Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1
ĐỀ TÀI:
Vai trò của thuế và Các biện pháp phát huy
được những tác động tích cực của thuế đối
với hoạt động kinh tế - xã hội I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
1. Nguồn gốc của thuế
Cho tới nay, chưa xác định rõ ràng vùng lãnh thổ nào trên trái đất khai sinh ra thuế, song
một điều không thể phủ nhận là Thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Thời nguyên thủy, con người liên kết với nhau một cách tự phát để chung sống. Sản phẩm
do mỗi cá nhân làm ra chỉ vừa đủ thậm chí còn thiếu so với nhu cầu tối thiểu của con người.
Trong quá trình sống và lao động, con người đã tích lũy được kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao
động, một số người đã bắt đầu tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết cho cuộc sống bình
nước. Cơ sở quan trọng khác cho sự ra đời của thuế là thu nhập. Nếu của cải làm ra chỉ
đủ nuôi sống bản thân người lao động thì không có gì để đóng góp cho Nhà nước. Sự
hình thành thu nhập trong xã hội là cơ sở vật chất tạo khả năng cho nguồn động viên về
thuế. Có thu nhập thì người dân mới có thể đóng góp cho Nhà nước và ngược lại.
Vậy thuế xuất hiện trong xã hội loài người với hai điều kiện cần và đủ - đó là
sự xuất hiện của Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội.
2. Khái niệm
Hiện nay khái niệm thuế đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau:
Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các
tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung.
3. Các đặc trƣng cơ bản của thuế
Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền
Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái
ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây.
+ Trước đây:
Thông thường là các hình thức nộp cho thuế đất. Nhà Vua ban đất cho giới quý tộc,
nên họ phải cống nạp cho triều đình bằng sự phục vụ của chính bản thân và những sản
phẩm do nông nô trong các trang trại sản xuất ra. Đây cũng là nguồn cung cấp lương thực,
thực phẩm quan trọng và là một trong những hình thức nộp thuế TS bằng hiện vật đầu tiên.
Vào thế kỷ thứ 13, các hình thức quản lý hành chính mới được hình thành. Mỗi
khu vực hành chính do một lãnh chúa đứng đầu. Lãnh chúa giao đất cho nông dân và
từ thuế tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội như tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng,
xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, việc làm, thất nghiệp, công bằng xã hội,…
Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con
đường quyền lực:
- Tính bắt buộc của thuế xuất phát từ đặc tính của hàng hóa công cộng
Tính bắt buộc của thuế xuất phát từ đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể
sử dụng chung và khó có thể loại trừ:
+ Có thể sử dụng chung:
Nghĩa là việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa đó không ngăn cản
những người khác sử dụng nó.
Ví dụ: con đường xây dựng nên thì tất cả mọi người đều được đi trên nó, pháo
hoa được bắn lên thì mọi người đều được nhìn thấy nó.
+ Khó có thể loại trừ
Hàng hóa công cộng một khi đã được cung cấp tại một địa phương nhất định
thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho
việc sử dụng hàng hóa của mình.
3
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1
Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn
định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối
tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm
hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa
vụ nộp thuế. Đây là đặc điểm bao trùm nhất của thuế.
Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định:
Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp
chính quyền địa phương. Nhờ các căn cứ tính thuế mà đối tượng chịu thuế cũng như cơ
quan thuế tính được số tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp vào ngân sách Nhà nước.
Trong đó căn cứ tính thuế như là thuế suất áp dụng trên từng đối tượng chịu thuế. 4
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1 Ví dụ như, đối với thuế GTGT, mức thuế suất 5% áp dụng với hàng hóa, dịch vụ
tiêu dùng thiết yếu; đối với thuế thu nhập, doanh nghiệp mức thuế suất khoảng 25%
áp dụng với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; thuế xuất
khẩu, mức thuế suất 15% áp dụng với hàng quặng xuất khẩu,… Nhờ đó mà hàng
năm có thể xác định được khoản tiền thuế thu vào ngân sách là bao nhiêu.
Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không có
tính hoàn trả trực tiếp
- Thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể
Nghĩa là, số tiền thu được từ thuế sẽ được nhà nước chi dùng cho nhiều mục tiêu
Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các yếu tố
kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế
a) Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia
thành: Thuế đánh vào thu nhập:
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp: là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của
các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay là 25% trên thu nhập chịu thuế.
+ Thuế thu nhập cá nhân: là loại thuế đánh vào thu nhập cá nhân gồm: tiền
lương, tiền công, lợi tức cổ phần và các khoản thu nhập khác.
Thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập)
+ Thuế giá trị gia tăng (VAT): là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng. Ba
mức thuế VAT như sau:
Mức thuế 0% áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
xuất khẩuphần mềm, các dịch vụ cho công ty hoạt động trong khu chế xuất, hàng hoá
do nhà thầu phụ sản xuất và hàng của một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bán cho
khác hàng là người nước ngoài nhưng giao nhận tại Việt Nam; và các hoạt động xây
lắp cho các dự án xây dựng nước ngoài
Mức thuế 5% áp dụng cho khoảng 41 nhóm hàng hoá và dịch vụ như than, máy
móc,sản phẩm luyện kim, khuôn đúc, hoá chất, máy tính và linh kiện, chất nổ, săm
lốp, que hàn, dịch vụ xây lắp, dịch vụ sửa chữa thiết bị , dịch vụ đăng ký phương tiện
giao thông vận tải, các sản phẩm xi măng công nghiệp, nhựa thông, đường, mía,
nước uống, phân bón, thuốc trừ sâu, thiết bị y tế, dược phẩm, đồ chơi, sản phẩm
nông lâm nghiệp chưa qua chế biên, máy tính và đĩa vi tính
Tiền thuê đất
Thuế đánh vào hộ gia đình.
Thuế đánh vào sản phẩm:
VD: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai,
ngửi, ngậm; Rượu; Bia; Xe ô tô; Tàu bay, du thuyền; Xăng các loại; Bài lá; Vàng mã,
hàng mã; Kinh doanh vũ trường; Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke)….
c) Nếu dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế.Ví
dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản
4.2 Phân loại theo tính chất kỹ thuật
Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang
tính cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh
luận. Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau:
a) Thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế trực thu
Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các
tổ chức kinh tế hoặc cá nhân. Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài
sản của người nộp thuế
7
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1
chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế.
Thông thường, đối với các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất tỷ lệ; đối
với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất luỹ tiến.
c) Thuế theo mức riêng biệt hoặc thuế theo giá trị
Loại thuế có mức riêng biệt: (cũng có thể được dịch là thuế đặc biệt, quen được
gọi là thuế tuyệt đối)
Nếu trong đó, mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật
chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng, diện tích ), độc lập với giá
trị tiền tệ của chúng.
Thuế tính theo giá trị:
Là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên
căn cứ tính thuế.
4.3 Phân loại theo tính chất hành chính
8
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1 Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ
chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân thành hai loại:
+ Thuế nhà nước (quốc gia)
nặng nề hơn
Mặt khác, thực dân Pháp cho kinh doanh thuốc phiện, mở sòng bạc, quán rượu,
tiệm nhảy, … để thu thuế. Ngoài chế độ thuế khóa nặng nề nhân dân còn bị bọn tham
quan, ô lại nhũng nhiễu.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính phủ đã hủy bỏ thuế thân, giảm,
miễn thuếruộng đất, thuế môn bài. Chính phủ ban hành các sắc lệnh về thuế nhằm
đáp ứng một phần chi tiêu cho kháng chiến chống Pháp, phát triển để sản xuất.
9
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1 Trong thời gian khá dài, nền kinh tế được quản lý theo mô hình kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp. Trong cơ chế quản lý này, vai trò của thị trường và hạch toán
kinh tế bị coi nhẹ. Ngân sách Nhà nước dưạ vào chế độ thu hoặc bù theo chi tiêu. Vai
trò của thuế với ý nghĩa thực sự của nó không quan trọng lắm.
Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế
thị trườngcó sự quản lý của Nhà nước, thuế bắt đầu có vai trò quan trọng trong nền
kinh tế và là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước.
Hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng
- Thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
10
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1
III. PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA THUẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ LIÊN
HỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nƣớc nhằm huy động tập trung một phần
của cải vật chất trong xã hội vào NSNN
Đây là vai trò quan trọng nhất của thuế đối với nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp
luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn
thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. ngân sách Nhà nước. Một nền tài chính quốc gia
lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN
432.536
Thuế/tổng thu NSNN
93%
93.5%
93.7%
(Nguồn: www.mof.gov.vn)
Với việc đóng góp một tỷ trọng cao và ngày càng tăng lên trong tổng thu ngân
sách nhà nước, thuế đang ngày càng chứng tỏ vai trò chủ đạo của mình trong việc
huy động tài chính công phục vụ chi tiêu cho cả quốc gia.
- Chủ thể nộp thuế rất rộng.
Hầu hết mọi cá nhân, tổ chức sống, hoạt động và thực hiện các giao dịch trong
phạm vi quy định đều phải nộp thuế vào ngân sách nhà nước.
11
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1
Các cá nhân, tổ chức khi thực hiện bất kỳ giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hay tài
sản nào cũng đều phải nộp thuế trên giá trị hàng hóa đó. Loại thuế không thể tránh được là
thuế giá trị gia tăng, ngoài ra còn có thể có thuế xuất nhập khẩu hay thuế tiêu thụ đặc biệt.
Khi thực hiện các giao dịch khác liên quan đến tài sản của mình, tổ chức và cá
nhân cũng phải nộp thuế vào ngân sách nhà nước.
12
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1
tặng, thừa kế… thêm vào đó, đây lại là hàng hóa có giá trị cao nên thuế thu được từ
tài sản này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu ngân sách Nhà nước.
Thuế đánh vào thu nhập: hai loại thuế thu nhập mang tính thường xuyên và ổn
định nhấtlà thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Hầu hết các doanh
nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh có lãi đều phải trích nộp 25% lợi nhuận của
mình vào ngân sách nhà nước. Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 quy định cá
nhân có thu nhập trên 4 triệu đồng phải đóng thuế thu nhập cá nhân.
- Nhà nước huy động thuế vào ngân sách nhà nước bằng cả hình thức thu trực tiếp lẫn
gián tiếp
Nhà nước sử dụng công cụ thuế để thu ngân sách khá triệt để bằng cả hai hình
thức là thu trực tiếp (thuế trực thu) và thu gián tiếp (thuế gián thu).
Dù là bằng hình thức trực tiếp hay gián tiếp, mọi đối tượng thực hiện các hoạt
động, giao dịch để có được thu nhập, thu được lợi ích đều phải nộp thuế vào ngân
sách Nhà nước. Phương pháp này giúp Nhà nước quản lý rất hiệu quả công tác thu
ngân sách của mình, hạn chế tối đa được thất thu ngân sách.
Thuế là nguồn động viên GDP vào NSNN
Thuế là nguồn động viên GDP vào ngân sách nhà nước để chính phủ có tiền
thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu công, nhằm thực hiện việc phân phối lại tổng sản
phẩm cho xã hội. Hiện nay, thuế chiếm khoảng 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Thu từ dầu thô ước đạt 70.8 nghìn tỷ đồng, vượt 6,8% dự toán và tăng
17% so với 2009.Sản lượng dầu thô thanh toán ước đạt 14 triệu tấn, bằng 95,4% sản
lượng kế hoạch đã đề ra; giá dầu thô bình quan đạt 78,5 USD/thùng, tăng 10,5
USD/thùng tương đương 15,4% so dự toán.
Thu nội địa ước đạt 330 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với cùng kỳ
Với kết quả này, ngành thuế đã hoàn thành mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010.
Tổng thunội địa 5 năm ước đạt 1.551 nghìn tỷ đồng, bằng 116,5% so với dự toán,
vượt 2,1% so với mục tiêu đề ra, tăng gấp 2,5 lần so với thực hiện giai đoạn 2001 -
2005, tốc độ tăng thu bình quân đạt 16,5%/năm.
Trong đó:
Thu dầu thô đạt 383 nghìn tỷ đồng, bằng 115,8% so với dự toán, tăng gấp 1,9
lần so với thực hiện giai đoạn 2001 - 2005; thu nội địa trừ dầu đạt 1.168 nghìn tỷ
đồng, bằng 116,7% so với dự toán, tăng gấp 2,8 lần so với thực hiện giai đoạn 2001 -
2005; đạt mức tăng trưởng bình quân 22,5%/năm.
Theo tổng cục thuế “Kết quả thu như trên đã góp phần đưa tỷ lệ huy động vào ngân
sách nhà nước đạt 27,9% GDP, trong đó tỷ lệ huy động từ thuế phí đạt 25,2% GDP, cao
hơn so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10 đã đề ra là 21-22% GDP”
Cũng theo Tổng cục Thuế, cơ cấu nguồn thu đã thay đổi theo chiều hướng tích
cực, tỷ trọng thu từ các yếu tố tài nguyên đất đai, dầu thô ngày càng giảm, tỷ trọng
thu từ nội lực của nền kinh tế ngày càng tăng. 14
2. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Thứ nhất :Thông qua pháp lệnh về thuế, Nhà nước chủ động tác động đến cung -
cầu củanền kinh tế góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thuế có tác động định hướng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông qua tác
động trực tiếp tới cung- cầu thị trường
Chính sách thuế phải thiết thực, góp phần chuyển được cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu sang cơ
cấu kinh tế mới hiện đại, hợp lý và thay đổi được tỷ lệ tương quan giữa các ngành trong GDP,
15
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1
đúng chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
phụ thuộc một phần rất lớn vào mối quan hệ cung cầu của thị trường. Có nhu cầu tất
yếu đòi hỏi phát triển sản xuất, dịch vụ để đủ cung ứng cho nhu cầu và ngược lại.
Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng cung gắn với kích
cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu đạt hiệu quả tốt. Tổng cầu tăng hay giảm phụ
thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập của các tầng lớp dân cư, giá cả
từng loại sản phẩm, cơ cấu hàng hoá trên thị trường…
Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn giảm, các chế
độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến việc tạo nên tổng cầu theo hai hướng:
khuyến khích phát triển hay hạn chế. Thuế cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung
của thị trường. Đó là việc đánh thuế cao hay thấp vào các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập.
- Đối với sản xuất:
làm cho chính sách thuế nhập khẩu ảnh hưởng không lợi đến chính sách kinh tế đối
ngoại của Nhà nước trong bối cảnh mới, mà còn làm cho nền sản xuất trong nước trì
trệ, kém phát triển, nhân dân thường xuyên phải dùng hàng hoá với giá đắt và mẫu
mã không được đổi mới theo xu thế phát triển của khu vực và thế giới
Ví dụ: Điển hình là ngành sản xuất ô tô. Theo cam kết WTO, tất cả các loại ôtô chở người
đềuquy về một mức thuế suất NK là 47%. Trong khi theo cam kết ASEAN/AFTA, ôtô chở
người dưới 9 chỗ trong khu vực này NK vào VN sẽ áp mức thuế suất 0% từ năm 2018.
Do đó, hiện nay Việt nam vẫn đang duy trì mức thuế suất NK ô tô rất cao, nhằm
bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô nội địa.
Cụ thể, mức thuế suất ô tô nhập khẩu mới năm 2011 như sau: LoạiThuế NK mới
Thuế
Thuế
Tổng thuế mới
Thay đổi so với
(%)
(%)
cầu
cầu
cầu
cầu Dưới 2lit
82(83)
82(83)
45290,3
290,3
0,5
50292
292
1,7
1,7Trên 3 lít
77(80)
72(77)
60311,5
302,7
1,7
2,8
2-3lit
82
82
50300,3
300,3
0,5
0,5Dầu
Trên 3lit
60
10
320,3
320,3
Với việc thiết kế và xây dựng hệ thống chính sách thuế có phân biệt theo ngành,
vùng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy phát triển nhiều ngành nghề kinh tế mũi
nhọn, then chốt và các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần khuyến khích chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo bước công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Chính sách thuế phân biệt theo thuế suất cao, thấp khác nhau đối với từng ngành nghề sản
xuất kinh doanh, đối với từng sản phẩm, dịch vụ, tuỳ thuộc vào sự cần thiết của sản xuất và đời
sống xã hội, tự nó đã có tác dụng điều chỉnh việc phân bổ lại nguồn vốn đầu tư trong xã hội.
+ Việc áp dụng các hình thức ưu đãi (thuế suất, thời gian miễn giảm thuế…) đối
với hàng hoá, dịch vụ phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường sẽ làm
cho giá cả hàng hoá dịch vụ đó giảm xuống. Khi giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm thì
lượng cầu sẽ tăng lên. Để đáp ứng cho sự gia tăng về cầu hàng hoá, các doanh
nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu lợi nhuận nhiều hơn.
+ Ngược lại, khi áp dụng thuế suất cao, giá tăng sẽ có giảm sút về cầu, thu hẹp quy
mô sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tìm lĩnh vực đầu tư mới để chuyển dịch cơ
cấu kinh tế với mục đích sản xuất mặt hàng khác có thể tạo lợi nhuận nhiều hơn.
+ Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thời gian miễn giảm của thuế TNDN, Nhà
nước có thể khuyến khích đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài vào những
ngành, những lĩnh vực và những vùng cần khuyến khích đầu tư.
Chẳng hạn: áp dụng mức thuế suất thấp và miễn giảm hấp dẫn đối với các dự án
đầu tư thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư như các cơ sở sản xuất
mới thành lập; đầu tư ở miền núi, hải đảo, các vùng có nhiều khó khăn
- Đối với tiêu dùng
Để hạn chế hay khuyến khích tiêu dùng, Nhà nước xây dựng một biểu thuế phù
hợp, tác động trực tiếp đến tâm lý tiêu dùng của người dân.
1
Đến 60
Đến 5
5
2
Trên 60 đến 120
Trên 5 đến 10
10
3
Trên 120 đến 216
Trên 10 đến 18
15
4
Trên 216 đến 384
Trên 18 đến 32
20
5
Trên 384 đến 624
Trên 32 đến 52
25
sở hạ tầng ở nông thôn, hỗ trợ lưu thông nguyên, nhiên, vật liệu, tiêu thụ hàng hoá hay
xây dựng các công trình thuỷ lợi ở những vùng thường xảy ra hạn hán nhằm nâng cao
được năng suất lao động, bảo đảm được an toàn lương thực trong hoàn cảnh diện tích
đất sản xuất nông nghiệp càng bị thu hẹp trong quá trình đô thị hoá.
19
Bài thảo luận môn tài chính công – Nhóm 1 Thứ hai: Thuế là công cụ điều chỉnh giá cả thị trường và kiềm chế lạm phát
Trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều biến động, khủng hoảng, suy thoái… và kinh tế
trong nước vẫn đang trong giai đoạn phát triền, thị trường luôn có những biến động khó
lường. Để kiểm soát được những biến động này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp rất nhiều
biện pháp và chính sách đồng thời. Trong đó, có sự tham gia của chính sách thuế.
Sự tăng giá liên tục của thị trường gây ra tình trạng lạm phát khó kiểm soát. Dự báo
tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2011 lên đến 11%
Đối với các mặt hàng có sự tăng giá liên tục Nhà nước buộc phải có các chính
sách thuế nhằm hỗ trợ điều chỉnh giảm giá.
Ví dụ : Sự tăng giá của dầu thô khiến cho giá xăng dầu trong nước tăng cao, buộc
Nhà nướcphải điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu từ 15% - 20% tuỳ
theo từng loại nhiên liệu xuống còn 0%
3. Góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về thuế đã được áp dụng thống nhất cho các
ngành nghề,các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư
như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó. Tuy
nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác biệt
về thu nhập của mỗi người. Chính sự khác biệt ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo,
là sự bất bình đẳng trong xã hội. Và thuế là công cụ chính được nhà nước sử dụng để điều hòa
vĩ mô thu nhập xã hội, thông qua cả hai hình thức thuế trực thu và thuế gián thu.
+ Đối với thuế trực thu
Đây là loại thuế được nhà nước sử dụng để động viên và điều tiết trực tiếp thu
nhập của các chủ thể trong xã hội, Trong đó điển hình là thuế thu nhập cá nhân và
thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Thuế thu nhập cá nhân với biểu thuế luỹ tiến từng phần đã giúp đảm bảo
công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo thông qua việc điều tiết mạnh thu
nhập của nhữngngười có thu nhập cao và điều tiết ở mức độ hợp lý đối với các cá
nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp.
Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi
điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ
nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân
tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Thêm vào đó còn có quy định miễn, giảm
thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội.
Tại Việt Nam biểu thuế suất thuế TNCN như sau:
Bậc
Phần thu nhập tính
Phần thu nhập tính
Thuế suất (%)
thuế
Trên 384 đến 624
Trên 32 đến 52
25
6
Trên 624 đến 960
Trên 52 đến 80
30
7
Trên 960
Trên 80
35 Biểu thuế luỹ tiến từng phần (điều 22- Luật thuế thu nhập cá nhân 2007)
Với nước ta, Luật thuế thu nhập cá nhân hiện nay vẫn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ yêu
cầu đảm bảo công bằng.Vì như đã biết tính chất công bằng trong một chính sách thuế liên
quan đến cả công bằng dọc và công bằng ngang. Công bằng dọc tức là người có thu nhập
cao hơn phải đóng góp nhiều hơn, trong khi công bằng ngang phải đảm bảo mức đóng góp
như nhau cho những người có thu nhập ngang bằng nhau. Và có một thực tế ở nước ta hiện
nay đó là không phải người nào giàu nhất cũng đang đóng thuế nhiều nhất nhưng lại có
những nhóm người nghèo lại phải gánh những khoản thuế quá mức so với thu nhập và nhu
cầu tối thiểu cho cuộc sống của họ. Do đó, việc cải cách cơ chế tiền lương theo hướng minh
bạch, chẳng hạn như giảm các khoản phụ cấp không qua lương, sẽ góp phần làm tăng tính
hiệu quả cho công cuộc cải cách thuế hướng đến mục tiêu công bằng hơn và hiệu quả hơn.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là công cụ quan trọng để thực hiện chức năng tái
phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Trong nền kinh tế thị trường của nước ta
hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh bình đằng. Theo đó, doanh