức tài trợ. Nước
Úc là một ví dụ, các dự án nghiên cứu đã
bị trì hoãn trong khi các nghiên cứu nhận
ra những nhu cầu thiết thực của người
thuật mới. Vai trò thứ hai là vai trò giáo
dục cộng đồng vì hiện tại rõ ràng là chính
phủ đang đóng vai trò trong giáo dục
cộng đồng. Ở vài quốc gia, đây là vài trò
của Bộ Nông Nghiệp hoặc các ngành
521
công nghiệp hàng đầu. Tuy nhiên, chúng
tôi nhận thấy rằng các quốc gia khác đã
thấy cần phải thành lập các chuyên gia
khuyến nông trong các trường Đại học
của họ để có được mối liên hệ trực tiếp
hơn giữa Bộ Nông Nghiệp, cộng đồng và
các nhà nghiên cứu. Các chuyên gia
khuyến nông có thể am hiểu rõ các vấn đề
để giúp các nhà nghiên cứu thì tốt hơn là
thảo luận trên các diễn đàn.
IX. Kết luận
Hệ thống ao nuôi cá tra là một mô
hình đang đóng vai trò rất quan trọng
trong ngành nuôi trồng thủy sản ở
ĐBSCL. Nó là hệ thống nuôi lớn nhất,
phát triển nhanh nhất về cả vùng nuôi và
sản lượng. Năng suất cá tra được cải thiện
bằng cách thực hành những phương pháp
nuôi trồng thủy sản tốt (GAPs). Vì vậy
cần có kế hoạch, quản lý tốt tài nguyên
nước, quản lý nước thải để giảm ảnh
hưởng đến môi trường trong vùng nuôi và
các vùng lân cận. Nguyên nhân chính gây
hết người nuôi cá chưa có ý thức về môi
trường và kiểm soát môi trường nước một
cách hợp lý cho việc nuôi cá tra. Xây
dựng và ứng dụng những thực hành quản
lý tốt nhất (BMPs), những thực hành
nông nghiệp tốt (GAP) thì rất cần thiết và
nên khuyến khích cả người nuôi và doanh
nghiệp áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất
lượng quốc tế. Vì vậy, các trường Đại học
cần phải thực hiện vai trò quan trọng
trong việc xây dựng nền công nghiệp bền
vững cả về măt kinh tế và môi trường bền
vững. 522
Tài liệu tham khảo
Anh LNV, Trinh VTM, Toan HQ, Van PTH, Thanh BX, Van NP, Matsui Y (2010) Evaluation
of water quality and water management models of Mekong Delta province, Vietnam. VNU-HCMC
Publisher, No: 191-2010/CXB/0208/VNUHCM, Global environmental issues for sustainable
development in the Asian region
Bosma RH, Hanh CTT, Potting J (2009) Environmental Impact Assessment of the Pangasius
Sector in the Mekong Delta. Delta. Wageningen University, 50pp.
Da CT, Berg H (2009) Catfish (Pangasius hypothalamus) Farming Systems, Vietnam, LAP
LAMBERT Academic Publishing AG&Co. KG (Book), Germany.
Dugan P, Dey MM, Sugunan VV (2006) Fisheries and water productivity in tropical river
basins: Enhancing food security and livelihoods by managing water for fish. Agricultural Water
Muir JF (1982) Economic aspects of waste treatment in fish culture. In: report of the EIFAC
Workshop on fish farm Effluents, J. S. Alabater (Ed), EIFAC Technical Paper, 41, 123-135pp.
Namara RE, Hanjra MA, Castillo GE, Ravnborg HM (2010) Agricultural water management
and poverty linkages. Agricultural Water Management, 97, 520-527.
Phuong NT, Duc PM, Son VN, Bui TV, Nguyet ATA (2004) A review of the application of
bio-technologies for quality improvement and production cost reduction of giant freshwater prawn
(Macrobrachium rosenbergii), catfish (Pangasius bocourti and Pagasius hypothalamus), and
tilapia (Oreochromic niloticus) farming in An Giang province. Report submitted to the Department
of Science and Technology of An Giang Province, 24, (in Vietnamese).
Phuong NT, Oanh DTH (2009) Striped Catfish (Pangasianodon hypothalmus) Aquaculture in
Viet Nam: An Unprecedent Development within a Decade In: De Silva, S.S., Davy, F.B. (Eds),
Success Stories in Asian Aquaculture. Springer, NACA and IDRC, Dordrecht, Bangkok and Ottwa,
pp. 133-149.
Pullin RSV (1993) An overview of environmental issues in developing-country aquaculture.In:
R.S.V. Pullin, H. Rosenthal and J.L. Maclean (Editors). Ecological & Environment, Environment
and Aquaculture in Developing Countries, 31, 1-19.
Schwartz MF, Boyd CE (1995) Constructed wetlands for treatment of channel catfish pond
effluents. Prog. Fish-Cult, 57, 255-266pp.
Sub-Institute of Water Resources Planning (2003) Analysis of sub-area 10 V basin development
plan. Viet Nam National Mekong Committee, Ho Chi Minh City, 87pp.
Tovar A, Moreno C, Manuel-Vez MP, Garcia-Vargas M (2000) Environmental impacts of
intensive aquaculture in marine waters. Water Resources, 34, 334-342.
Udomkam C (1989) Integrated of catfish (Clarias macrocephalus) cage culture with tilapia.
Master Science Thesis - Asian Institute of Technology, Bangkok, Thailand.
VASEP (2009) The Status and Some Solution of Pangasius Exporters and Producers in the
Mekong Delta Vietnam Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers (VASEP) in
Vietnamese.
Veerina SS (1989) Intensive culture of walking catfish (Charias macrocephalus) in an outdoor
recirculating systems integrated with tilapia Master Science Thesis - Asian Institute of Technology,
Bangkok, Thailand