Lời nói đầu
Địa danh, nói nôm na là tên đất, có nghĩa là tên gọi của tất cả các đối
tượng tự nhiên và nhân tạo tồn tại trên bề mặt đất: sông, núi, hồ, ao, làng, xã,
cầu, đường, bến, bãi v.v và v.v
Người Việt Nam luôn luôn gắn bó với mảnh đất mình sinh sống. Họ quan
niệm rằng: “Cây có cội, nước có nguồn”; đất là “Nơi chôn nhau, cắt rốn”;
“Người ta là hoa đất” ; “Địa linh nhân kiệt” Có lẽ vì vậy mà địa danh rất
thường gặp trong tục ngữ, ca dao, dân ca. Địa danh trở thành câu nói cửa
miệng của người dân : «Trai Nhơn Ái, Gái Nha Mân » ; «Trai Cầu Vồng Yên
Thế, Gái Nội Duệ Cầu Lim»; “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa ” v.v
Địa danh học là ngành khoa học chuyên nghiên cứu về địa danh. Khoa
học này có mầm mống từ rất sớm và được ra đời vào khoảng thế kỷ XIX. Hiện
nay ngành này rất phát triển ở nhiều nước trên thế giới như Nga, Pháp, Anh,
Đức, Hoa Kỳ, Trung Quốc
Tuy nhiên, ở nước ta ngành Địa danh học còn khá mới mẻ. Theo ý kiến
của nhiều nhà nghiên cứu, nước ta chỉ mới có những sưu tập địa danh và một
vài nghiên cứu lẻ tẻ về địa danh chứ chưa có các công trình nghiên cứu toàn
bộ địa danh một vùng hay cả nước. Các nghiên cứu này thường chỉ nhằm giải
quyết một vấn đề cụ thể nào đó mà chưa mang tính hệ thống. Thậm chí, trên
thực tế có rất nhiều kiến giải địa danh mang tính chất suy diễn chủ quan, ít có
giá trị khoa học. Như vậy, có thể nói rằng, ở Việt Nam, địa danh học đang
trong quá trình hình thành.
Địa danh có ý nghĩa rất to lớn trong khoa học cũng như trong đời sống.
Nghiên cứu địa danh giúp ta hiểu rõ hơn về một vùng đất; hơn nữa, nó còn
giúp ta hiểu về quá trình hình thành các đối tượng địa lý, các địa phương, các
dân tộc. Chính vì ý nghĩa quan trọng của địa danh như vậy mà địa danh học
đang ngày càng được sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau như
sử học, địa lý học, địa lý lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học, ngôn ngữ học v.v
Xuất phát từ nhu cầu giảng dạy về địa danh học Việt Nam, chúng tôi
mạnh dạn biên soạn tài liệu này.Lần đầu tiên biên soạn,do những khó khăn
khách quan và chủ quan, tài liệu này chắc chắn còn nhiều thiếu sót và hạn chế.
Hãy tìm thêm những ví dụ trong các trường hợp sau:
+ Dùng tên người để đặt tên đất:
Ví dụ: Thành phố Hồ Chí Minh, đường Trần Hưng Đạo
+ Dùng tên đất để đặt tên người:
Ví dụ: Tam Nguyên Yên Đổ, Âu Cơ, Út Trà Ôn, Tản Đà
+ Dùng tên đất để đặt tên hiệu:
Ví dụ: Bia Sài Gòn, Công ty Hương Giang ; Mực Cửu Long
2
Địa danh Địa lýĐịa danh Lịch sử Địa danh Văn hóa Địa danh Du lịch
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Nhìn chung, môn Địa danh học ở Việt Nam với tư cách là một một lĩnh vực nghiên cứu độc
lập hay một ngành khoa học thực sự còn đang trong quá trinh hình thành. Tuy nhiên, những
nghiên cứu có liên quan đến địa danh đã được bắt đầu từ khá sớm. Do những nhu cầu khác nhau,
người ta đã tiến hành nghiên cứu về địa danh từ nhiều góc độ. Những nội dung nghiên cứu liên
quan đến địa danh học thường gắn với các nghiên cứu và ghi chép về địa lý, lịch sử, ngôn ngữ,
văn hoá, v.v Có thể phân chia khái quát lịch sử nghiên cứu địa danh thành hai giai đoạn chính
như sau:
1.2. Giai đoạn ghi chép, mô tả địa danh:
Tài liệu ghi chép, mô tả về địa danh lúc đầu đều bắt nguồn từ các bộ chính sử. Do đặc điểm
thực tế nước ta phải trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên tài liệu sách vở bị mất mát rất nhiều.
Việt sử lược là bộ sách biên niên sử xưa nhất của nước ta còn truyền được đến nay. Theo
Đào Duy Anh, bộ sách này được biên soạn vào đời Trần, tác giả khuyết danh
1
, sách này được lưu
ở bộ Tứ khố toàn thư của Trung Quốc.
Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu cũng đã mất chỉ còn một số lời bình được chép trong Đại
Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đời Hồng Đức.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục do sử thần đời Nguyễn căn cứ vào sách
Đại Việt sử ký toàn thư mà biên soạn lại.
Nhưng tài liệu ghi chép có tính chuyên sâu về địa danh phải là các sách địa dư chí. Tài liệu
Đại Nam địa dư toàn biên (hay Phương đình địa dư chí) của Lê Văn Siêu đời Minh Mạng.
Thối thực ký văn của Trương Quốc Dung đời Minh Mạng.
Đại Nam thống chí thời Thiệu Trị.
Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng (Quyển II và III: “Địa lý khảo”).
Đồng Khánh địa dư chí (soạn năm 1886).
Đại Nam cương giới vực biên của Hoàng Hữu Xứng đời Đồng Khánh.
Đại Nam nhất thống chí thời Duy Tân.
Các nghiên cứu về địa danh trong các sách địa phương chí thời Nguyễn có những tác phẩm
quan trọng như:
Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch.
Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật.
Cao Bằng ký lược của Phạm An Phủ.
Như vậy, tài liệu về địa danh và địa lý học xưa nhất ở nước ta là những tác phẩm đời Trần
và thời Lê Sơ. Muốn nghiên cứu địa lý và địa danh các thời kỳ sớm hơn thì phải nhờ đến các thư
tịch của Trung Quốc. Những tác phẩm quan trọng nhất là những bộ chính sử, đặc biệt là phần
“Địa lý chí” hay “Địa dư chí” của các tác phẩm ấy. Bên cạnh đó, còn có các sách chuyên về địa
dư chí hay địa phương chí đáng lưu ý là:
Thuỷ kinh chú do Lê Đạo Nguyên chú giải sách Thuỷ kinh
2
xưa, sách soạn vào khoảng
515-526 triều Bắc Ngụy. Đến thời Thanh, Dương Thủ Kính biên soạn Thuỷ kinh chú sớ, đây là
công trình mang tính tổng kết các công trình nghiên cứu về Thuỷ kinh chú từ trước tới bấy giờ.
Trong các sách này, phần ghi chép về các sông miền nam Trung Quốc có nhiều tài liệu liên quan
đến địa danh nước ta.
Cùng với sách Thuỷ kinh chú sớ còn có sách Thuỷ kinh chú đồ cũng do Dương Thủ Kính
soạn. Đây là tập bản vẽ các dòng sông minh hoạ cho Thuỷ kinh chú sớ. Ngoài ra còn có sách
Thuỷ kinh chú tây nam chư thuỷ khảo do Trần Phong soạn năm 1847. Đây là sách khảo cứu về
các sông thuộc tây nam Trung Quốc.
Sau đó có thêm các sách Thông điển của Đỗ Hựu đời đường, Thông chí của Trịnh Tiêu đời
Tống, Thông khảo của Mã Đoan Lâm đời Tống (còn gọi là Tam thông), Nguyên Hoà quận
“La géographie politique de L’Annam sous les Lý, les Trần et les Hồ”(Địa lý chính trị các
triều Lý, Trần, Hồ), BEFEO, XVI.
“Le royaume de Văn Lang”(Vương quốc Văn Lang)
Tiếp theo, L.Aurosseeau có các bài nghiên cứu:
“La première conquête Chinoise des pays Annamiles”(Tượng quận vị trí khảo), BEFEO,
XXIII;
“Le Tonkin ancien”(Xứ Bắc Kỳ xưa), BEFEO, XXXVI), 1923.
v.v
2.2. Giai đoạn nghiên cứu chuyên về địa danh:
Khác với giai đoạn đầu, ở giai đoạn này, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên về
địa danh, tức là coi địa danh là đối tượng nghiên cứu. Có thể chia thành ba hướng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu địa danh như một công cụ: Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể
ra các công trình sau:
Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh (1964) là bộ sách địa lý lịch sử đã hệ
thống hóa các địa danh trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau của Việt Nam.
Những thay đổi về địa lý hành chính trong thời kỳ Pháp thuộc của Vũ Văn Tỉnh, 1972.
Phương pháp vận dụng địa danh học trong nghiên cứu địa lý học lịch sử cổ đại Việt Nam
của Đinh Văn Nhật, 1984.
Việt Nam - cái nhìn địa văn hóa của Trần Quốc Vượng (1998) trong đó có tập trung giải
quyết những vấn đề về địa danh văn hoá của nhiều địa phương trong cả nước.
v.v
+ Xây dựng các sách từ điển (sổ tay) về địa danh:
Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XX do Viện Hán Nôm biên soạn, 1981.
Số tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh, 1996.
Sổ tay địa danh Việt Nam của Nguyễn Dược và Trung Hải, 1999.
v.v
+ Nghiên cứu lý thuyết Địa danh học Việt Nam:
Hiện nay, ở nước ta xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu lý luận về địa
danh học Việt Nam. Điều đó đã tạo cơ sở cho sự ra đời ngành “Địa danh học Việt Nam”. Có thể
kể đến một số tác phẩm nghiên cứu về địa danh như:
3.3. Địa danh học và lịch sử
Địa danh là một phạm trù lịch sử, mang những dấu vết của thời điểm mà nó ra đời. Thông
qua địa danh người ta “giải mã” được nhiều giá trị lịch sử. Ví dụ, làng Giảng Võ, làng Lưu Kiếm,
núi Thạch Bi, Luỹ Thầy, sông Gianh, cửa Đại Chiêm, Trạm Tấu…
Nhiều địa danh còn lưu giữ các chức tước thời phong kiến: nhiêu học, hương cả, tham biện,
trùm xã, v.v hay tên gọi các công trình, các đơn vị hành chính cổ: bảo (đồn bảo), thủ (đồn thủ),
dinh, trấn, nhà việc, phủ, châu, v.v
Tóm lại, đối với khoa học lịch sử, địa danh là một công cụ nghiên cứu hết sức hữu hiệu.
Địa danh cho ta biết nhiều điều về quá khứ của những vùng đất khác nhau.
3.4. Địa danh học và dân tộc học
Địa danh cũng là một cửa ngõ quan trọng để đi vào lĩnh vực nghiên cứu dân tộc học. Thông
qua nghiên cứu so sánh địa danh, các nhà dân tộc học có thể biết được quá trình hình thành, phát
triển của các dân tộc. Địa danh bảo lưu nhiều từ cổ của các dân tộc mà qua đó người ta biết được
quan hệ nguồn gốc giữa các dân tộc.
Nghiên cứu địa danh, người ta còn biết được những dân tộc đã sống trên địa bàn nào đó.
Chẳng hạn, Những địa danh có từ sóc, trà… có thể phỏng đoán rằng đây là vùng cư trú của người
Khmer.…
6
3.5. Địa danh học và văn hoá học
Văn hoá là một thực thể có sự vận động trong không gian và thời gian. Theo trục thời gian
người ta thấy được diễn trình lịch sử phát triển của văn hoá. Nhìn trong không gian, người ta thấy
được những đặc trưng văn hoá của các vùng miền khác nhau. Chừng mực nào đó cũng có thể coi
địa danh là những điểm mốc về không gian và thời gian của văn hoá học.
Sự biến đổi của địa danh phản ánh những diễn tiến văn hoá theo thời gian. Ví dụ, các tên
gọi địa danh Nhiêu Lộc, Phán Hùng, Tham Lương, Trùm Bích… đã lưu giữ nhiều chức vụ dưới
thời phong kiến (nhiêu học, thông phán, tham tướng, trùm làng…).
Sự khác biệt không gian của địa danh lại là những căn cứ xác định các vùng văn hoá trong
không gian. Ví dụ, “rào” là đặc trưng của không gian văn hoá Bắc Trung Bộ (từ Nghệ Tĩnh đến
Quảng Trị): rào Nậy, rào Tre, rào Cái, rào Thanh…”nậm” là đặc trưng của vùng Tây Bắc: nậm
Mu, nậm Mấc, nậm Rốm, v.v…
7
4.5. Phương pháp sử học
Địa danh luôn luôn mang tính lịch sử: ra đời và biến đổi theo thời gian. Phương pháp lịch
sử được vận dụng để tìm hiểu thời điểm và hoàn cảnh ra đời của địa danh. Ví dụ, địa danh Nha
Trang có 2 cách giải thích: 1) vào thời Pháp thuộc, ở đây có căn nhà lầu màu trắng của bác sỹ
Yersin, những người đi trên tàu biển nhìn vào thấy nổi bật căn nhà này nên gọi là Nhà Trắng (gọi
theo tiếng Pháp không có dấu nên biến thành Nha Trang); 2) Nha Trang bắt nguồn từ chữ Ya
Tran (tiếng Chàm) nghĩa là sông có nhiều lau lách. Bằng phương pháp lịch sử cho thấy địa danh
Nha Trang có từ trước thời Pháp thuộc. Ví dụ: Ca dao
” Sông Nha Trang
Cát vàng sóng lục
Nhởn nhơ con cá đục
Lội dọc lội ngang ”
Hay như năm 1905, Trần Quý Cáp đã viết:
“Lưỡng ngạn lô hoa trường đáo hải
Tứ biên hoàng điệp tổng vi vu”
(Nghĩa là: Trắng ngập đôi bờ lau xuống biển
Vàng bay bốn mặt lá gieo thu).
Như vậy, nguồn gốc địa danh Nha Trang không phải từ chữ Nhà Trắng.
4.6. Phương pháp thống kê
Thống kê cũng là một phương pháp quan trọng để nghiên cứu địa danh. Phương pháp thống
kê nhằm đánh giá đặc trưng số lượng của địa danh. Ví dụ, nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa đã
thống kê tại địa bàn TP.Hồ Chí Minh từ thế kỷ XVII đến nay có 172 địa danh mang yếu tố “ông”,
trong đó có 166 yếu tố “ông” đứng trước, 6 yếu tố “ông” đứng sau. Trong 172 địa danh có yếu tố
“ông” thì 100 địa danh chỉ kênh rạch, 28 địa danh chỉ cầu cống, còn lại là các đối tượng địa lý
khác.
4.7. Phương pháp tiếp cận liên ngành
Như trên đã cho thấy, địa danh là một đối tượng nghiên cứu liên quan đến nhiều lĩnh vực
khoa học khác nhau. Vì vậy, phương pháp thích hợp nhất để nghiên cứu địa danh là tiếp cận liên
ngành, tức là xem xét địa danh dưới nhiều góc độ khác nhau: địa lý học, sử học, ngôn ngữ học,
Môn, Bà Hói, Bờ Băng, Bà Ngựa… là tên các bà (thực ra là do biến âm các từ: Bàu Môn, Bàu
Hói, Bờ Băng, Bờ Ngựa…biến thành “bà”). Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cũng đã chứng minh
rằng trong địa danh Cổ Loa, chữa “cổ” không có nghĩa là xưa, cũ mà do biến âm từ “kẻ” mà
thành
9
CHƯƠNG II
CƠ SỞ ĐỊA DANH HỌC
1. CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH ĐỊA DANH
Có ba nhân tố cơ bản tác động đến sự hình thành và biến đổi của dịa danh:
1.1. Con người:
Con người là chủ thể tạo nên địa danh nên được coi là yếu tố quan trọng nhất. Nhà thơ
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có một câu hỏi tu từ nổi tiếng: “Ai đặt tên cho dòng sông ?”. Con
người với những đặc trưng văn hóa, dân tộc, tâm lý, phương thức sinh hoạt v.v có ảnh hưởng
quan trọng đến sự hình thành địa danh.
Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã viết:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”
Đất hoá tâm hồn là do sự cảm nhận của con người. Câu thơ này đã thể hiện mối liên hệ
giữa con người với địa danh.
Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã nhận xét : “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tất cả
các câu nói trên đều nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa tâm trạng con người với hoàn cảnh. Mối
quan hệ này liên quan đến sự hình thành địa danh.
1.2. Ngôn ngữ :
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong việc tạo thành địa danh. Mặc dù con người chi
phối ngôn ngữ; nhưng, bản thân ngôn ngữ cũng có tính độc lập nhất định. Thứ nhất là, trong vốn
ngôn ngữ rất phong phú, người ta chọn từ nào để đặt tên cho địa danh lại tùy thuộc vào những
đặc điểm tâm lý, văn hóa của họ. Thứ hai là, một vùng lãnh thổ có thể có nhiều dân tộc cùng cư
trú, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng. Nhhư vậy có thể có nhiều ngôn ngữ trên một địa bàn,
nhưng địa danh chỉ có nguồn gốc từ một ngôn ngữ nhất định. Điều đó có nghĩa là một địa danh
gọi theo ngôn ngữ này có thể được vay mượn từ ngôn ngữ khác. Ví dụ, địa danh Cà Mau bắt
nhiều cách gọi bằng những từ đồng nghĩa như núi Thạch Bích và Đá Vách, núi Thạch Bi và Đá
Bia
Ba yếu tố trên luôn có quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Để tạo thành địa danh thì yếu tố biểu
vật chi phối yếu tố biểu âm và biểu nghĩa. Nhưng sau khi địa danh đã hình thành thì yếu tổ biểu
vật trở nên mất vai trò và có thể dẫn đến sự sai lạc giữa hai yếu tố kia. Thường thì lúc đầu, khi địa
danh mới được hình thành, yếu tố biểu vật làm cho âm và nghĩa của địa danh thống nhất với nhau
(do chúng cùng thể hiện một đối tượng đặt tên). Nhưng sau đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau,
âm và nghĩa bị biến dạng đi mà tạo ra sự sai biệt nào đó, thậm chí dẫn đến việc hiểu sai nghĩa
(cắt nghĩa sai). Ví dụ: cầu Dần Xây (TP.HCM) được hiểu theo nghĩa xây dần dần là không đúng
mà nguyên gốc là cầu Giằng Xay (cây giằng xay). Gò Vấp cũng bị biến âm từ Gò Vắp (cây vắp)
11
Biểu vật
Biểu âm Biểu nghĩa
mà thành. Hay như địa danh Trấn Di biến thành Trần Đề hay Tranh Đề; kênh Thị Đôi biến thành
Thị Đội, v.v
Một trong những mục đích quan trọng của nghiên cứu địa danh là phục hồi mối quan hệ
ban đầu của ba yếu tố này. Đây là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Do thời gian và
những biến động của lịch sử mà địa danh bị biến đổi theo rất nhiều dạng khác nhau. Trên thực tế,
có rất nhiều cách cắt nghĩa khác nhau cho một địa danh. Ví dụ, Sài Gòn được cắt nghĩa là Thầy
Ngòn, Củi Gòn, Rài Gòn, Sài Côn, Đề Ngạn, Pre Nokor
3. DANH TỪ CHUNG, DANH TỪ RIÊNG
3.1. Khái niệm :
Một địa danh đầy đủ bao gồm hai thành phần: danh từ chung và danh từ riêng. Ví dụ, địa
danh sông Hồng gồm danh từ chung là “sông”, danh từ riêng là “Hồng”. Đây là cách phân chia
cơ bản trong ngôn ngữ học mà ta đã biết.
Danh từ chung là danh từ dùng để chỉ nhóm, loại đối tượng. Ví dụ: sông, suối, núi, biển,
đảo, làng, xã, thành phổ, đường, chợ, cầu, cống, v.v
Danh từ riêng là danh từ chỉ tên gọi của một đối tượng riêng biệt. Như vậy danh từ riêng
a) Kiểu “tự nhiên” (Phương thức dân gian): Nhiều địa danh “tự nhiên mà có” hay cũng có
thể nói rằng: do gọi mãi thành quen. Ví dụ: sông Cái, sông Con, biển Đông, v.v “Ai đã đặt tên
cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
b) Kiểu “nhân tạo” (Phương thức hành chính): Thường là các địa danh hiện đại, việc đặt
tên được thực hiện theo quyết định, nghị định, nghị quyết v.v Ví dụ: Tỉnh Minh Hải, Huyện
Trần Văn Thời, Xã Hồ Thị Kỷ, HTX. Quyết Thắng, Đường Ngô Gia Tự, Trường Phạm Hùng
v.v
c) Kiểu “hỗn hợp” (Phương thức hợp thức hoá): Lúc đầu là tên gọi dân gian, sau thành tên
gọi chính thức. Ví dụ: Bà Chiểu, Bà Quẹo, Bà Hạt, Bà Hom, Ông Đốc, Ông Chưởng, Xóm Củi,
Thị Nghè
3.2. Một số nguyên tắc đặt tên trong địa danh
Địa danh là một hiện tượng phức tạp. Các nguyên tắc ở đây chỉ mang tínbh quy ước. Mặt
khác, có nhiều trường hợp các nguyên tắc trùng hợp hoặc đan xen nhau. Ví dụ: Núi Voi có thể
coi là đặt tên theo động vật (ở đó có nhiều voi), nhưng có thể là đặt tên theo hình dạng (núi có
hình con voi). Dưới đây nêu ra một số nguyên tắc cơ bản:
a) Theo đặc điểm, tính chất:
Ví dụ, tên gọi của các vùng biên cương thường có từ “biên”: Điện Biên, Tân Biên, An
Biên, Tịnh Biên v.v Nhiều tên gọi dựa theo đặc điểm tự nhiên của đối tượng: xóm Bàu, xóm
Cồn, phố Núi, trấn Giang; hoặc theo tính chất đối tượng: chợ Cũ, chợ Mới, cầu Mới, lộ Mới, Bến
Đục, Bến Trong, rạch Cửa Cạn, rạch Ranh, sông Gianh, cầu Đường Chừa, rạch Múc, kênh Xáng,
xóm Liều, v.v
b) Theo hình dạng:
Ví dụ, sông Lòng Lợn, rạch Cổ Cò, kênh Ruột Ngựa, ngọn Ngay, đèo Cổ Mã, đèo Ruột
Tượng, hòn Vọng Phu, núi Mẫu Tử (Mẹ Bồng Con), hòn Trống Mái, hòn Chồng, Phương Thành,
Loa Thành, Quy Thành (Bát Quái Thành), cầu Chữ Y, mũi Cột Buồm, Láng Tròn, v.v
c) Theo kích thước:
Ví dụ, sông Cái, sông Con, sông Bé, núi Lớn, núi Nhỏ, núi Đại Tô Châu, núi Tiểu Tô Châu,
cửa Đại, cửa Tiểu, hồ Bẩy Mẫu, hồ Ba Mẫu, kinh Sáu Thước, v.v
d) Theo màu sắc:
Ví dụ, sông Hồng, sông Lam, Lục Thuỷ, Lam Sơn, Hồng Lĩnh, Thanh Sơn, Gò Mun, huyện
Ví dụ, làng Đường Lâm (mía), làng Khoai, làng Cót, Kẻ Vải, Mễ Trì (ao gạo), Diêm Điền
(ruộng muối), các phố Hàng Bún, Hàng Đường, Hàng Mắm, Hàng Cót, Hàng Mã, ga Hàng Cỏ,
sân Hàng Đẫy (giỏ sách), Cầu Muối, Xóm Chiếu, Chợ Vải, Chợ Đũi (vải đũi), Chợ Đệm (giỏ
đệm), Chợ Gạo, Lò Siêu (ấm đun nước), Lò Gốm, v.v
l) Theo thứ tự, số lượng:
Ví dụ, Quận 1, Quận 5, Quận 10, Phường 1, Phường 2, Phường 3, Thị trấn Thứ Ba, Thứ
Mười Một, kênh A, kênh B, kênh C, lộ 19, lộ 20, hương lộ 14, đồi A1, đồi A2, thị trấn Ngã Năm,
Tam Giang, Lục Đầu Giang, Tam Đảo, Thất Sơn, Ngũ Hành Sơn, Ba Làng An, Tam Thôn Hiệp,
Tân Sơn Nhất, Giáp Bát, v.v
m)Theo phương hướng, vị trí:
Ví dụ, Xóm Đông, Xóm Đoài, Biển Đông, xã Trí Phải Tây, Hà Bắc, Hà Tây, Hà Nam, Hà
Đông, Hà Nội, Sơn Tây, Sơn Nam, Đông Kinh, Đông Đô, Tây Đô, Đại Nội (Huế), sông Tiền,
sông Hậu, hòn Vuông Trong, hòn Vuông Ngoài, Láng Thượng, Láng Trung, Láng Hạ, Bãi
Trước, Bãi Sau,v.v
n) Theo tên tộc người, tên quốc gia:
4
Một số địa danh được đặt theo hình dạng: mũi Nai, núi Con Voi, núi Yên Ngựa
14
Ví dụ, cao nguyên Mạ (cao nguyên của người Mạ), cù lao Chàm (cù lao của người Chàm),
Đà Lạt (nước của người M’lạt), xa lộ Đại Hàn
5
(người Đại Hàn làm), cầu Cao Miên
6
(người Cao
Miên xây dựng), cầu Tây Ban Nha
7
(người Tây Ban Nha xây dựng), v.v
o) Theo tên dòng họ:
Ví dụ, các làng Đỗ Xá (làng họ Đỗ), Lê Xá, Trần Xá, Phạm Xá, Đỗ Gia, Mã Cha (làng họ
Mã), làng Nguyễn, làng Phùng, v.v
Liêm (đồng thời cũng biến thành Chèm); M’rinh (M’linh) thành Mê Linh; B’Lao thành Bảo Lộc;
vũng Quýt thành Dung Quất, bến Vượt thành bến Dược, v.v Nhiều cách phát âm không còn sử
5
Do công binh Nam Triều Tiên (Đại Hàn) xây dựng ở Sài Gòn.
6
Tức cầu Bông, do vua Cao Miên (Nặc Tha) xây năm 1736 ở Sài Gòn.
7
Do công binh Tây Ban Nha xây dựng ở Gò Công.
8
Theo truyền thuyết, có lần người ta thấy ở hồ này có chiếc kiệu nổi lên rồi chìm xuống.
15
dụng nhưng vẫn còn tồn tại trong địa danh. Ví dụ, “ông - uông” (Nậm Suông, Con Cuông); hoặc
“an-ôn” (Ôn Châu). Sự biến âm của phương ngữ Nam Bộ cũng làm cho nhiều địa danh bị biến
đổi. Ví dụ, Nhân - Nhơn, Hoa - Huê, Chính - Chánh, Chu - Châu, Thịnh - Thạnh, Phúc - Phước,
Quý - Quới, Thái - Thới, v.v
b) Do giao lưu văn hoá:
Sự tiếp biến, sự vay mượn, sự chuyển hoá. Ví dụ, các nhà nghiên cứu cho rằng danh từì “cù
lao” có nguồn gốc từ ngôn ngữ Mã Lai là “Pulaw” (đảo), từ “vàm” có nguồn gốc từ ngôn ngữ
Kh’mer là “Piam”(cửa sông), v.v Nhiều địa danh đã được Việt hoá như: Svay-ton - Xà Tón -
Tri Tôn, Tưk Khmau (Nước đen)- Cà Mau Một số địa danh lại bị Hán hoá như: Bến Tre - Trúc
Giang
9
, Kẻ Mơ (Buổi sáng) - Bạch Mai, v.v Một số địa danh đặt theo tiếng Pháp rồi lại bị Việt
Hoá trở lại v.v làm cho địa danh trở nên rất đa dạng và phức tạp. Ví dụ: sông Chu là phụ lưu của
sông Mã với tên chính là sông Lường, một đoạn thượng nguồn gọi là Nậm Sủ; song do một nhân
viên lâm nghiệp người Pháp khi ghi vào bản đồ chuyển thành tên chung của sông và phiên âm
thành Chou (Su) sau đó đọc thành Chu. Hoặc kênh Tham Rom, kênh Santeinoir bị chuyển thành
kênh Thơm Rơm, kênh Sanh tên v.v
c) Do di dân:
Có hiện tượng khá phổ biến là người di cư mang theo tên làng mình đến nơi ở mới. Ví dụ,
Ở làng Thủ Lệ (Cầu Giấy, Hà Nội) thờ thần Linh Lang nên kiêng từ lang: khoai lang đổi thành khoai lương, thày
lang đổi thành thày lương kiêng cả các động vật có màu lang (lợn lang, chuột lang).
16
- Đổi cả âm và nghĩa: Ví dụ, do trùng tên với Uy Man vương Trịnh Giang, huyện Thao
Giang đổi thành Lâm Thao; các địa danh Tống Giang, Nga Giang (Thanh Hoá) đổi thành
Tống Sơn, Nga Sơn; La Giang (Nghệ An), Nghĩa Giang (Quảng Nam) đổi thành La Sơn,
Nghĩa Sơn (hoặc Chương Nghĩa); do húy kỵ tên bà Hồ Thị Hoa (mẫu hậu của vua Thiệu Trị)
nên chợ Đông Hoa (Huế) đổi thành Đông Ba. Hoặc do trùng tên với thành hoàng làng là Lý
Bổn, trang Lập Bồn phải đổi thành Lập Chí rối Lập Trí (nay là xã Minh Trí, Sóc Sơn, Hà
Nội).
e) Do nguyện vọng, ý chí của con người:
Nhiều địa danh bị thay đổi do người dân cảm thấy ý nghĩa của địa danh không tốt đẹp. Ví
dụ, ngưòi dân ở ngoài đê sông Hồng (Hà Nội) thường bị lụt lội do lũ sông Hồng nên đặt tên làng
là Cơ Xá với nghĩa là làng “nhà gác” (cơ ngơi). Nhưng do cuộc sống vẫn khổ cực nên họ lại suy
luận ra nghĩa Cơ Xá là làng “nghèo khổ” (cơ cực) nên mới đổi thành Phúc Xá. Tương tự, làng Vô
Điền đổi thành Hữu Điền, Đại Ác đổi thành Đại An, huyện Khắc Nhân, Khắc Trung (Phong
Dinh) đổi thành Thuận Nhân, Thuận Trung, v.v Cũng có thể do vua chúa hoặc các nhà lãnh đạo
đặt cho tên mới. Ví dụ, Vĩnh Tế Sơn (núi Sam), Thoại Sơn (núi Sập), các kênh Thoại Hà, Vĩnh
Tế hoặc đảo Titôp (ở Vịnh Hạ Long), núi Các Mác, suối Lê Nin (ở Pắc Bó, Cao Bằng)
f) Do sự thay đổi các đơn vị hành chính:
Sự thay đổi về hành chính cũng có thể làm cho địa danh thay đổi. Ví dụ, hai tỉnh Cao Bằng
và Lạng Sơn sáp nhập thành tỉnh Cao Lạng (nay lại tái lập hai tỉnh như trước), hai tỉnh Nghệ An
và Hà Tĩnh nhập lại thành Nghệ Tĩnh, ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên nhập lại thành
Bình-Trị-Thiên, hai tỉnh Cao Lãnh và Sa Đéc sáp nhập thành Đồng Tháp, Bạc Liêu và Cà Mau
nhập lại thành Minh Hải, tỉnh Cần Thơ tách thành TP.Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, v.v Cũng có
tình trạng do thay đổi cấp hành chính làm thay đổi địa danh, thường thì cấp hành chính cũ được
giữ lại trong địa danh mới (nhất là các địa danh chỉ có một từ). Ví dụ, mường Khương đổi thành
huyện Mường Khương, châu Diễn thành huyện Diễn Châu (Nghệ An), kon Tum thành tỉnh Kon
Tum, buôn Ma Thuột thành TP. Buôn Ma Thuột, pley Ku thành thị xã Pleiku, sóc Trăng thành
tỉnh Sóc Trăng, v.v
Lương, rào Thanh), v.v…
18
CHƯƠNG III
PHÂN LOẠI VÀ PHÂN VÙNG ĐỊA DANH
1. PHÂN LOẠI ĐỊA DANH
Phân loại địa danh là vấn đề khá phức tạp. Thông thường, người ta chia địa danh thành các
loại theo 2 hệ thống như sau:
1.1. Phân loại địa danh theo đối tượng:
a) Địa danh tự nhiên: Địa danh tự nhiên là địa danh về các đối tượng tự nhiên như sông,
núi, biển, đảo v.v Ví dụ: sông Cửu Long, núi Sam, dãy Trường Sơn, hồ Than Thở, đảo Phú
Quốc, vịnh Hạ Long, vũng Rô, bán đảo Hòn Khói, mũi Nai, biển Đông, v.v Địa danh tự nhiên
có thể chia thành các loại như sau:
+ Địa danh sông ngòi: là các đối tượng nước chảy thường xuyên trên bề mặt đất như sông
Hồng, ngòi Thia, rạch Chiếc, suối Đá, nậm Rốm, khuổi Cải, xẻo Chít, rào Nậy, kênh Cùng, v.v
+ Địa danh hồ đầm: là các đối tượng nước đọng trên bề mặt đất như hồ Tây, hồ Suối Hai,
ao Vua, đầm Vạc, đầm Sen, bàu Sen, bàu Bàng, láng Tròn, láng Thé, v.v
+ Địa danh đồi núi: là các dạng địa hình dương trên bề mặt đất như núi Đọi, núi Sam,
Trường Sơn, Chử Yang Sin, Pu Luông, Khau Cọ, Bù Rinh, đồi Độc Lập, đồi Tức Dụp, v.v
+ Địa danh rừng rú: là tên gọi của rừng rú, truông, trảng như rừng Cúc Phương, rừng U
Minh, rừng Sát, rú Mượu, ngàn Hống
11
, truông Nhà Hồ, truông Mây, trảng Bàng, v.v
+ Địa danh vũng vịnh: là tên gọi của các vùng nước ven biển ăn vào đất liền như vịnh Bắc
Bộ, vịnh Cam Ranh, vũng Tàu, vũng Rô, vũng Quýt (Dung Quất), v.v
+ Địa danh hải đảo, địa danh cồn, giồng: là các dạng địa hình dương trên bề mặt nước
(biển hoặc sông) như đảo Cồn Cỏ, Côn Đảo, quần đảo Trường Sa, hòn Tre, hòn Nghệ, cồn Hến,
cồn Ấu, cồn Cái Khế, cù lao Dung, v.v
b) Địa danh kinh tế-xã hội: Địa danh kinh tế-xã hội là địa danh về các đối tượng được
hình thành do các hoạt động của con người. Địa danh kinh tế-xã hội bao gồm rất nhiều loại như:
làng, bản, thôn, xã, huyện, tỉnh, thị xã, thành phố, cầu, cống, đường, nhà ga, sân bay, bến xe, bến
8006 xã, hương, thôn, phường, trang, động, sách, nguyên, trưởng.
Hiện nay, ngoài cấp trung ương, ở nước ta có 3 cấp hành chính cơ bản là xã - huyện - tỉnh;
tương đương với ba cấp này có các đơn vị hành chính dùng cho đô thị là phường (thị trấn) -
quận (thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) - thành phố trực thuộc trung ương.
Bảng hệ thống các cấp hành chính Việt Nam
Các cấp cơ bản Xã Huyện Tỉnh
Các cấp tương đương
(đối với đô thị)
Thị trấn Thị xã, Thành phố
Phường Quận Thành phố
+ Địa danh khác (cầu đường, bến bãi, ngã ba, ngã tư, chùa, miếu, cơ quan, xí nghiệp, ):
Loại địa danh này rất đa dạng và phức tạp. Ví dụ, cầu Ông Lãnh, cầu Mỹ Thuận, ngã sáu Cộng
Hoà, bùng binh Cây Gõ, chùa Dơi, chùa Vĩnh Nghiêm, miếu Bà Chúa Xứ, tháp Bà, lăng Ông Bà
Chiểu, lăng Cha Cả, đường Trần Hưng Đạo, bảo tàng Quang Trung, khách sạn Khánh Hưng,
bệnh viện Xanh Pôn, v.v
Hệ thống phân loại như trên chỉ mang tính tương đối. Có những tên gọi vừa ở nhóm này,
vừa ở nhóm khác. Ví dụ: hòn, ngọc, đảo v.v vừa là danh từ chỉ núi (Hòn Chông, Ngọc Linh,
Tam Đảo…) vừa là danh từ chỉ đảo (Hòn Dấu, Hòn Nghệ, đảo Bạch Long Vĩ, Côn Đảo…);
ngàn có thể chỉ núi (núi Ngàn Hống), có thể chỉ sông (sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố); sông,
núi cũng có thể chỉ đơn vị hành chính: tỉnh Tiền Giang, tỉnh Sông Bé, huyện Núi Thành, huyện
Sông Cầu, v.v
Hãy tìm những tỉnh, hụyện có tên từ sông, núi.
20
Trung ương:
Địa phương:
Cơ sở:
Mặt khác, sự chuyển hoá và thay đổi các cấp hành chính của địa danh rất phức tạp. Ví dụ,
Hà Tiên trước kia là tỉnh (Nam Kỳ lục tỉnh), sau đổi thành thị trấn, hiện nay được nâng cấp
thành thị xã; Kon Tum, Buôn Ma Thuột là tên một buôn (bản) chuyển thành tên tỉnh, tên
thành phố….
Tiền, hang Công Binh, hòn Trại Thuỷ, đồi Ông Bụt, bãi Bụt, v.v
1.2. Phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ:
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc). Ngoài mối quan hệ giao lưu văn hóa với các
nước Đông Nam Á láng giềng, lại chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa lớn (Trung Hoa, Ấn
Độ, Pháp,…). Vì vậy nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh Việt Nam rất phức tạp. Có thể chia ra các
loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ như sau:
a) Địa danh thuần Việt:
Địa danh Việt hay địa danh thuần Việt là các địa danh đặt theo ngôn ngữ của người Việt,
cũng có người gọi là đặt tên nôm (nam). Ví dụ, kẻ Noi, kẻ Sặt, kẻ Gỗ, Trôi, Nhổn, xóm Củi, cầu
Muối, rạch Bần, v.v
b) Địa danh Hán Việt:
13
Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta dùng từ nước (hay đất nước, sông núi ) để chỉ Tổ Quốc: Nước Việt Nam hay
đất nước Việt Nam
14
Nguyễn Dương Bình: “Về thành phần dân tộc của người Nguồn”, 1975.
15
Đỗ Thuý Bình, Nguyễn Văn Huy, La Công Ý: “Góp phần tìm hiểu người R’ngao”, 1978.
16
Phạm Đức Dương: “Về mối quan hệ Việt Mường, Tày Thái qua tư liệu dân tộc ngôn ngữ”, 1978.
21
Địa danh Hán Việt là địa danh được đặt theo ngôn ngữ Hán (hoặc Hán-Việt), cũng có
người gọi là đặt tên chữ. Ví dụ, sông Thiên Đức, sông Nhật Đức, sông Cửu Long, núi Trường
Sơn, dãy Thất Sơn…
c) Địa danh gốc Khmer:
Địa danh gốc Khmer là địa danh đặt theo ngôn ngữ Khmer. Loại địa danh này ở Nam Bộ
rất phổ biến: Tưk Khmau (Cà Mau), Svayton (Tri Tôn), chùa Bramatuc (Mã Tộc), đồi Tưk Dup
(Tức Dụp), v.v…
d) Địa danh gốc Pháp:
Địa danh gốc Pháp có thể là đặt theo ngôn ngữ Pháp hoặc có nguồn gốc ngôn ngữ Pháp
+Nhóm hỗn hợp: Lachi, Laha, Cơlao, Pupéo
b) Ngữ hệ Thái (8 ngôn ngữ): Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Giáy, Lào, Lự, Bố y.
c) Ngữ hệ Nam Đảo (5 ngôn ngữ): Giarai, Êđê, Chăm, Raglai, Churu.
d) Ngữ hệ Hán-Tạng (9 ngôn ngữ):
+Nhóm Hán: Hoa (Hán), Sán dìu, Ngái.
+Nhóm Tạng-Miến: Hà Nhì, Phù Lá, La hủ, Lô lô, Cống, Sila.
22
2.2. Phân vùng địa danh Việt Nam
Cho đến nay, việc nghiên cứu phân vùng địa danh Việt Nam còn mang tính thể nghiệm và
định hướng. Do những khó khăn khách quan như sự cư trú đan xen phức tạp của dân cư, sự biến
động địa danh trong lịch sử v.v Vì vậy, những sơ đồ phân vùng địa danh mới chỉ có tính chất
tham khảo. Hy vọng rằng, trong thời gian không xa, chúng ta sẽ xây dựng được hệ thống phân
vùng địa danh hoàn chỉnh và khoa học hơn.
Bảng phân vùng địa danh Việt Nam (theo Nguyễn Văn Âu)
Miền địa danh Khu địa danh Vùng địa danh
Miền địa danh Nam Á
Khu địa danh Việt - Mường 1. Vùng địa danh Việt
2. Vùng địa danh Mường
Khu địa danh Môn - Kh’mer 3. Vùng địa danh Banar-Tà Ôi
4. Vùng địa danh Banar-Sêđăng
5. Vùng địa danh Mnông-Mạ
6. Vùng địa danh Kh’mer
Khu địa danh Tày Thái 7. Vùng địa danh Thái
8. Vùng địa danh Tày Nùng
Khu địa danh H’mông - Dao 9. Vùng địa danh H’mông
10. Vùng địa danh Dao
Miền địa danh Nam
Đảo
Khu địa danh Chàm- Jarai 11. Vùng địa danh Chàm
12. Vùng địa danh Jarai
MN Thanh Nghệ
4. DH Bắc Trung Bộ Xứ Thanh - Xứ Nghệ - Bình Trị Thiên (xứ
Huế)
5. DH Nam Trung Bộ Xứ Quảng – Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình
Thuận
6. Trường Sơn-Tây Nguyên Trường Sơn - Bắc TN - Trung TN - Nam
TN
7. Nam Bộ S.Đồng Nai - SGòn GiaĐịnh - ĐBSCL
CHƯƠNG IV:
TÌM HIỂU ĐỊA DANH VIỆT NAM
Trong hệ thống các địa danh có hai loại địa danh đặc biệt quan trọng là tên gọi sông ngòi
và tên gọi làng xã. Đây là hai loại địa danh rất quan trọng và có ảnh hưởng đến các loại địa
danh khác. Ngoài ra, tuỳ theo mức độ, các địa danh núi, rừng, đồng ruộng cũng có vai trò
quan trọng nhất định.
1. ĐỊA DANH SÔNG NGÒI
Việt Nam là xứ sông nước, sách Lĩnh Nam chích quái có viết, người Việt “lặn giỏi, bơi tài,
thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền”. Như vậy là từ xa xưa, dòng sông đã gắn bó với đời sống
người Việt Nam
18
. Trong ngôn ngữ Việt Nam có nhiều từ liên quan đến sông nước
19
.
Cũng vì vậy, các địa danh sông ngòi thường rất cổ và được bảo lưu khá bền vững, ít bị biến
đổi trong quá trình lịch sử. Địa danh sông ngòi cũng liên quan đến các địa danh khác, nhất là các
địa danh về địa bàn cư trú của con người.
Đặc điểm của sông ngòi là chảy dài qua nhiều vùng lãnh thổ khác nhau. Những người dân
mặc dù ở những vùng khác nhau nhưng lại có thể cùng chung một dòng sông. (“Anh ở đầu sông
em cuối sông”(Hoài Vũ). Vì vậy, địa danh sông ngòi vừa thể hiện nét đặc trưng theo vùng, vừa
thể hiện sự giao lưu văn hóa-ngôn ngữ rất đa dạng.
Địa danh sông ngòi được coi là một trong những cơ sở để xác định không gian văn hoá.
… thì các từ “nậm”, “đak”, “krông”, “xẻo” có ý nghĩa danh từ riêng rõ rệt hơn (nếu bỏ đi sẽ hiểu
sai địa danh).
Do thói quen, người ta vẫn dùng những tên gọi địa danh rất phức tạp: sông Cửu Long
Giang, sông Nậm Khê Hà (Nậm Ty), sông Ea Krông Hinh (sông Hinh), sông Lòng Sông, sông Ba
Lòng, v.v
Từ những phân tích sơ bộ như trên, ta thấy rằng có nhiều yếu tố danh từ riêng trong địa
danh có nghĩa danh từ chung (do sự chuyển hoá từ danh từ chung thành danh từ riêng). Vì vậy,
chính các yếu tố danh từ riêng có thể là cơ sở để xác định các yếu tố danh từ chung. Ví dụ,
Khung Giang - Mè Khoỏng - Mê Nam - Nam Song - Nậm Suông là sự chuyển hoá phức tạp của
các danh từ chung thành danh từ riêng trong địa danh sông ngòi.
Theo Hoàng Thị Châu
22
, từ “sông” vốn là biến âm của một từ gốc Đông Nam Á cổ. Có rất
nhiều tên gọi gần với từ này ở các vùng khác nhau trong khu vực Đông Nam Á như:
Sung: sung Lung, sung Vang (phụ lưu sông Đà, sông Cả);
Kiang, kung, khung, khoảng, khoỏng: khung Giang, khung Bích (Thái ở Tây Bắc); Mè
Khoỏng (Lào);
Công, kông, krông, kron: Đăkron (dak krong), kron Buk, Ea kron, kron Ana (Tây
Nguyên);
Ta hãy nghiên cứu một số nhánh cụ thể về địa danh sông ngòi như sau:
Sông (song, sung, suông) - slong (long) - klong - ka long - long (lòng) - lương (lươn) -
lung - luông - lang - giang:
Sung Lung (phụ lưu S.Đà), Sung Vang, Khe Sung (phụ lưu S.Cả), khe Lung, Xung Lung (ở
Nghệ Tĩnh), sông Sa Lung (ở Thái Bình và Quảng Bình), nậm Si Lùng (ở Lai Châu)
Nam Song, nậm Suông (phụ lưu của sông Chảy)
Sông Lòng Sông (ở Ninh Thuận, Nam Trung Bộ), sông Long Đầu (ở Lạng Sơn), Long Kê,
Long Hầu (ở Thái Bình).
Suối Cờ Loong (Bắc Cạn), sông Ka Long (ở Móng Cái, ở Đức Thọ, ở Chợ Rã), sông Chàng
Long (phụ lưu sông Đà).
Một khía cạnh khác của “long” ở dạng Hán hóa: Thị Long (sông Cang) ở Thanh Hóa,