125 Hoàn thiện công tác quản trị Marketing tại Công ty cổ phần Đầu tư sản xuất thương mại SKY - Pdf 27

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập vào thế giới, việc
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của nhà nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã
cho phép các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh và
mở rộng buôn bán hợp tác với nước ngoài. Đây là một cơ hội nhưng đồng
thời cũng là một thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Giờ đây,
các doanh nghiệp phải chấp nhận quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của nền kinh
tế thị trường. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải thay đổi cơ cấu
tổ chức cho phù hợp thực tế, phải có biện pháp quản lý năng động, linh
hoạt, phải xây dựng áp dụng những chính sách phù hợp đúng đắn.
Trong điều kiện kinh tế thị trường đầy biến động, đặc biệt là xu thế
cạnh tranh ngày càng gia tăng trên thị trường gỗ Việt Nam, Marketing được
coi là một trong những công cụ không thể thiếu trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, góp phần giúp doanh nghiệp tạo lập uy tín, chỗ đứng cũng như
chiến thắng trên thị trường. Công ty Cổ phần Đầu tư sản xuất thương
mại S.K.Y là một trong những doanh nghiệp sớm nhận ra điều đó.
Trong những năm qua Công ty đã tiến hành nghiên cứu vận dụng
Marketing vào hoạt động sản xuất kinh doanh và đạt được những thành
công bước đầu, tuy vậy vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của Marketing
nên việc mở rộng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm còn nhiều khó
khăn và hạn chế. Công ty Cổ phần Đầu tư sản xuất thương mại S.K.Y
đã trở thành một trong những doanh nghiệp có uy tín cao trong ngành gỗ
Việt Nam, mặc dù công suất không lớn nhưng tiếng tăm và chất lượng
ngày càng được củng cố. Tuy nhiên để chiếm lĩnh thị phần và mở rộng thị
trường tương xứng với uy tín sản phẩm Công ty cần đầu tư mạnh hơn nữa
vào các hoạt động Marketing .
Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn cũng như khả năng bản thân, sau một
thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư sản xuất thương mại

1. Khái niệm
Quản lý kinh tế là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý. Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản
lý cấp trên, cùng đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là
những tổ chức, cá nhân nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân
người lao động. Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều
và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức lãnh đạo, lập kế hoạch,
điều chỉnh ……………….
Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cấu thành hệ thống quản lý. Một
nền kinh tế hay một doanh nghiệp đều xem như một hệ thống với hai phân
hệ chủ yếu: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Trong nhiều trường hợp
mỗi phân hệ cã thể coi như một hệ thống phức tạp.
Quản lý kinh tế là quá trình lựa chọn và thiết kế chức năng, nguyên
tắc,phương pháp, cơ chế, công cụ, cơ cấu tổ chức bảo đảm nguồn lực thông
tin, vật chất quản lý được thực thi.
Mục tiêu của quản lý kinh tế là huy động tối đa các nguồn lực, mà
trước hết là nguồn lực lao động và sử dụng hiệu quả để phát triển kinh tế
phục vụ lợi ích con người.
2. Các nguyên tắc quản lý
Các nguyên tắc quản lý là những quy tắc chủ đạo tiêu chuẩn hành vi mà
nhà quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản lý của mình.
Trên cơ sở những đòi hỏi của tổ chức, sự vận động các quy luật khách
quan, kết hợp với thực trạng xu thế phát triển của tổ chức và ràng buộc môi
trường hình thành nên những nguyên tắc chung của quản lý.
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
Ta có thể xem những nguyên tắc sau:
a. Tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc cơ bản của nhà quản lý nó phản ánh mối quan hệ

Là nguyên tắc quy định mục tiêu của quản lý, bao gồm cả hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả đòi hỏi người
quản lý phải có quan điểm hiệu quả đúng đắn, biết phân tích hiệu quả trong
từng tình huống khác nhau, đặt lợi ích của tổ chức lê trên lợi ích của cá
nhân, từ đó ra quyết định tối ưu nhằm tạo được các thành quả có lợi ích
nhất cho nhu cầu phát triển của tổ chức.
e. Khách hàng thị trường mục tiêu
Một cách quản lý tồn tại trong lịch sử đó là nhà sản xuất chỉ làm
những cái mình có thể và vì thế mọi kết quả phần lớn là chủ quan. Cách
quản lý đó dẫn tới kết quả là doanh nghiệp sẽ mất khả năng thích ứng với
sự biến động của thị trường.
Ngày nay thị trường rộng lớn và biến đổi liên tục theo thời gian, nó
đòi hỏi nhà quản lý phải nhận biết đâu là thị trường trọng điểm mình có thể
khai thác và hiểu họ cần gì và mình phải đáp ứng cái gì. Luôn dự đoán
trước nhu cầu cảu họ để tạo nên các yếu tố sáng tạo trong tổ chức của
mình.
3. Nội dung quản lý kinh tế
Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác
nhau. Những loại công việc quản lý nay mang tính độc lập tương đối, được
hình thành trong quá trình chuyên môn hoá hoạt động quản lý. Đó có thể
coi là những nhiệm vụ mà quản lý cần làm và cũng là nội dung của chức
năng quản lý. Phân tích chức năng quản lý nhằm trả lời câu hỏi: các nhà
quản lý phải thực hiện những công việc gì trong quá trình quản lý, cũng là
để hiểu rõ nội dung của chức năng quản lý.
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
Hiện nay, các chức năng quản lý thường được xem xét theo hai cách
tiếp cận.
Nếu xét theo quá trình quản lý thì nội dung quản lý có thể được hiểu

Loại thứ hai là không chắc chắn về sự ảnh hưởng, tức là sự ảnh hưởng của
những biến đổi của môi trường là không thể lường trước và lượng hoá
chính xác. Một loại yếu tố khác không chắc chắn nữa là không chắc chắn
về hiệu quả. Tức là trước những vấn đề gặp phải tổ chức có thể đưa ra
những giải pháp, phản ứng nhưng không thể lựa chọn hậu quả sẽ đi đến
đâu.
a. Quá trình kế hoạch
Một quy trình chung cho một kế hoạch là thực sự cần thiết. Nó là sự
tổng quát hoá từ nhiều loại kế hoạch khác nhau trong các tổ chức quản lý.
Các lý thuyết khoa học quản lý đã thống nhất một quy trình như sau:
* Khẳng định sứ mệnh:
Như vậy công việc đầu tiên của lập kế hoạch. Là khẳng định sứ mệnh.
Đây là việc làm cần thiết với các nhà quản lý ở đó họ phải đưa ra quan
điểm và hệ tư tưởng xuyên suốt trong mọi hoạt động của tổ chức. Việc làm
này nhằm mục đích hướng các bộ phận, phân hệ trong tổ chức hoạt động vì
mục tiêu chung nhất quán với mục tiêu tối cao của tổ chức. Qua đó khiến
từng cá nhân và nhóm làm việc gắn mình với ý niệm của tổ chức và để họ
hiểu rằng việc làm của họ, kế hoạch mà họ tham gia là hướng tới cái gì và
họ đang được gì và có trách nhiệm như thế nào với mục tiêu ấy. Từ đó tạo
tình huống thống nhất xuyên suốt quá trình kế hoạch.
* Nghiên cứu và dự báo.
Đây là công việc được tiến hành bởi các chuyên gia hoặc nhà quản lý
trực tiếp làm. Họ cần thu nhập thông tin bên trong và bên ngoài tổ chức để
xem tổ chức đang đối mặt với cái gì và cần phải làm gì và có thể làm gì?
* Xác định mục tiêu.
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
Sau khi đã có những thông tin từ nghiên cứu và dự báo, việc xác định mục
tiêu được tiến hành. Tức là xác định kết quả cuối cùng mà tổ chức mong muốn

thử nghiệm.
Phương án tối ưu được lựa chọn không hẳn là phương án thoả mãn
tất cả các yếu tố nói trên mà thường là phương án thoả mãn nhiều nhất
những yếu tố đó.
• Thể chế kế hoạch:
Từ phương án tối ưu được lựa chọn các nhà quản lý sẽ đưa vào thực
tế thông qua thể chế hoá. Thực chất là làm pháp lý hoá bằng các văn bản
pháp quy để đảm bảo tính thực hiện. Quá trình kế hoạch đi vào thực tế
không tránh khỏi sự phản ứng bất lợi và để đảm bảo thực hiện được thông
suốt thì phải đảm bảo bằng công cụ pháp lý.
3.2. Tổ chức:
“ Tổ chức là hoạt động quản lý mang tính chuyên môn hoá nhằm
thiết lập một hệ thống các vị trí, chức năng của mỗi cá nhân, bộ phận sao
cho các cá nhân và bộ phận đó phối hợp được với nhau thực hiện mục tiêu
hiệu quả nhất”.
Đây là chức năng thứ hai của nhà quản lý sau chức năng lập kế
hoạch, bao gồm các hoạt động:
+ Phân tích chiến lược, mục tiêu chiến lược của tổ chức rồi phân
chia các hoạt động của tổ chức thành các hoạt động chuyên môn hoá. Từ đó
chia tổ chức thành các bộ phận để thực hiện các hoạt động nói trên.
+ Xác lập vị trí các cá nhân và mối quan hệ giữa họ tức là xác lập
cơ chế làm việc, hình thành cơ cấu bộ máy và được đảm bảo bằng nhân lực
cho hoạt động.
Việc tổ chức là do các nhà lãnh đạo, quản lý quyết định nhưng cũng
phải dựa trên những cơ sở khoa học, những thuộc tính cơ bản và nguyên
tắc riêng có của tổ chức.
3.3. Lãnh đạo:
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
Xem tổ chức như một hệ thống mở, vận động và tồn tại theo những
quy luật khách quan. Hệ thống này bao gồm nhiều bộ phận ( phần tử),
nhiều nhân tố ảnh hưởng trong mối quan hệ tác động qua lại để tạo thành
một chỉnh thể. Nếu một nhân tố, một bộ phận nào đó có vấn đề sẽ ảnh
hưởng đến các nhân tố và bộ phận khác và đến cả hệ thống.
II. Quản trị marketing
1. Khái niệm marketing.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều địnmarrketi về marketing. Ngay ở
Mỹ, quê hương của marketing cũng có người coi marketing là bán hàng và
quảng cáo, trong khi đó có người coi marketing là sáng tạo và phân phối sự
sống...Theo quan điểm hiện nay marketing tồn tại ở hai mức độ Macro và
Micro. Micromarketing là nhằm vào người tiêu dùng hay tổ chức tiêu dùng
cá biệt còn Macromarketing là nhằm vào nhu cầu của toàn xã hội.
Micromarketing là việc thực hiện mọi hoạt động để đạt được mục tiêu
của mỗi doanh nghiệp thông qua việc sẽ đoán trước nhu cầu của khách
hàng điều khiển dòng hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế từ người sản xuất
đến người tiêu dùng một cách có hiệu quả để đảm bảo cân bằng cung cầu
và thực hiện các mục tiêu của xã hội
Tóm lại, Marketing hiện đại bao gồm tất cả những suy nghĩ, tính toán
và hoạt động của nhà kinh doanh sản xuất tiêu thụ và cả những dịch vụ sau
khi bán hàng.
Ở nước ta điều quan trọng hiện nay là làm cho mọi người nhất là lãnh
đạo doanh nghiệp hiểu marketing vừa là khoa học vừa là nghệ thuật kinh
doanh nhằm làm cho sản xuất kinh doanh phù hợp với mọi nhu cầu của thị
trường theo đúng các triết lý của marketing nhưng cũng không phạm sai
lầm vì quá đề cao vô lý vai trò chức năng của marketing.
2. Vai trò của marketing
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
11

12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
o Mở rộng ranh giới thị trường
o Thiết kế hàng hoá.
o Chiếm lĩnh thị trường.
o Đánh giá khả năng của marketing
o Mục tiêu của công ty.
o tiềm năng của công ty.
3.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu
Quá trình phát hiện và đánh giá những khả năng của thị trường thường
nảy ra nhiều mục tiêu mới. Và nhiều khi nhiệm vụ thực sự của công ty lại
là lựa chọn những ý tưởng tốt nhất trong số những ý tưởng phù hợp với
những mục tiêu và tiềm năng của công ty.
o Đo lường và dự báo cầu
o Phân khúc thị trường
o Lựa chọn khúc thị trường mục tiêu
1.Tập trung vào một khúc duy nhất. Công ty có thể quyết định chỉ
phục vụ một khúc thị trường.
2.Hướng vào nhu cầu ng ười mua. Công ty có thể tập trung vào việc
thoả mãn một nhu cầu nào đó của người mua.
3.Hướng vào nhóm người tiêu dùng
4.Phục vụ một vài khúc thị trường không liên quan với nhau. Công ty
có thể quyết định phục vụ một vài phần thị trường ít liên quan đến nhau, ngoại
trừ một điểm là mỗi phần đó đều mở ra cho công ty một khả năng hấp dẫn.
5.Chiếm lĩnh toàn bộ thị trường.
Khi thâm nhập vào thị trường mới phần lớn các công ty đều bắt đầu
từ việc phục vụ một khúc và nếu bước đầu thành đạt thì lần lượt chiếm lĩnh
các khúc khác. Cần phải suy tính kỹ trình tự chiếm lĩnh các khúc thị trường
trong khuôn khổ một kế hoạch tổng hợp.
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002

các nhà kinh doanh cần phải giải quyết được các vấn đề như: người tiêu
dùng cần sản phẩm gì của doanh nghiệp? ( Từ thời điểm, quy mô, cơ cấu,
địa điểm, giá cả đến phương thức...)
Chu kỳ sống của sản phẩm thường qua 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Là lúc mới thâm nhập vào thị trường: sản phẩm mới đưa
ra trên thị trường, người tiêu dùng chưa phải ai cũng biết, doanh số còn ít,
chi phí lớn. Lý do là dây chuyền sản xuất chưa ổn định, quảng cáo chưa
đến nơi.
Giai đoạn 2: Là gia đoạn chín muồi( hưng thịnh ): uy tín sản phẩm của
doanh nghiệp ở mức tối đa, người mua đạt tới mức tối đa, lãi thu được cũng
lớn nhất.
Giai đoạn 3: Là giai đoạn ổn định
Giai đoạn 4: Là giai đoạn suy giảm: việc bán hàng trở nên khó khăn,
khách hàng giảm dần, doanh số bán tụt xuống, ít hiệu quả, cho dù tiến hành
các biện pháp chiêu thị một cách tích cực.
Giai đoạn 5: là giai đoạn trì trệ, doanh số bán hàng giảm nhanh, chính
khách hàng không muốn mua sản phẩm đó nữa, sản phẩm đã bị lão hoá,
cần được loại bỏ. Doanh nghiệp cần phải căn cứ vào chu trì sống của sản
phẩm để đạt được chiến lược giá cả và phân phối sản phẩm vào cuối gia
đoạn 3 thì phải nảy sinh về ý đồ sản phẩm mới để tiến hành thử nghiệm
sẵn.
- Kế hoạch hoá sản phẩm:
Đây là quá trình phát triển sản phẩm mới, điều chỉnh hay xoá bỏ đi
một số sản phẩm hiện tại để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, sử
dụng hết được nhu cầu của khách hàng, tận dụng hết năng lực của doanh
nghiệp. Mục tiêu của kế hoạch hoá sản phẩm là phát hiện một sản phẩm
tiêu thụ được nhiều. Công việc này chủ yếu dựa vào phân tích các yêu cầu
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
- Hệ thống phân phối hiện có cần được xem xét khi muốn có sự thay
đổi kênh phân phối hoặc mở rộng hình thức phân phối mới.
Quản lý về giá:
Đối với hoạt động của doanh nghiệp, giá cả có một vai trò rất lớn. Giá
cả là một bộ phận cấu thành marketing hỗn hợp, là công cụ cạnh tranh quan
trọng của doanh nghiệp. Đối với người tiêu dùng thì giá cả có ảnh hưởng to
lớn trong quyết định mua hàng hoá dịch vụ. Vì vậy việc định giá bán phải
bồi hoàn đủ chi phí, đảm bảo mức lãi và người tiêu dùng chấp nhận trong
điều kiện thị trường biến động với nhiều cạnh tranh gay gắt. Có các cách
định giá sau:
+ Định giá dựa vào chi phí
+ Định giá theo công thức
Giá thành
Giá bán =
1- hệ số lãi

F
Giá thành = V +
Số sản phẩm
Trong đó:
V là chi phí biến đổi đơn vị sản phẩm.
F là tổng chi phí cố định.
+ Định giá hướng vào nhu cầu.
+ Định giá theo đối thủ cạnh tranh là căn cứ vào giá của đối thủ
cạnh tranh.
+ Cách định giá phân biệt
- Quản lý chiêu thị :
Chiêu thị là hoạt động xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp trên thị
trường nói chung và thị trường mục tiêu nói riêng của doanh nghiệp. Mục

Các phương pháp quảng cáo: thông thường có bốn cách quảng cáo:
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
Thứ nhất: tiến hành quảng cáo suốt ngày đêm, loại này nên dùng
quảng cáo ngoài trời và tờ rơi.
Thứ hai: Tiến hành quảng cáo từng đợt. loại này cứ sau một khoảng
thời gian lại tiến hành quảng cáo.
Thứ ba: Tiến hành một chiến dịch quảng cáo bằng cách tung một sản
phẩm mới hay đi vào một thị trường mới
Thứ tư: quảng cáo đột xuất, chỉ sử dụng đối với sản phẩm có vấn đề
Thông điệp quảng cáo: là nội dung thông tin cần tuyển đã được mã
hoá dưới dạng một ngôn ngữ nào đó.
Đánh giá hiệu quả quảng cáo: Đây là vấn đề rất khó, tuy nhiên cúng
có thể sử dụng phương pháp tương đối như sau:
+ Điều tra tỷ lệ người hiểu thông điệp
+ Căn cứ vào doanh thu tăng lên của kỳ sau so với kỳ trước
Xúc tiến bán hàng là các hoạt động gây mối liên hệ giữa doanh nghiệp
và khách hàng.
Các hoạt động xúc tiến bao gồm:
Bán hàng trực tiếp
Lập sổ góp ý của khách hàng
Tổ chức hội nghị khách hàng
Yểm trợ bán hàng:
Để có thể bán hết sản phẩm trên thị trường doanh nghiệp có thể tiến
hành các hoạt động như:
Tham gia hội trợ triển lãm
Tham gia các hoạt động thể dục thể thao
Tổ chức họp báo
Mở hội thảo

* Nghnh ngh kinh doanh chớnh ca cụng ty
- Mua bỏn ging t, bn, gh;
- Mua bỏn gia dng khỏc( tranh nh, gng soi, m mỳt)
- Sn xut ging t, bn gh sn xut cỏc sn phm khỏc;
- Sn xut ni tht gia dng, vn phong, trng hc;
- Sn xut g ni tht (bn, gh, t, t bp);
- Sn xut dựng ni tht , vn phũng ( bn gh, t lm vic)
- Sn xut dựng trong trng hc ( bng, bn gh, t)
Công ty đợc thành lập từ năm 2000
Trụ sở chính: Tổ 8 P. Trần Phú Q .Hoàng Mai HàNội
Văn phòng chính: Tổ 8 P. Trần Phú Q Hoàng Mai HàNội
Sv: Mạc Thế Anh MS: 504401002
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
Tel: 04. 6434312
Fax: 04. 0101956899
M· sè thuÕ: 0500413012
Tµi Kho¶n : 0011001672886
b. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY:
* Đại hội cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, có
nhiệm vụ theo dõi, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban kiểm
sát, quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần, sửa đổi bổ
sung điều lệ công ty thông qua báo cáo tài chính hàng năm, mỗi năm triệu
tập họp đại hội cổ đông hai lần.
* Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân
danh công ty để quyết định mọi vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
22
Chủ tịch HĐQT
Giám đốc

sản xuất kinh doanh.
-Phó giám đốc : Chịu trách nhiệm giúp giám đốc chỉ đạo một số khâu
trong quản lý sản xuất, điều động lao động. Tham mưu giúp giám đốc xây
dựng kế hoạch đôn đốc thực hiện.
-Phòng tổ chức : Là phòng nghiệp vụ tham mưu giúp giám đốc quản
lý các lĩnh vực công tác như tổ chức nhân sự. Hành chính quản trị.
-Phòng kế toán : Có chức năng quản lý theo dõi diễn biến tài sản và
vốn cảu doanh nghiệp, thực hiện ghi chép sổ sách kế toán theo đúng chế độ
hiện hành.
-Phòng kinh doanh : Tìm kiếm và thực thi những kế hoạch đã được
hội đồng quản trị vạch ra những phương hướng trong công ty đẩy mạnh và
phát triển không ngừng.
-Phòng marketing : là giới thiệu tiêu thụ sản phẩm mới phân tích
đánh giá tìm những khách hàng tiềm năng.
- Phòng kỹ thuật chất lượng: Quản lý kỹ thuật sản xuất: Nắm toàn
bộ chất lượng nguyên liệu đầu vào để đề xuất hướng sử dụng nguyên liệu
và sản xuất. Xây dựng bổ sung và hoàn chỉnh các quy trình công nghệ
hướng dẫn cho công nhân thực hiện, theo dõi để xử lý các khó khăn phát
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh
sinh. Nắm diễn biến của chất lượng sản phẩm để có chất lượng tốt hơn để
ổn định sản xuất.
-Các phân xưởng : Có chức năng trực tiếp sản xuất các sản phẩm
theo kế hoạch điều độ của nhà máy, nâng cao tinh thần sáng tạo,phát huy
sáng kiến tăng năng suất lao động.
-Kho bãi : Là nơi chứa hàng hoá sản xuất, nơi giao nhận hang của
công ty
Ngoài ra còn có phòng quân sự bảo vệ và lái xe xây dựng nội quy về
trật tự an ninh.

Độ bám đinh vít:
Bề mặt
Cạnh
N
N
1550-2000
1000 - 1500
- Ngoài ra Gỗ MDF khi ra thành phẩm đã được xử lý bằng những
chất phụ gia khác nhau nên đã khắc phục được nhược điểm của một số loại
gỗ tự nhiên như mối mọt , cong vênh trong thời gian sử dụng.
- Về giá thành , loại gỗ MDF mà công ty sử dụng có giá thành thấp
hơn so với gỗ tự nhiên trên thị trường, do đó người tiêu dùng đều có thể sử
dụng được những đồ nội thất trong gia đình bằng chất liệu gỗ công nghiệp
mà không lo phải mua quá đắt những sản phẩm cùng loại bằng chất liệu gỗ
tự nhiên.
- Do điều kiện khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa nên
trong năm thường có thời điểm “nồm”, hiện tượng tường nhà và sàn nhà đổ
mồ hôI vì vậy ít.
- Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại gỗ MDF của một số
công ty nhập từ Malayxia, Trung Quốc…. Và một số công ty trong nước
đang sản xuất như : Công ty MDF Gia Lai thuộc tổng công ty VINAFOR,
Công ty MDF Quảng Trị, Xí nghiệp chế biến gỗ và lâm sản Việt Trì…Loại
gỗ mà Công ty s.k.y đang sử dụng là gỗ MDF của Công ty MDF Gia Lai
với một số ưu điểm vượt trội:
+ Ván MDF Gia Lai có khổ rộng hơn tất cả các loại ván MDF khác
trên thị trường, độ dày của ván đa dạng, phông phú .
Sv: M¹c ThÕ Anh MS: 504401002
25

Trích đoạn Cỏc chớnh sỏch xỳc tiến hỗn hợp Phõn tớch khả năng của thị trường Kết quả đạt được từ chiến lược Marketing của Cụng ty S.K.Y Định hướng phỏt triển của cụng ty trong thời gian tới Quản lý phõn phối sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status