ĐẠI CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM - Pdf 26

ĐẠI CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với một nước nông nghiệp, vấn đề ruộng đất bao giờ cũng có ý nghĩa
hàng đầu. Từ thời xa xưa, khi con người phát minh ra nghề nông trồng lúa, họ
cũng tìm được nguồn lương thực chính nuôi sống họ và làm cơ sở cho sự phát
triển xã hội. Nói đến nghề nông trồng lúa, tức là nói đến ruộng đất. Vì vậy, quản
lý và không ngừng mở rộng ruộng đất là những vấn đề sống còn của con người.
Nhưng quản lý như thế nào, mở rộng như thế nào, tùy thuộc những quan hệ xã
hội đương thời chi phối.
Nước Việt Nam vốn có những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho sự
phát triển của nghề nông trồng lúa. Vùng đồng bằng châu thổ các con sông lớn
có diện tích rộng (đồng bằng Bắc Bộ rộng 15.000km
2
, đồng bằng Nam Bộ rộng
22.000km
2
…), đất đai mầu mỡ, khí hậu phù hợp… thực sự là những tặng phẩm
quý giá của thiên nhiên, làm nền cho sự hình thành của đất nước Việt Nam ngày
nay. Khai thác và bảo vệ tài sản quý giá đó, từ xa xưa đã trở thành vấn đề sống
còn của người Việt Nam chúng ta.
Nói đến “khai thác” tức là nói đến sự thuần hóa đất dai, biến nó thành
ruộng đồng, vườn tược. Còn nói đến “bảo vệ” tức là nói đến vấn đề “làm chủ”.
Ai làm chủ tài sản quý giá đó và làm như thế nào? Đây là một vấn đề lớn không
chỉ liên quan đến quốc gia, đến dân tộc, mà còn liên quan đến giai cấp, đến chế
độ xã hội; không phải đặt ra một lần cho mãi mãi về sau mà được thay đổi qua
các thời kỳ lịch sử. Lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ rằng để đi đến luận điểm
“người cày có ruộng” trong chính cương của Đảng Cộng sản Việt Nam, phải có
một nhận thức sâu sắc và chính xác về diễn biến của chế độ ruộng đất ở nước ta
qua mấy ngàn năm.
Hiểu được chế độ ruộng đất ở nước ta trong lịch sử tức là hiểu được cách
quản lý, phân tích, sử dụng và bảo vệ ruộng đất của tổ tiên, điều thực sự đối với

hưởng thụ. Người được chia ruộng chỉ có quyền sử dụng. Ruộng đất vẫn là của
làng. Tất nhiên, được chia ruộng thì phải có nghĩa vụ đối với làng: làm thủy lợi,
chống ngập lụt, cứu giúp nhau khi có thiên tai, mất mùa, đóng góp phục vụ các
việc cần chung v.v…
Tuy nhiên, khi nhà nước và quốc gia (Văn Lang - Âu lạc) tồn tại thì cũng
hình thành một quan niệm nhất định về lãnh thổ quốc gia do nhà nước quản lý
chung, về những công việc chung do Nhà nước điều hành. Đó là cơ sở của cái
3
gọi là sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà nước, đứng đầu là Vua Hùng hay Vua
Thục. Đương thời quan niệm này chưa được xác định.
Tóm lại, ở thời Hùng Vương - An Dương Vương, chế độ sở hữu ruộng đất
đầu tiên hình thành là sở hữu tập thể làng. Tương ứng với nó là sự tồn tại của
hình thức sử dụng ruộng đất theo hồ, bình đẳng và có điều kiện.
2. Thời Bắc thuộc
Hơn 1000 năm Bắc thuộc đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong chế độ
ruộng đất của người Việt.
Làng xã với chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất của nó được duy trì.
Nhưng giờ đây, bên trên nó là một chính quyền đã thành thục, có nhiều kinh
nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất. Quyền sở hữu làng, chạ chịu sự khống chế
của chính quyền đô hộ. Nhiều viên quan đô hộ (như Sĩ Nhiếp, Chu Phù, Đào
Khản, Đỗ Tuệ Độ, Khâu Hòa, Đựng Hữu v.v…) đã cướp đất của người Việt xây
dựng trang trại, bắt nô tỳ người Việt cày cấy. Các triều đại phương Bắc cũng du
nhập chế độ ban cấp ruộng đất của Trung Quốc vào nước ta. Hình thành một số
điền trang lớn của các viên quan đô hộ.
Đồng thời, hàng vạn người Hán được phép di cư sang nước ta cũng họp
nhau khai phá đất hoang, xây dựng xóm làng và phân phối ruộng đất theo quan
niệm riêng của mình.
Tình hình nói trên đã ảnh hưởng đến chế độ ruộng đất ở nước ta, đặc biệt
là ở các vùng gần trung tâm của chính quyền đô hộ. Một số quan lang trở thành
người giàu có, nhiều thóc lúa, ruộng đất. Sử cũ cho biết Phùng Hưng (lãnh tụ

3-4 mẫu nộp 2 quan tiền
5 mẫu trở lên nộp 3 quan tiền.
Thuế ruộng thống nhất 100 thang mẫu (khoảng 160kg).
- Trong quá trình phát triển của nhà nước, giai cấp thống trị đã chiếm một
số ruộng đất, đạt thành các loại khác nhau.
- Ruộng tịch điền: ruộng nghi lễ nhằm khoa học kỹ thuật nhân dân sản
xuất và lấy thu hoạch phục vụ các ngày lễ, tết. Loại ruộng này đã có từ thời Lê.
5
- Ruộng sơn lăng: ruộng phục vụ việc xây dựng, sửa chữa và bảo vệ các
lăng miếu các vua.
- Ruộng quốc khố: ruộng thuộc sở hữu trực tiếp của nhà vua, thu hoạch
phục vụ việc chi dùng của dòng họ thống trị.
- Ruộng đồn điền: ruộng đất do khai hoang của nhà nước mà có. Địa tô
thu được, nộp vào kho công.
Ngoài ra, nhà nước có thể dành một số ruộng (do khai hoang) để ban cấp
cho những người có công hay cho người thân cận.
Nhìn chung: bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu trực tiếp của nhà nước
không nhiều.
b) Ruộng đất công làng xã:
Dưới thời Lý - Trần, ruộng đất công làng xã còn giữ một vị trí rất quan
trọng trong đời sống của nhân dân và nhà nước. Nó vẫn thuộc quyền sở hữu của
làng xã. Hàng năm, làng xã chịu trách nhiệm thu thuế theo diện tích ruộng đất đã
báo cáo và nộp lên cấp trên. Việc phân chia ruộng đất công do làng xã tiến hành
theo tục lệ. Tuy nhiên, để duy trì bộ máy quan lại, ngoài việc chi cấp một số
tiền, thóc ít ỏi, nhà Lý cũng như nhà Trần đã thực hiện một số hình thức phòng
hộ:
Thực ấp (hay thực hội): thường ban cho quan lại, gồm một số hộ nhất
định theo chức tước để viên quan lại đó thu thuế chi dùng riêng. Các hộ được
ban đều là hộ nông dân được chia ruộng công.
Thái ấp: một khu vực gồm một hay 2, 3 làng, ban cho một quý tộc có dự

ở thời Trần, chủ yếu trong bộ phận quý tộc. Điền trang ra đời trên cơ sở khai
hoang, thường là một vùng đất rộng từ 100 - 300 mẫu. Sử cũ chép: năm 1266,
vua Trần cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã được mộ dân phiêu tán
làm nô tỳ đi khai hoang lập làm tư trang. Như vậy, khác với ruộng đất của địa
chủ (chủ yếu phát canh thu tô), điền trang quý tộc thường do nông no cày cấy,
gặt hái. Tuy nhiên, sản xuất ở điền trang thời Trần vẫn là sản xuất nhỏ của các
hộ nông nô.
7
Một hình thức sở hữu ruộng đất khác, mang tính tư hữu là ruộng đất nhà
chùa. Bấy giờ các nhà chủa lớn như chùa Quỳnh lâm, chùa Keo, chùa Phật Tích
v.v… đều là các chủ ruộng lớn. Diện tích ruộng đất thuộc sở hữu của các chùa
đó len đến 2 - 3000 mẫu. Ruộng chùa cũng do nông nô cày cấy.
Tóm lại, ở thời Lý - Trần, các hình thức sở hữu và chiếm hữu khác nhau,
từ sở hữu làng xã cổ truỳn cho đến chế độ tư hữu điền trang đều tồn tại và phát
triển cùng với sự tồn tại của các hình thức quan hệ sản xuất khác nhau.
II. CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT Ở THẾ KỶ XV-XVIII
1. Sự biến chuyển của tình hình xã hội
Từ giữa thế kỷ XIV, chế độ sở hữu lớn, tư nhân ngày càng phát triển. Mất
mùa, đói kém xảy ra liên tiếp. Nhân dân cùng khổ, nhiều người phải bán mình,
bán con làm nô tỳ cho các thế gia. Nông dân nhiều nơi nổi dậy, giương cao khẩu
hiệu “chẩn cứu dân nghèo”. Trước tình hình đó, tể tướng nhà Trần là Hồ Quý Ly
đã thực hiện một cuộc cải cách về chế độ ruộng đất: hạn điền và Hạn nô.
Hàng loạt điền trang bị xóa bỏ. Hàng loạt địa chủ lớn bị xén bớt ruộng
đất. Số lượng nô tỳ giảm xuống. Tuy nhiên, cuộc cải cachs của Hồ Quý Ly chưa
kịp phát huy tác dụng thì Đại Việt bị quân Minh xâm chiếm và đô hộ. Một lần
nữa, chế độ ruộng đất ở nước ta bị xáo trộn.
Bằng cuộc chiến đấu hàng chục năm trời, năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn
cùng nhân dân ta mới đánh đuổi được quân xâm lược, giải phóng Tổ quốc. Lãnh
tụ tối cao của nghĩa quân là Lê Lợi lên làm vua, thành lập nhà Lê (năm 1428).
2. Chế độ ruộng đất ở thế kỷ XV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status