Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản - Pdf 26

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH DOANH QUỐC TẾ
Đề tài: Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại
thị trường Nhật Bản
Sinh viên thực hiện: Nhóm 11
Giáo viên hướng dẫn: Lê Quang Nhật
Hà Nội, 2014
1
Đề tài: Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại
thị trường Nhật Bản
Danh sách thành viên nhóm 11
Họ và tên Mã Sinh Viên
1. Nguyễn Thị Kim Chi 0851020050
2. Tạ Thị Hà 0851020121
3. Phạm Dũng Hưng 0851020106
4. Nguyễn Hoài Nam 0851020013
5. Phan Thị Nhung 0851020049
6. Đặng Hà Xuân 0851020067
MỤC LỤC

( Nguồn: Global Powers of Retailing study 2009 – Deloitte.com). .5
Tài liệu 35
Tác giả / Nguồn 35
1.Giáo trình kinh doanh quốc tế 35
Ts. Nguyễn Thị Hường 35
2.“ Nghệ thuật để Wal-Mart trở thành tập đoàn lớn nhất thế giới”
35
35
3.Sách Hiệu ứng Wal-Mart 35
Charles Fishman 35

Wal – Mart. Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi sẽ phân tích
“chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal – Mart tại thị trường Nhật Bản”,
qua đó chúng tôi mong muốn giúp thầy cô và các bạn hiểu rõ hơn về cách mà
Wal – Mart đã sử dụng khi hoạt động tại thị trường khó tính nhất nhì thế giới
này. Trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm rất
mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Nhóm xin chân thành cám ơn.
Nhóm 11
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 1
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
NỘI DUNG
I. Giới thiệu chung về Wal-mart
1. Lịch sử hình thành
Wal-Mart là một công ty của Mỹ kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ do Sam
Walton sáng lập ra vào năm 1962.
Câu chuyện hình thành của Wal-Mart bắt đầu từ năm 1/9/1945 khi Sam
Walton mở cửa hàng tạp phẩm Ben Franklin ở Newport, Arkansas. Ngay khi
mở cửa hàng, Sam Walton đã quan tậm đến việc tìm kiếm những nguồn hàng
trong vùng có giá rẻ hơn nguồn hàng hiện thời của ông rồi sau đó bán chúng
với giá rẻ nhất có thể. Chính điều này đã tạo nên thành công cho cửa hàng của
ông. Trong vòng 5 năm, cửa hàng tạp phẩm của ông đã đạt doanh số 250.000
đôla và đem lại 30.000 tới 40.000 đôla lợi nhuận trong một năm, trở thành
cửa hàng Ben Franklin số một về doanh số và lợi nhuận.
Sau thành công của cửa hàng Ben Frankilin, năm 1951, Walton mở cửa
hàng “Five and Dime” (“Năm xu và một hào” – nghĩa là mọi thứ đều có giá
dưới 10 xu Mỹ, và tung ra những đợt khuyến mãi đặc biệt, ví dụ như một tá
kẹp áo chỉ có giá 9 cent. Đến năm 1960, Walton đã sở hữu 15 cửa hàng như
vậy, kiếm được 1,4 triệu đô-la tổng doanh thu hàng năm. Lúc này, ý tưởng về
những cửa hàng mà ở đó mọi hàng hóa đều được bán rẻ hơn mọi nhà bán lẻ
khác đã dần dần hình thành trong Sam Walton. Và ngày 2/7/1962, ông cho

từng nhắc đến nhiều câu chuyện nói về việc ở nơi nào Wal-Mart đặt chân tới,
ở đó có cửa hàng bán lẻ phải treo biển ngừng hoạt động hoặc co cụm lại.
Cho đến nay, thị trường nước ngoài lớn nhất của Wal-Mart là Mexico với
1.322 cửa hàng, tiếp đến là Braxin 373, Nhật Bản 371, Anh 368, Canađa 313
và Cuba 266 và gần 200 đại lý ở Trung Quốc….Như vậy, không chỉ chiếm vị
trí số 1 tại Mỹ, Wal-Mart cũng vẫn là nhà bán lẻ lớn nhất ở cả Mexico lẫn
Canada, và nhà bán tạp phẩm lớn thứ nhì ở Anh.
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 3
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
Với hơn 4688 cửa hàng và đại siêu thị trên toàn thế giới, người ta ước tính
hơn 138 triệu người mua sắm tại chuỗi cửa hàng Wal-Mart trên khắp thế giới
mỗi tuần.
3. Thành công
Nếu như lấy thước đo doanh thu lợi nhuận để xác định sự thành công, có lẽ
Wal-Mart sẽ là công ty thành công nhất thế giới. Năm 1979, Wal-Mart lần
đầu đạt doanh thu 1 tỉ USD/năm. Ðến thời điểm 1993 thì nó đã ở mức thu vào
một tỉ USD / tuần. Năm 2001, doanh thu mỗi ngày của Wal-Mart đã gần bằng
con số ấy, bình quân 42 triệu USD một giờ.
So sánh với doanh thu của các đối thủ như Target và Kmart & Sears ( công
ty bán lẻ lớn thứ hai và thứ 3 ở Mỹ ) thì mỗi năm, chỉ trong riêng ngày lễ
Thánh Patrick 17/3 thôi, Wall-Mart đã bán còn nhiều hơn một năm doanh thu
của Target. Còn với Kmart thì doanh thu 2009 của Wal-Mart đã gấp Kmart
đến gần 27 lần.
( Nguồn: factoidz.com)
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 4
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
Trên thị trường thế giới, Wal-Mart cũng bỏ xa Carrefour ( Pháp) - tập đoàn
bán lẻ lớn thứ 2 trên thế giới và Tesco (Anh) - tập đoàn bán lẻ lớn thứ 3 trên
thế giới khi mà doanh số bán hàng của các công ty này chỉ bằng 1/3 và 1/4 so
với doanh số bán hàng của Wal-Mart

tập đoàn bán lẻ lớn nhất nước Mỹ mà đã trở thành tập đoàn bán lẻ đa quốc gia
lớn nhất thế giới đồng thời cũng là tập đoàn lớn nhất thể giới trong lịch sử.
4. Cơ sở thành công
Có thể nói Wal – Mart thành công được như ngày nay là nhờ vào khả
năng bán hàng hóa rẻ hơn mọi đối thủ của công ty này. Khả năng bán hàng
hóa giá rẻ đó xuất phát từ các yếu tố sau:
Thứ nhất, đó là nhờ khả năng phát triển cửa hàng nhanh chóng và khả
năng mua hàng hóa khổng lồ. Ngày nay, số lượng các siêu thị và cửa hàng
cửa Wal-mart hiện diện trên toàn thế giới nhiều hơn bất cứ nhà bán lẻ nào.
Lượng hàng hóa mà Wal-Mart mua từ một công ty cũng nhiều hơn bất cứ
khách hàng nào cộng lại.
Thứ hai, đó là nhờ khả năng cắt giảm chi phí tối thiểu. Wal-Mart tận dụng
triệt để mọi cơ hội để giảm giá thành đầu vào, bao gồm chi phí vận hành,
lương nhân viên và giá thu mua sản phẩm…
Thứ ba, đó là khả năng thương lượng với các nhà sản xuất. Wal-Mart là
một nhà phân phối khổng lồ và do đó các thương hiệu sản phẩm không thể để
mình bị loại bỏ khỏi các kệ hàng nhà bán lẻ. Kết quả là, một nhà sản xuất của
một thương hiệu nổi tiếng phải chấp nhận phương châm của Wal-Mart là “giá
chi giảm chứ không tăng “ cho dù nó có ảnh hưởng đến lợi nhuận chỉ để được
có mặt trong chuỗi cửa hàng Wal-Mart.
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 6
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
Như vậy, nói một cách đơn giản, bởi vì Wal-Mart có thể mua rẻ, và có
được những sản phẩm từ các nhà sản xuất trên kệ của mình với giá rẻ, cho
nên có thể bán ra với giá rẻ hơn bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào. Và chính nhờ
chính sách bán giá rẻ suốt 4 thập kỷ qua này đã giúp Wal-Mart có được thành
công như ngày nay.
II. Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật
Bản
1. Giới thiệu chung về thị trường Nhật Bản

hiếu kỳ và óc cầu tiến của người Nhật là những động lực thúc đẩy họ bắt kịp
với các nước tiên tiến.
1.3. Tình hình thị trường Nhật Bản
1.1. Hệ thống phân phối hàng hóa trên thị trường Nhật Bản
• Hệ thống bán hàng
Hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản có nhiều cửa hàng bán lẻ với
mật độ rất dày đặc nhưng với quy mô nhỏ. Những cửa hàng bán lẻ này thường
sử dụng trung bình từ 1-49 nhân viên và có mật độ khoảng 13 cửa hàng cho
1.000 dân cư.
• Các mối quan hệ
Hệ thống phân phối hàng hóa Nhật Bản có sự cấu kết chặt chẽ giữa các
nhà sản xuất và các nhà phân phối theo vòng khép kín và bài ngoại, nhất là
những hệ thống cửa hàng chuyên môn hóa chỉ kinh doanh một loại hàng nhất
định.
• Phương thức bán hàng trên thị trường
Đặc điểm rất độc đáo trong hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản là
sự tồn tại của hệ thống duy trì giá bán lẻ của nhà sản xuất kiểm soát giá bán lẻ
thông qua các chính sách chiết khấu hoa hồng và mua lại hàng hóa.
• Xu hướng hiện nay
Do nền kinh tế Nhật Bản suy thoái kéo dài, việc đồng yên tăng giá dẫn
đến hàng hóa nhập khẩu có tính cạnh tranh về giá cả, thu nhập và cuộc sống
của người Nhật Bản tăng đáng kể dẫn đến nhu cầu hàng hóa đa dạng và
phong phú, hơn nữa do đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản gia
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 8
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
tăng nhanh chóng, buộc phải tái nhập khẩu hàng hóa được sản xuất tại các
nhà máy ở nước ngoài, hệ thống phân phối của Nhật Bản đã có một số thay
đổi theo hướng đơn giản, thông thoáng và quốc tế hóa hơn, giảm dần tính
khép kín và bài ngoại: đa dạng hóa danh mục nhập khẩu, xu hướng toàn cầu
hóa mua sắm hàng hóa tăng mạnh, cho phép nhiều nhà bán lẻ nước ngoài đầu

vậy nhãn hiệu hàng có kèm theo những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất
quan trọng để đưa hàng của bạn tới người tiêu dùng.
• Chất lượng
Xét về mặt chất lượng, người tiêu dùng Nhật Bản có yêu cầu khắt khe
nhất. Sống trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu dùng Nhật Bản
đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy
và sự tiện dụng của sản phẩm. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn một chút cho
những sản phẩm có chất lượng tốt.
• Nhãn hiệu hàng hóa
Người Nhật sẽ trả tiền để mua các hàng hoá có nhãn hiệu nổi tiếng, có
chất lượng cao và thể hiện địa vị. Khách hàng có xu hướng ngày càng quan
tâm đến việc mua các nhãn hàng hoá có chất lượng và giá trị.
• Giá cả
Người tiêu dùng Nhật Bản không chỉ yêu cầu hàng chất lượng cao, bao bì
đảm bảo, dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng tốt mà còn muốn mua
hàng với giá cả hợp lý. Những năm 80, người Nhật sẵn sàng bỏ nhiều tiền để
mua những hàng hoá cao cấp có nhãn mác nổi tiếng, nhưng từ sau khi nền
“kinh tế bong bóng” sụp đổ năm 1991, nhu cầu hàng hoá rẻ hơn đã tăng lên.
Tuy nhiên, người tiêu dùng Nhật Bản vẫn có thể trả tiền cho những sản phẩm
sáng tạo, chất lượng tốt mang tính thời thượng hay loại hàng được gọi là
“hàng xịn”.
2. Nguyên nhân đầu tư vào Nhật Bản
2.1. Thị trường Nhật
- Điểm mạnh: môi trường kinh tế, chính trị và văn hóa đã phân tích ở trên
chính là điều kiện lý tưởng để các doanh nghiệp như Wal-Martđầu tư vào
Nhật Bản. Nhật Bản là nước tiêu thụ hàng hóa lớn thứ 2 trên thế giới với các
kênh phân phối hàng hóa đặc trưng. Trong hệ thống phân phối Nhật Bản còn
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 10
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
có các cửa hàng bách hoá lớn và các siêu thị cũng làm nhiệm vụ kinh doanh

người tiêu dùng .
• Chất lượng phục vụ : công ty xây dựng cơ
sở hạ tầng với hệ thống giám sát – kiểm kho–tính tiền tiên tiến; không gian
trưng bày hàng hóa gọn gàng, ngăn nắp; hoạt động vận tải hiệu quả,mức
độ đáp ứng của các trung tâm phân phối, tiết giảm tồn kho bằng hệ
thống Just in time, cam kết không tính thêm phí cho người tiêu dùng; đội ngũ
nhân viên ở đây luôn nhiệt tình phục vụ khách hàng, hoạt động với hiệu
suất cao, giao tiếp ngắngọn nhưng luôn biết khách hàng cần gì khi
đến đây.
• Kinh nghiệm thâm nhập thị trường : trước khi vào thị trường Nhật
Bản, Wal-Mart đã từng đầu tư vào các nước như Mehico,Brazin, Trung
Quốc….với cách thức tuân thủ chủ nghĩa cơ hội và sự linh hoạt bằng cách đi
theo hướng chung: lựa chọn sản phẩm, lựa chọn thị trường, cách thức thâm
nhập thị trường và sự nhạy bén trong việc mở rộng thị trường toàn cầu.
3. Nội dung chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal – Mart tại Nhật Bản
Trong các chiến lược kinh doanh quốc tế hiện này vẫn đang được nhiều
công ty áp dụng, Wal-Mart theo đuổi chiến lược toàn cầu do những lợi thế về
tài chính và năng lực cung cấp hàng hóa với chi phí thấp và giá rẻ mà Wal-
Mart nắm giữ. Wal-Mart tập trung phân phối các sản phẩm tiêu chuẩn hóa
toàn thế giới và sử dụng giá là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu dưới sự quản lý hết
sức tập trung từ trụ sở chính tại Mỹ. Nội dung cụ thể của chiến lược toàn cầu
mà Wal-Mart sử dụng sẽ được thể hiện cụ thể qua các cấp chiến lược của
Wal-Mart, đó là chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp cơ sở và chiến lược
cấp chức năng.
3.1. Chiến lược cấp công ty
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 12
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
3.1.1. Nội dung chung
Chiến lược cấp công ty của Wal-Mart là một bức tranh toàn cảnh về hoạt
động và mục tiêu mà công ty hướng tới. Trong chiến lược cấp công ty, Wal-

luôn đầy hàng. Rõ ràng, sản phẩm của các nhà cung cấp này là những sản
phẩm tiêu chuẩn hóa nên rất dễ dàng cho Wal-Mart để người tiêu dùng ở các
thị trường khác nhau có thể chấp nhận. Không chỉ có thế, chính các nhà cung
cấp chính cho Wal-Mart cũng luôn tìm hiểu về chính Wal-Mart để đáp ứng
kịp thời các yêu cầu của công ty này. Điều này thể hiện rất rõ qua các “W-M
team” mà các công ty như P&G, Unilever đã thành lập và hoạt động rất hiệu
quả trong thời gian gần đây. Có thể nói, mối liên kết giữa Wal-Mart và các
nhà cung cấp như thế này là cực kỳ quan trọng, đảm bảo cho mục tiêu luôn
kiếm được những mặt hàng rẻ nhất với chất lượng tốt để cung cấp cho người
tiêu dùng.
Thứ hai, khi tìm cách bành trướng thế lực của mình đến các thị trường bên
ngoài nước Mỹ, Wal-Mart thường chọn phương cách mua lại cổ phần của các
hãng bán lẻ ở chính thị trường đó. Ta có thể kể đến các ví dụ điển hình như:
 Tại Canada, Wal-Mart thực hiện mua lại cổ phần của Woolo
 Tại UK, Wal-Mart mua lại ASDA – chuỗi siêu thị lớn thứ 2 tại đây
 Tại Nhật Bản, Wal-Mart từng bước mua lại Seiyu – công ty bán lẻ hàng
đầu tại Nhật bản
Từ việc mua lại các công ty bán lẻ ở địa phương như thế này, Wal-Mart sẽ
giảm bớt được những khoản đầu tư xây dựng cơ sở ban đầu cũng như có bước
đệm vững chắc khi xâm nhập thị trường từ việc tận dụng những gì sẵn có của
các công ty này. Ngoài ra, việc mua lại còn làm giảm mức độ cạnh tranh và
giúp Wal-Martdễ dàng hơn trong việc mở rộng thị phần nhờ tận dụng lòng tin
của người tiêu dùng địa phương đã được tạo dựng đối với các công ty địa
phương.
3.1.2. Nội dung chiến lược cấp công ty cụ thể ở Nhật Bản
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 14
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
Khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, Wal-Mart cũng áp dụng chiến
lược tăng trưởng tương tự như khi nó thâm nhập ở các nước khác. Wal-Mart
liên kết với Seiyu-một nhà bán lẻ lớn ở Nhật Bản nhằm giảm đi mức độ cạnh

trang trí hiện đại, ngăn nắp, rất tiện lợi cho người tiêu dùng mua sắm. Seiyu
có một hình ảnh rất phù hợp với hình ảnh Wal-Mart muốn xây dựng. Wal-
Mart nổi tiếng với mức giá rẻ của mình, chính vì vậy hình ảnh Seiyu-biểu
tượng của văn hóa yêu thích sự sang trọng, chất lượng sẽ dễ dàng tạo niềm tin
vào sản phẩm không những rẻ mà chất lượng đảm bảo của Wal-Mart.
Mặc dù hiện tại Seiyu đang lỗ nặng nhưng tình hình của các đối thủ cạnh
tranh không khả quan hơn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Các cửa hàng
Mom and Pop, nơi buôn bán truyền thống của người Nhật những năm 90
đang
đua nhau đóng cửa. Hệ thống siêu thị Daiei chìm trong nợ 30 tỉ USD sau các
vụ nổ bong bóng kinh tế. Nhiều công ty bán lẻ nổi tiếng của Nhật Bản tuyên
bố phá sản. Hãng bán lẻ Carrefour lớn thứ 2 thế giới đang rút dần ra khỏi thị
trường. Mặc dù vậy Seiyu vẫn được kỳ vọng rất nhiều và thực tế cho thấy
ngày đầu tiên của liên minh, cổ phiếu của Seiyu tăng vọt lên 21%.
3.2. Chiến lược cấp cơ sở
Wal-Mart áp dụng khai thác tính quy mô để có được chi phí thấp nhất so
với bất cứ đối thủ cạnh tranh nào trong ngành bán lẻ ở Nhật Bản. Đó chính là
chiến lược hướng vào chi phí thấp. Để thực hiện chiến lược này, Wal-Mart đã
giảm bớt các chi phí quản lý, chi phí quảng cáo-Marketing, chi phí phân phối.
Wal-Mart mặc dù vẫn quan tâm đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ khách
hàng nhưng không chú trọng khác biệt hóa sản phẩm phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng Nhật Bản và cũng không phân khúc thị trường.
3.2.1. Chi phí quản lý
Ở trên mọi chi nhánh của mình, Wal-Mart đều cố gắng giảm chi phí nhân
công. Mặc dù chi phí lao động ở Nhật Bản được đánh giá là tương đối cao
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 16
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
nhưng Wal-Mart vẫn có những chiến lược để cắt giảm. Điều mà Wal-Mart
đang cố làm là giảm chi phí lao động theo hướng thuê các lao động bán thời
gian. Những lao động bán thời gian thường có trình độ không cao, dễ dàng

Nhật Bản. Bỏ một chi phí lớn để quảng cáo cho một chương trình giảm giá
sau đó các đối thủ cạnh tranh bắt chước thậm chí còn đầu tư mạnh tay hơn
hay giảm giá nhiều hơn vào ngay hôm sau thì cũng chẳng hiệu quả gì. Đó là
một kinh nghiệm thực tế trong thị trường bán lẻ ở Nhật Bản. Quà tặng nếu
Wal-Mart phải bỏ ra thì thường không có giá trị vật chất lớn hoặc chỉ có giá
trị về tinh thần ví dụ như eNewsletter hay eZine (tạp chí sản phẩm điện tử)
hoặc là thiệp chúc mừng, thư hỏi thăm. Nhìn chung, Wal-Mart có xu hướng
thực hiện bằng hành động hơn bằng lời nói. Đầu tư vào các hoạt động để giữ
chân khách hàng khi khách hàng đến siêu thị, phục vụ khách hàng tốt. Vì đã
nổi tiếng vì giá rẻ rồi nên Marketing cũng không quá cần thiết.
3.2.3. Chi phí phân phối
Một đặc điểm ở Nhật Bản là hệ thống phân phối tốn kém và phức tạp, một
mê cung của các nhà bán lẻ và công ty vận tải với các mối quan hệ dài hạn.
Trong quan hệ phân phối, hàng hóa qua tay trung gian quá nhiều trước khi
đến được tay nhà bán lẻ. Vì vậy, đương nhiên chi phí sẽ đội lên rất cao. Rất
nhiều các nhà bán lẻ nổi tiếng thế giới phải thừa nhận khó khăn trong giải
quyết vấn đề này như Costco wholesale Corp hay Carrefour của Pháp. Để đối
phó với vấn đề này, Wal-Mart tổ chức một cuộc họp với hơn 400 nhà cung
cấp lớn nhất (chủ yếu là các nhà cung cấp địa phương) để thảo luận việc mua
trực tiếp. Rõ ràng điều này sẽ giúp giảm chi phí đáng kể cho Wal-Mart và
cũng đặt tiền đề cho việc tiến tới ép giá các nhà cung cấp khi quan hệ buôn
bán đã ổn định, thị phần mở rộng vì ưu thế giá có được.
Về hệ thống phân phối cho người tiêu dùng, Seiyu thiếu hệ thống kho
hàng và xe tải nên Wal-Mart đang đầu tư xây dựng. Một khi hệ thống xe tải
với số lượng lớn và rộng khắp giao hàng tận nhà người mua với mức phí thấp
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 18
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
(thậm chí không phí như ở Mỹ) mà khách hàng không cần đến siêu thị trực
tiếp. Một lợi thế nó mang lại là giảm chi phí phân phối. Vì giá đất ở Nhật rất
đắt nên muốn xây dựng một cửa hàng mới là quá tốn kém. Hệ thống xe tải sẽ

hàng của họ đã tiến hành ép giá các nhà cung cấp và nông dân. Sự thỏa thuận
giữa Wal-Mart và các nhà cung cấp chỉ đạt được một khi bộ phận này tin chắc
rằng các nhà cung cấp không thể bán được hàng cho những hãng khác với giá
rẻ hơn bán cho họ. Sự phát triển của các công ty sản xuất với giá thành rẻ ở
Trung Quốc, Ấn Độ là một nguồn lợi cho Wal-Mart. Mỗi năm bộ phận thu
mua hàng hóa của Wal-Mart mua khoảng 1,5 tỉ USD hàng hóa từ Trung
Quốc, một nửa mua trực tiếp, một nửa qua các trung gian. Tuy nhiên, ngay tại
Trung Quốc, nhiều nhà sản xuất đã than phiền bị họ đàn áp. Mỗi năm, nếu
đến kỳ hạn mà chưa ký được một hợp đồng mới với Wal-Mart thì nhiều công
ty ở Trung Quốc lo sẽ phải đóng cửa. Lý do là chỉ có bộ phận thu mua hàng
của Wal-Mart là luôn mua với số lượng lớn, ổn định. Nắm được điểm yếu đó
của các nhà cung cấp, nhân viên bộ phận này tìm cách buộc các nhà cung cấp
Trung Quốc phải cạnh tranh với nhau, tìm nơi nào hiến giá thấp nhất, dùng
người này đe dọa người kia. Đây không chỉ là điều chỉ xảy ra với Trung Quốc
mà còn là một ví dụ điển hình trong mối quan hệ giữa Wal-Mart và các nhà
cung cấp ở trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, Wal-Mart luôn chủ trương để bộ phận thu mua hàng của mình
luôn quan tâm đến chất lượng của sản phẩm và luôn tìm bán những hàng hóa
thân thiện với môi trường. Trong những tháng cuối năm 2010, Wal-Mart đã
tiết lộ kế hoạch xây dựng chỉ số sản phẩm bền vững trong phạm vi toàn cầu.
Điều này được đưa ra trong một cuộc họp với hơn 1,500 nhà cung cấp, các tổ
chức liên quan và các nhà lãnh đạo vào tuần rồi diễn ra tại văn phòng của tập
đoàn này. Chỉ số sẽ lập ra một nguồn dữ liệu để đánh giá tính bền vững của
các sản phẩm. “Khách hàng luôn đòi hỏi các sản phẩm phải hiệu quả hơn với
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 20
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản
thời gian sử dụng lâu hơn và các chức năng tốt hơn,” Mike Duke, Chủ tịch và
đồng thời là giám đốc điều hành tập đoàn Wal-Mart cho biết. “Không những
thế khách hàng ngày nay còn muốn biết các thông tin về toàn bộ chu kỳ sản
phẩm để họ có cái nhìn tốt hơn về sản phẩm. Họ muốn biết vật liệu dùng để

tất cả những mặt hàng của tất cả các hãng khác nhau.
Phòng nhân sự sử dụng nhân viên người Nhật trong đội ngũ nhân viên bán
hàng và thu ngân tại các siêu thị. Bất cứ một khách hàng nào của Wal-Mart
đều được nhân viên tiếp tân, nhân viên bán hàng, nhân viên thu ngân chủ
động chào đón và phục vụ với thái độ tươi cười lễ phép. Nhân viên bán hàng
tinh thông kỹ thuật và tâm lý học có thể nhìn vẻ ngoài và thần thái của khách
hàng để biết được ý muốn mua hàng của họ, từ đó giải thích và hướng dẫn
một cách nhẫn nại. Với sự tiếp đón chu đáo và nhiệt tình, hầu hết các khách
hàng đều vui vẻ mua hàng. Điều khiến người ta khen ngợi hơn cả là Wal-Mart
chủ trương cho nhân viên tiếp cận rộng rãi với khách hàng, khuyến khích mọi
nhân viên xây dựng cảm tình với họ trong hoạt động kinh doanh, điều mà
đương nhiên xây dựng được mạng lưới khách hàng rộng rãi và chắc chẵn cho
tập đoàn, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ số lượng tiêu thụ. Sự thân thiện của
nhân viên thu ngân không hề làm chậm lại quá trình thanh toán của khách
hàng mà trái lại, thúc đẩy nhanh chóng quá trình này. Các nhân viên thu ngân
của Wal-Mart luôn đứng để làm việc. Ngoài ra, bộ phận bán hàng của Wal-
Mart sử dụng máy rà điện tử tại quầy thu ngân đã được gắn hệ thống kiểm
soát hàng tồn kho để họ có thể biết ngay lập tức mặt hàng nào bán chạy và để
dễ đặt hàng khi cần thiết.
3.3.4. Bộ phận Marketing
Tại tất cả các thị trường mà Wal-Mart hoạt động kinh doanh, phòng
marketing của họ đều đưa ra khẩu hiệu “Saving People Money So They Can
Live Better” khẳng định mục đích kinh doanh của công ty. Như đã đề cập
trong chiến lược cấp cơ sở, họ không tiến hành những quảng cáo rầm rộ, tốn
Nhóm 11 – Lớp KDO307.1 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status