BÀI LUẬN
Chiến lược kinh doanh quốc tế của
KPMG INTERNATIONAL
1.3. Ngành nghề kinh doanh
KPMG quốc tế là một mạng l
ưới toàn cầu bao gồm các công ty thành viên
chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ Kiểm toán, Thuế và Tư vấn. Các công ty
thành viên hoạt động độc lập trong mạng lưới KPMG quốc tế. KPMG quốc tế
không cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Không công ty thành viên nào có quyền
buộc KPMG quốc tế với bên thứ 3 hoặc ngược lại, KPMG quốc tế cũng không có
quyền buộc các công ty thành viên với bên thứ 3.
1.3.1. Lĩnh vực kiểm toán
Công ty thành viên của KPMG cung cấp các dịch vụ
kiểm toán độc lập được
thiết kế nhằm tăng độ tin cậy của thông tin được chuẩn bị bởi khách hàng để các
nhà đầu tư, các chủ nợ và các bên liên quan khác sử dụng, theo luật định của từng
2
quốc gia yêu cầu. Dịch vụ kiểm toán cũng bao gồm nhiều hình thức chứng thực
báo cáo khác nhau.
Các dịch vụ kiểm toán:
- Dịch vụ chứng thực: Là dịch vụ được các chuyên gia kiểm toán của KPMG
cung cấp nhằm giúp các khách hàng của công ty thành viên KPMG thực hiện
các vấn đề cụ thể - đó là các báo cáo về tiềm năng của công ty và những hình
thức chứng thực khác như: việc bảo đảm độ tin c
ậy, tính hợp lý về sản phẩm
hay dịch vụ của công ty là khách hàng của KPMG. Các dịch vụ này được thực
hiện theo tiểu chuẩn quốc tế cam kết về kế toán hoặc theo tiêu chuẩn quốc gia
đang áp dụng.
- Dịch vụ kiểm toán tài chính: Phương pháp kiểm toán của KPMG được dựa
trên một phương pháp phù hợp, tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm
toán. Phương pháp kiểm toán được xây dựng dựa trên nh
ững nguyên tắc cốt
Đặc tính này được tăng cường nhờ khả năng của KPMG trong việc hình thành
nên các nhóm chuyên gia đa ngành, dựa vào nguồn lực của KPMG và hệ thống
mạng lưới toàn cầu không chỉ trong lĩnh vực thuế, mà còn trong lĩnh vực kiếm toán
và tư vấn. Nhân sự của KPMG hoạt động trong các nhóm chuyên ngành, giúp
khách hàng tiếp cận với các chuyên gia tư vấn am hiểu các vấn đề cụ thể về thuế,
sử dụng kỹ thuật chuyên môn m
ột cách thuần thục nhằm hỗ trợ công tác trích xuất
và quản lý dữ liệu. KPMG cũng duy trì đối thoại thường xuyên và mang tính xây
dựng với các cơ quan chức năng về thuế.
KPMG làm việc hết sức mình để xây dựng và duy trì lòng tin, sự tôn trọng và
sự tin tưởng không chỉ đối với khách hàng và các cơ quan thuế mà còn đối với các
cộng đồng nơi KPMG làm việc. KPMG tin rằng các cam kết này đóng vai trò quan
trọng trong việc khẳng đị
nh KPMG là một nhà tư vấn đáng tin cậy và được đánh
giá cao, cũng như đã được tin tưởng là nhà tuyển dụng đáng lựa chọn.
1.3.3. Lĩnh vực tư vấn
Dịch vụ tư vấn của KPMG thực hiện trên toàn cầu kết hợp các kỹ năng của
chuyên gia nhằm đưa ra những lời khuyên khách quan, giúp công ty khách hàng
duy trì và nâng cao những giá trị vốn có.
Bao gồm các hoạt động:
- Tư v
ấn quản trị: tư vấn về kinh doanh hiệu quả, quản lý tài chính, công nghệ
thông tin, nhân sự và luân chuyển nhân sự.
- Tư vấn rủi ro: IARCS, tư vấn rủi ro IT.
- Tư vấn trong lĩnh vực giao dịch và tái cơ cấu: tài chính doanh nghiệp, tái cơ
cấu, mô hình nhóm kinh doanh, dịch vụ giao dịch,
Hoạt động tư vấn của KPMG mang đến cho khách hàng doanh nghiệp:
- Xác định mục tiêu, tầm nhìn dài hạn
- Tri
ển khai nguồn lực toàn cầu. Đội ngũ chuyên gia của KPMG sử dụng kiến
động trên 821 thành phố ở 152 quốc gia thuộc 3 khu vực chính: Châu Mỹ;
Châu Á Thái Bình Dương; Châu Âu, Trung đông và Châu Phi.
- Nguồn nhân lực: Công ty sử dụng khoảng 152.000 người, trong đó có hơn
8.100 đối tác, gần 111.000 chuyên gia dịch vụ khách hàng và h
ơn 24.000
nhân viên hành chính và hỗ trợ.
1.5.2. Cơ cấu tổ chức
Hội đồng quản trị toàn cầu là quản trị chính và là cơ quan giám sát. Trách
nhiệm chính của họ bao gồm việc phê duyệt chiến lược dài hạn, bảo vệ và nâng
cao thương hiệu KPMG và phê duyệt các chính sách và các quy định. Bao gồm
Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Chủ tịch của ba khu vực (Châu Mỹ, Châu Á Thái Bình
Dương, và châu Âu, Trung Đông và châu Phi).
1. Michael Andrew Chủ tịch HĐQT KPMG quố
c tế
2. Alan Buckle Phó chủ tịch HĐQT KPMG quốc tế
3. John Veihmeyer Chủ tịch HĐQT KV Châu Mỹ
4. Rolf Nonnenmacher Chủ tịch HĐQT KV châu Âu, Trung Đông, Châu Phi
5. Hideyo Uchiyama Chủ tịch HĐQT KV Châu Á Thái Bình Dương
Hội đồng quản trị toàn cầu tập trung vào nhiệm vụ quản trị cao cấp, bao gồm
đại diện từ 54 công ty thành viên.
5
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức
1.6. Văn hóa Công ty
Các quy tắc ứng xử của KPMG toàn cầu xác định các tiêu chuẩn đạo đức mà
KPMG yêu cầu ở các nhân viên của mình trên toàn thế giới. Quy tắc này áp dụng
như nhau từ Tổng giám đốc đến nhân viên tại các công ty thành viên KPMG - bất
kể đó là ai hay ở vị trí nào. Nó đặt ra các nguyên tắc đạo đức giúp các Giám đốc và
nhân viên hiểu và tôn trọng những nguyên tắc này. Văn hóa của KPMG bắt nguồ
KPMG
Anh,
Nga,…
KPMG
Iceland,
Israel,…
KPMG
Trung
Quốc
KPMG
Việt
Nam,…
KPMG
Braxin
KPMG
Angola,
Zimbabwe,
KPMG
Hàn Quốc
6
CHƯƠNG II: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ
1.1. Môi trường chung
Môi trường kinh doanh quốc tế bao gồm môi trường kinh tế, môi trường chính
trị, pháp luật, môi trường văn hóa.
KPMG international là một công ty đa quốc gia, môi trường kinh doanh quốc
tế chính là môi trường kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, nơi mà công ty có các
công ty thành viên hoạt động.
1.1.1 Môi trường kinh tế
Dương đến từ Khu vực đồng euro. Nếu như nỗ lực bình ổn kinh tế của các
chính phủ khu vực đồng euro thất bại thì khu vực này có thể bước vào khủng
hoảng kinh tế ngày càng leo thang. Bất cứ một biến động nào như thế cũng có
nguy cơ làm bùng phát suy thoái trên phạm vi toàn cầu với các cú sốc trầm
trọng lan đến châu Á.
7
- Tình trạng mất cân đối và dễ bị tổn thương của kinh tế Trung Quốc đã tăng
lên trong hai năm qua.
Với những gì đã đạt được trong năm qua, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định
rằng châu Á -Thái Bình Dương sẽ không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động thương
mại sôi động nhất thế giới trong năm 2012 mà còn là điểm tựa cho tăng trưởng
kinh tế toàn cầu.
Khu v
ực Châu Mỹ
Nền kinh tế Châu Mỹ, nổi bật nhất là Mỹ đứng đầu nền kinh tế thế giới; tuy
nền kinh tế giữa các quốc gia chênh lệch khá lớn nhưng Châu Mỹ đóng góp đến
gần một nửa tổng GDP toàn thế giới, về điều kiện sống, Châu Mỹ là lục địa có
mức sống cao nhất trên thế giới. Trong đó, sự ảnh hưởng củ
a nền kinh tế Mỹ cũng
bao phủ kinh tế toàn khu vực. hiện nay thực trạng kinh tế Mỹ đang rất khó khăn và
triển vọng tăng trưởng kinh tế vẫn rất mờ mịt.
Hai năm sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, kinh tế Mỹ hiện nay
tuy có thể được coi là thoát khỏi khủng hoảng nhưng mức tăng trưởng chưa ổn
định. Những dấu hiệu đều cho thấy b
ức tranh về kinh tế khó khăn ở thời điểm hiện
tại và cả trong thời gian tới. Giá dầu tăng, thâm hụt ngân sách liên bang, nợ công
khổng lồ, nguy cơ chính phủ không có tiền chi tiêu đến mức phải đóng cửa nếu
như không nâng mức giới hạn vay nợ của chính phủ, thất nghiệp cao… tất cả
những nhân tố này góp phần kìm hãm sự phục hồi và tăng trưởng của nề
- Về ngoại thương năm 2011 Châu Âu - thị trường và đối tác buôn bán lớn nhất
của các nước Châu Phi chiếm tới trên 60% xuất khẩu - lại lâm vào khủng
hoảng nợ công. ngành chế tạo của Châu Phi phụ thuộc trên 30% vào thị
trường EU, vì vậy dự kiến xuất khẩu năm 2012 sẽ giảm sút.
- Nợ nước ngoài của Châu Phi năm qua cũng tăng lên đáng kể, như nợ
nước
ngoài của các nước ở nam xa mạc Sahara hiện tới 231 tỉ USD trong khi viện
trợ nước ngoài chỉ có 10 tỉ USD. Đây cũng là nhân tố kìm hãm kinh tế tăng
trưởng năm 2012 tới.
Châu Âu
Giống như tất cả các lục địa khác, nền kinh tế Châu Âu là một nền kinh tế
không đồng đều giữa các quốc gia và các khu vực, nhưng tính theo GDP và điều
kiện sống thì Châu Âu vẫn là lục địa có mức số
ng cao trên thế giới.
Năm 2011, là năm khu vực Châu Âu lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính và
nợ công. Hy Lạp là hình ảnh thu nhỏ của cuộc khủng hoảng nợ công kéo dài suốt
hai năm nay. Cuộc khủng hoảng khởi nguồn từ Hy Lạp, sau đó lan sang Ireland
trước khi tràn tới Bồ Đào Nha, rồi đe dọa Tây Ban Nha, Italy và thậm chí cả Pháp.
Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công nghiêm trọng, các nước bị ảnh hưởng
bở
i khủng hoảng nợ công đã phải nhờ tới cứu trợ từ bên ngoài; đồng thời áp dụng
các biện pháp "thắt lưng buộc bụng" đầy khắc khổ. Các nhà lãnh đạo EU đã cố
gắng làm những gì có thể để đưa Eurozone thoát khỏi vực thẳm từ việc mở rộng
quy mô và quyền hạn cho Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF) nhằm dựng "bức
tường lửa" ngăn chặn bệnh n
ợ công lan rộng cho tới việc Ngân hàng Trung ương
châu Âu (ECB) bất ngờ mua trái phiếu chính phủ của những nước gặp khó khăn về
tài chính. Tuy nhiên, nỗ lực cứu trợ của quốc tế cũng chưa đủ sức dập tắt nguy cơ
khủng hoảng nợ công biến thành khủng hoảng xã hội và thể chế trong khu vực.
Khu vực Trung Đông
nhiều tổ chức xếp hạng tín dụng sẽ tiếp tục hạ bậc tín nhiệm của Mỹ.
Sự bất hợp tác của Đảng Cộng hòa trong lưỡng viện lập pháp mà trong đó
Đảng Cộng hòa lại kiểm soát Hạ viện càng khiến giới kinh tế và kinh doanh cũng
như đối tác bên ngoài và người dân trong nước thêm bi quan về sự phục hồi kinh tế
Trung Đông và Bắc Phi: phong trào Mùa xuân Ả Rập có thể cản trở việc sản
xuất dầu mỏ
Không thể phủ nhân những tác động to lớn của những sự kiện tại Ai Cập và
Syria. Thị trường tập trung nhiều hơn vào nhữ
ng yếu tố như sản lượng cũng như
giá dầu. Tuy nhiên những lo ngại gần đây về tình hình tại Israel/ Iran sau khi Mỹ
rút quan khỏi Iraq cũng là những đe dọa đối với tình hình sản xuất dầu.
Kinh tế Trung Quốc đang trong nguy cơ tụt dốc
Từ tháng 10/2012 đến tháng 3/2013, đảng cộng sản Trung Quốc sẽ chuyển giao
quyền lực cho thế hệ lãnh đạo thứ 5. Giai đoạn quan tr
ọng này có thể ảnh hưởng
đến tình hình phát triển kinh tế của Trung Quố nhưng các nhà lãnh đạo nước này sẽ
nỗ lực hết sức để duy trì và phát triển nền kinh tế lớn này.
Hàn Quốc đối mặt với tình hình chính trị căng thẳng với Triều Tiên trong khi
cuộc bầu cử đang tiến gần
Khủng bố Pakistan có thể sẽ tấn công Ấn Độ
10
Putin trở thành tổng thống có thể là kết quả của cuộc bầu cử tại Nga tới đây
Chính sách kinh tế tại Nga sẽ có những thay đổi trong trường hợp Putin ông lại
trở thành tổng thống vào tháng 4/2012.
Thái Lan có thể đối mặt với cuộc chiến tranh giai cấp
Cuộc tổng tuyển cử tại Malaysia có thể gây ra một sự xáo trộn chính trị
Nhìn chung, tình hình chính trị trên thế giới đã có rất nhiề
u biến cố xảy ra theo
hướng tiêu cực và dự kiến năm 2012 rủi ro chính trị có thể tiếp tục xảy ra và ảnh
Nếu như ở Đức và Pháp ưu tiên giao tiếp bằng văn bản thì ở Argentina và
Brazil lại lựa chọn giao tiếp bằng lời nói. Pháp đặt tầm quan trọng củ
a truyền
thông thông qua việc sử dụng đúng ngữ pháp, trong khi Đức lại hy vọng các thông
tin liên lạc kinh doanh được chính xác. Sự hài hước thường được sử dụng trong
giao tiếp văn phòng ở Mỹ và Australia, không giống như Đức, Nhật Bản và Trung
11
Quốc. Quá khiêm tốn không phải là cách làm được đánh giá cao tại Mỹ nhưng điều
này lại trái ngược đối với các nước Châu Âu. Họ yêu sự khiêm tốn và đề cao
những DN “biết mình biết ta”, không khoa trương thanh thế và tự mãn với bản
thân. Nếu muốn thành công ở Anh thì giao tiếp là chìa khóa giúp bạn đưa DN lên
đỉnh cao.
Thâm niên, nhân tài và việc ra quyết định
Các nước Châu Á luôn đề cao thâm niên của doanh nghiệp trong khi Mỹ, Úc
và Đức lại đề cao những doanh nghiệ
p trưng dụng được nhiều nhân tài. Tại Pháp,
một sự kết hợp giữa thâm niên và nhân tài là sự lựa chọn hàng đầu. Việc ra quyết
định đối với các nước ở Nam Mỹ không phụ thuộc hoàn toàn vào người chủ trì cấp
cao mà thuộc về một tổ chức, một hội đồng thẩm định.
Quà tặng và ủng hộ cá nhân
Quà tặng và việc ủng hộ cá nhân là phổ biến ở các nướ
c Châu Âu và Nam Mỹ
nhưng lại khó vận dụng ở Mỹ - nơi có những nguyên tắc nghiêm ngặt về trao đổi
trong một tổ chức. Bởi lẽ, người Mỹ cảm thấy rằng quà tặng và ủng hộ cá nhân sẽ
ảnh hưởng đến sự công bằng của mỗi quyết đinh. Điều này sẽ tạo ra sự bất công,
sự khuất tất và đôi khi là dẫn đến cả
những sai lầm.
Hiểu biết về sự khác biệt văn hóa giữa các quốc gia và thực thi theo chính sách
“ở đâu âu đấy” sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh chóng với môi trường mới
1.2.2. Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ
hoạt động kinh doanh của ngành, có thể gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả,
chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh
trong ngành thông qua quy
ết định mua hàng.
Với các công ty thành viên ở 152 quốc gia, KPMG hợp tác với khách hàng
thuộc nhiều khu vực khác nhau như công ty, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức
phi lợi nhuận. Rất nhiều trong số khách hàng này có hoạt động xuyên quốc gia,
KPMG giúp khách hàng vượt qua những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa và đáp
ứng được với các hệ thống pháp lý và hệ thống quản trị nhà nước mà họ chưa biết
đến.
1.2.3. Áp lực cạnh tranh từ đối th
ủ tiềm ẩn
Theo tình hình kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều DN lâm vào tình trạng khó
khăn và cần tới dịch vụ tư vấn của các chuyên gia đầu ngành. Như vậy, nhu cầu
đối với ngành ngày càng tăng cao, mặc dù rào cản gia nhập ngành là cao vì nguồn
lực quan trọng của ngành là nhân lực - người với bề dày kinh nghiệm, kiến thức
sâu rộng trong lĩnh vực chuyên môn kiểm toán, thuế và tư vấn cho các doanh
nghiệp, bên cạnh
đó là công nghệ hiện đại để có thể bảo mật thông tin tuyệt đối
cho khách hàng, xử lý số liệu chính xác, nhanh chóng và đồng bộ theo từng tiêu
chuẩn riêng ở từng quốc gia và từng ngành, lĩnh vực cụ thể; như vậy sẽ có nhiều
doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập vào thị trường của ngành dịch vụ kiểm toán, thuế
và tư vấn.
1.2.4. Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Dịch vụ kiểm toán, thuế và tư vấn là những sản phẩm đặc thù không có sản
phẩm thay thế. Vì vậy không có áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
1.2.5. Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành cạnh tranh trực tiếp với nhau
Cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong lĩnh vực kế toán, thuế, và tư vấn hiện
nay nổi trội là sự cạnh tranh chủ yếu của bốn công ty trong nhóm Big 4 trên thị
trường quốc tế.
Trong số bốn công ty, mỗi công ty lại có những th
ế mạnh nổi trội trong các
ngành, lĩnh vực. Ví dụ như PwC thống trị trong việc kiểm toán những công ty
thuộc ngành dầu khí và than đá, trong khi KPMG lại có thế mạnh trong việc kiểm
toán cho các công ty thuộc lĩnh vực tài chính.
Sau một thời gian tăng trưởng doanh thu vượt bậc liên tục từ đầu những năm
2000 đến năm 2008, tổng doanh thu quy đổi ra USD của Các hãng Big 4 năm 2009
giảm 7% so với năm 2008. Doanh thu quy đổi ra USD của Deloitte giảm 5%, củ
a
Ernst & Young và PricewaterhouseCoopers giảm 7% và của KPMG giảm tới 11%.
Từ năm 2010 tình hình đã được cải thiện, tới năm 2011, tổng doanh thu quy đổi ra
USD của Các hãng Big 4 đạt 103.6 tỷ USD, tăng 9.05%% so với 95.1 tỷ USD đạt
được năm 2010. Doanh thu quy đổi ra USD tăng 8.02% đối với Ernst & Young,
tăng 8.27% đối với Deloitte, tăng 9.774% đối với PwC, và 10.08% đối với KPMG,
hãng có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhất. Hai năm liên tiếp KPMG luôn giữ
tốc độ tăng trưở
ng doanh thu cao nhất trong nhóm Big4.
14
Bảng 1: Doanh thu toàn cầu của nhóm Big 4 từ năm 2007 đến 2011
Đơn vị tính: US $ Billion
Năm 2007 2008 2009 2010 2011
PwC 25.1 28.2 26.2 26.6 29.2
Deloitte 23.1 27.4 26.1 26.6 28.8
E&Y 21.1 23.0 21.4 21.2 22.9
KPMG 19.8 22.7 20.1 20.63 22.71
Tổng doanh thu 89.1 101.3 93.8 95.1 103.6
Assurance 14,140 6.5
Tax 4,69 13 2,3 15.1 7,62 8
advisory 7,54 14.8 5,6 5.2% 7,45 20
KPMG có bất lợi khi là công ty có doanh thu, quy mô nhỏ nhất trong nhóm Big
4 mặc dù khoảng cách này chưa nhiều. Điều này cũng tạo đôi chút bất lợi cho công
ty trong việc cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Doanh thu của KPMG giảm nhiều nhất từ 2008 đến 2009 và đạt mức tăng
trưởng cao nhất từ năm 2010 đến 2011. Với mức doanh thu 22.71 tỉ
USD cho năm tài chính kết thúc vào 30/9/2011, so với 20,63 tỉ USD trong năm
trước, KPMG tăng trưởng 10.08% theo
đồng đô la Mỹ, tăng 6.2% theo tiền địa
phương. Trong số các khu vực địa lý thì Châu Á Thái Bình Dương vẫn là khu vực
phát triển mạnh mẽ nhất của KPMG với mức tăng trưởng 16.6%, tiếp đến là khu
vực châu Mỹ tăng trưởng 10.7% theo đồng đô la Mỹ, cuối cùng là khu vực châu
15
Âu, Trung đông, châu Phi tăng trưởng 7.7% theo đồng đô la Mỹ, chiến lược công
ty tại khu vực này là vươn tới những thị trường tiềm năng và đang phát triển.
CHƯƠNG III: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ
Hình 2: Mô hình tổ chức KPMG những năm đầu
Bắt đầu từ 1989 khi công ty chia thị trường theo khu vực địa lý riêng biệt để
các họat động chiến lược phát triển công ty dễ dàng triển khai hơn và sau này chia
thành 3 khu vực chính thì mô hình cấu trúc vốn chỉ có công ty đơn lẻ kết hợp thêm
dạng mô hình phụ trách khu vực địa lý (xem Hình 1). Mô hình bộ phận phụ trách
khu vực địa lý dành quyền quản lý phân cấp cho các công ty ở từng nước điều
chỉnh thích nghi hơn với các điề
u kiện của thị trường địa phương.
1.2 Lý do lựa chọn chiến lược
Với chiến lược đa quốc gia, doanh nghiệp sẽ phải chịu áp lực giảm chi phí thấp
và áp lực về tính thích nghi với địa phương cao. Vì vậy chiến lược mà doanh
nghiệp lựa chọn thường là dựa vào các công ty con ở nước ngoài hoạt động trên cơ
sở độc lập nhằm địa phương hóa sản phẩ
m. Những công ty thực hiện chiến lược đa
quốc gia thường phân cấp nhiều cho các công ty con ở mỗi nước, trụ sở chính của
công ty cho phép các công ty con được quyền đưa ra những quyết định quản trị sao
cho đạt được mục tiêu của công ty. Các công ty theo mô hình này coi trọng các
nhân sự quản trị có kinh nghiệm, gần gũi với thị trường cả về mặt triết lý, văn hóa
và vật chất.
Trong một môi trườ
ng toàn cầu hóa, các hoạt động tài chính, thuế của các
doanh nghiệp, tổ chức tại các quốc gia khác nhau vừa hướng đến các tiêu chuẩn,
quy định quốc tế, lại vừa phải tuân theo những chính sách, luật lệ, quy định của
chính phủ, bộ, ban ngành tại các quốc gia đó. Do đó đối với các công ty kiểm toán,
thuế, tư vấn hoạt động trong môi trường quốc tế, chiến lược đa quốc gia sẽ là sự
lựa chọn phù hợp nhất.
Trên cơ sở đó, KPMG đã xây dựng một mạng lưới các công ty hoạt động độc
lập tại từng quốc gia, được thiết kế để phù hợp với môi trường luật pháp, tài chính
tại quốc gia đó. Các công ty này mang chung thương hiệu KPMG.
ra thị trường quốc tế, hoạt động của công ty luôn được tập trung vào ba lĩnh vực
thế mạnh này của công ty. Điều này giúp cho nguồn lực của công ty được tập
trung, không bị phân tán, công ty có một hướng đi và chiến lược xuyên suốt, nhất
quán. Trong báo cáo năm 2011, tỷ trọng các lĩnh vực này trong hoạt độ
ng của
KPMG như sau:
Hình 3: Tỷ trọng các lĩnh vực hoạt động của KPMG năm 2011
(Đơn vị tính: US $ Billion)
18
10.48
4.69
7.54
Kiểm toán Thuế Tư vấnKhi được phân chia theo ngành thì thế mạnh lớn nhất của công ty tập trung ở
các ngành tài chính và công nghiệp. Tuy nhiên, công ty cũng đang hướng đến các
thị trường mới. Trong những năm gần đây, doanh thu từ việc kiểm toán, tư vấn cho
các dự án y tế, cơ sở hạ tầng và chính phủ đang được tăng lên mạnh mẽ và ngày
càng chiếm tỷ trọng cao
Hình 4: Doanh thu hoạt động tư vấn kiểm toán tại các ngành 2009 và 2010
2.2 Phương thức thâm nhập thị trường quốc tế của KPMG
Phương thức thâm nhập thị trường quốc tế của KPMG là mua lại và sáp nhập
với các công ty kiểm toán của các quốc gia khác trên thế giới. Chính nhờ chiến
lược này mà KPMG đã không ngừng lớn mạnh và đạt được những thành quả rực
rỡ sau này. Điển hình là cuộc đại sát nhập năm 1987, công ty KMG và Peat
Marwick chính thức bắt tay nhau để liên kết tr
ở thành một công ty duy nhất
Với môi trường toàn cầu hóa hiện nay, các hoạt động tài chính, thuế của các
doanh nghiệp, tổ chức tại các quốc gia khác nhau vừa hướng đế
n các tiêu chuẩn,
quy định quốc tế, lại vừa phải tuân theo những chính sách, luật lệ, quy định của
chính phủ, bộ, ban ngành tại các quốc gia đó. Do đó đối với KPMG – một công ty
kiểm toán, thuế, tư vấn hoạt động trong môi trường quốc tế, chiến lược đa quốc gia
là sự lựa chọn phù hợp nhất.
KPMG thực hiện chiến lược bằng cách dựa vào các công ty con ở nước ngoài
ho
ạt động trên cơ sở độc lập nhằm địa phương hóa sản phẩm và quy trình tại thị
trường nước ngoài. KPMG phân cấp nhiều cho các công ty con ở mỗi nước, trụ sở
chính của công ty cho phép các công ty con được quyền đưa ra những quyết định
quản trị sao cho đạt được mục tiêu của công ty.
KPMG đã xây dựng một mạng lưới toàn cầu bao gồm các công ty thành viên
chuyên cung cấp các dịch vụ Kiểm toán, một lĩnh v
ực phải tuân theo những chính
sách, quy định khác nhau của từng quốc gia và cũng là một lĩnh vực tương đối
nhạy cảm với nhiều biến động. Các công ty này hoạt động độc lập tại từng quốc
gia, được thiết kế để phù hợp với môi trường luật pháp, tài chính tại quốc gia đó,
cùng sở hữu chung thương hiệu KPMG. Với chiến lược đa quốc gia, các đơn vị
này có th
ể chủ động trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng nhu cầu đặc thù ở từng
quốc gia, cũng như phản ứng nhanh chóng trước những thay đổi trên thị trường.
1.2. Chiến lược phù hợp với yêu cầu của thị trường mục tiêu
Ngành nghề kinh doanh cốt lõi của KPMG bao gồm ba lĩnh vực chính: Kiểm
toán (Audit), Thuế (Tax) và Tư vấn (Advisory). Việc mở rộng ra thị trường quốc tế
sẽ có nhi
ều lĩnh vực mới nhưng hoạt động của công ty luôn được tập trung vào ba
lĩnh vực thế mạnh của mình. Điều này giúp cho nguồn lực của công ty được tập
trung, không bị phân tán, công ty có một hướng đi và chiến lược xuyên suốt, nhất
nhập thị trường của KPMG là dựa trên những giá trị cốt lõi của công ty, dựa vào
nguồn lực của công ty là hoàn toàn phù hợp. Điều đó thể hiện s
ự nhất quán trong
việc thực hiện chiến lược của KPMG. Bởi vì xu hướng trên thị trường kiểm toán
quốc tế trong suốt thế kỷ qua là xu hướng mở rộng ra thị trường quốc tế và tăng
cường sáp nhập, mở rộng quy mô để tạo ra ưu thế cạnh tranh trên thị trường kiểm
toán và tư vấn. Những công ty với quy mô nhỏ sẽ không đủ năng lực, uy tín, độ tin
c
ậy, độc lập để có thể kiểm toán cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn. Hiện nay, với
uy tín và kinh nghiệm của mình, KPMG đã tạo ra được sự tin cậy của các khách
hàng tại các quốc gia khác nhau.
1.3.1 Dựa vào uy tín, năng lực của mình để phát triển
KPMG có lợi thế là một công ty lớn, lâu đời, có uy tín trong lĩnh vực kiểm
toán, tư vấn, có kinh nghiệm làm việc cho nhiều dự án, công ty, tổ chức tại các
quốc gia khác nhau. Do vậy, cách thứ
c thâm nhập thị trường của công ty là dựa
trên những giá trị cốt lõi của công ty, KPMG đã tận dụng tối đa ưu thế của mình
qua đường cong kinh nghiệm để có thể giảm thiểu chi phí, tăng cường sức cạnh
22
tranh so với các công ty kiểm toán khác. Lợi ích của đường cong kinh nghiệm có
được là nhờ vào hiệu quả kinh tế nhờ quy mô (economies of scale) và lợi ích của
học hỏi thông qua càng làm càng giỏi (learning by doing effect). Đây là một lợi thế
rất lớn mà các công ty khác hoạt động trong cùng lĩnh vực rất khó có thể cạnh
tranh được. Với uy tín và kinh nghiệm của mình, công ty đã tạo ra được sự tin cậy
của các khách hàng tại các quốc gia khác nhau.
1.3.2 Dựa vào nguồn nhân lực hiệu quả cao
KPMG v
ới lợi thế là một công ty kiểm toán, tư vấn lâu đời, có đội ngũ nhân
viên giàu năng lực, có kiến thức chuyên ngành sâu, rộng, được đào tạo bài bản lại
nhu cầu này, KPMG đã tìm đến và đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp ở
các nước sở tại. Với ưu thế cạnh tranh về mức độ chuyên nghiệp, văn hóa doanh
nghiệp và danh tiếng của mình KPMG có thể dễ dàng thành công ở nhiều quốc gia,
trong đó có Việt Nam.
23
1.4. Đánh giá chung về chiến lược kinh doanh quốc tế của KPMG
Chiến lược kinh doanh quốc tế của KPMG giúp KPMG đạt được thành công
như ngày hôm nay, là nhờ công ty đã thực hiện nỗ lực để thống nhất các hoạt động
của mình để tạo thành một hoạt động tập trung hơn và cũng cố gắng để thúc đẩy
công nhận thương hiệu. KPMG Peat Marwick khởi xướng một chiến dịch xây
dự
ng thương hiệu toàn cầu 60 nghìn USD. Chiến dịch bao gồm truyền hình, radio,
và các quảng cáo in ấn, thông qua dòng tag. Chiến dịch quảng cáo thương hiệu đã
nhấn mạnh sự khác biệt KPMG trong lĩnh vực tư vấn tại đấu trường ngày càng lớn
và cũng đã nói lên chiến lược kinh doanh của KPMG. Để nâng cao hơn nữa thương
hiệu của mình, KPMG Peat Marwick rút ngắn tên của nó thành KPMG LLP vào
cuối năm 1998.
Trong cuối những năm 1990 KPMG đã thêm vào nhữ
ng hành động tăng cường
và thống nhất kinh doanh cốt lõi vào kiểm toán, thuế, và các dịch vụ tư vấn. Vào
tháng Tám năm 1998, cánh tay phải của công ty tại Mỹ công bố kế hoạch bán công
ty tư vấn bồi thường của mình cho công ty tư vấn nguồn nhân lực William M.
Mercer, Inc. Trong tháng 3 năm 1999 KPMG cơ cấu lại hoạt động của mình tạo ra
các khu vực hoạt động toàn cầu. Một nhóm mới với tên gọi KPMG ‘Amercas’ bao
gồm 19 công ty thành viên ở Mexico, M
ỹ Latin, vùng Caribbean, Úc, và New
Zealand. Các đối tác này kết hợp hoạt động với các công tại Mỹ của KPMG
LLP. Nhóm 'EMA’ bao phủ châu Âu, Trung Đông và Châu Phi và bao gồm các
công ty thành viên ở các nước như Pháp, Hà Lan, Đức và Anh. KPMG cũng đã có
ty mở rộng dịch vụ kinh doanh tư vấn của mình bằng cách mua lại Softline
Consulting & Integrators, Inc, một công ty có trụ sở tại San Jose, California.
KPMG cũng thêm nhiểu đối tác mới những mua lại từ PricewaterhouseCoopers, tại
Đài Loan, Israel, Indonesia, và Philippines. Tại Hoa Kỳ, KPMG tách doanh nghiệp
tư vấn từ các ho
ạt động kế toán và kế hoạch bán cổ phần trong công ty, nếu được
sự chấp thuận của Ủy ban Giao dịch & Chứng khoán Hoa Kỳ. Tháng 8 năm 1999
Cisco Systems Inc đồng ý mua 20% cổ phần trong kinh doanh tư vấn khoảng 1 tỷ
USD. KPMG có ý định sử dụng các quỹ để tiếp tục đầu tư vào mở rộng dịch vụ
Internet. David Crawford, chủ tịch KPMG Úc, nhận xét về thỏa thuận này trong
The Age, ghi nhận, “Đây là một phát triển rất đáng kể. Nó đặt KPMG đứng đầu
về phát triển thương mại điện tử và khai thác Internet”. Tháng 1 năm 2000 KPMG
Consulting, LLC được thành lập. Các doanh nghiệp mới bao gồm các công ty hoạt
động tư vấn của KPMG tại Hoa Kỳ và Mexico. KPMG trông đợi sẽ có thêm các
công ty trong khu vực châu Á, Canada, và Mỹ Latinh gia nhập vào năm đó.
2.Vài nét về ngành kiểm toán, thuế, tư v
ấn tại Việt Nam
9 Nhu cầu đối với ngành
- Hiện nay cả nước có trên 500 nghìn doanh nghiệp và có nhiều nhà đầu tư
nước ngoài đang có ý định đầu tư vào Việt Nam.
- Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán ở Việt Nam cũng đang đặt ra yêu cầu
về tính minh bạch, công khai về các thông tin tài chính của các Công ty.
- Các doanh nghiệp, đặc biệt là ngân hàng thiếu nguyên tắc chặt chẽ trong
quản lý rủ
i ro;
9 Thực trạng Công ty kiểm toán Việt Nam
- Một số công ty kiểm toán như: Vinashin, FPT, SCIC,… Các Công ty kiểm
toán quy mô còn nhỏ, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng.
- Thiếu kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp.