Lời mở đầu
Kinh tế Nhà nớc nói chung, doanh nghiệp Nhà nớc nói riêng đã đợc xây dựng
và phát triển ở nớc ta gần 50 năm. Trong quá trình đó các doanh nghiệp Nhà nớc đã
góp phần quan trọng tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật trong quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế đất nớc, nhất là trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại
đất nớc hiện nay. Song những kết quả hoạt động của đa số các doanh nghiệp Nhà n-
ớc cha tơng xứng với nguồn lực đầu t, cha phát huy đợc vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nhiều thành phần, định hớng lên chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa trong khu vực
kinh tế này còn nẩy sinh nhiều hiện tợng tiêu cực. "Bài toán hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Nhà nớc" đang là vấn đề lớn, đợc các cấp các ngành, địa
phơng quan tâm giải quyết.
Trong điều kiện tự nhiên xã hội của mình, tỉnh Lai Châu rất coi trọng việc
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp Nhà nớc nói riêng và ở
các doanh nghiệp khác nói chung, giúp cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị tr-
ờng và thắng lợi trong cạnh tranh. Mặt khác, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
ở các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh còn góp phần giữ vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế của tỉnh, giúp đỡ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Sau nhiều năm sắp xếp và đăng ký lại doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh
theo Nghị định 388/CP, Nghị định 90/CP, 91/CP, Chỉ thi 500/TTg, tuy số lợng
doanh nghiệp Nhà nớc có giảm, song nhìn chung các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn
trong tình trạng hoạt động kém hiệu quả; nhiều doanh nghiệp Nhà nớc tuy đợc thành
lập lại nhng vẫn làm ăn thua lỗ, nợ quá hạn không có khả năng thanh toán; các doanh
nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về kỹ thuật và
công nghệ; vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc cha phát huy hết tiềm năng và năng lực
sẵn có.
Trớc thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà n-
ớc trên địa bàn tỉnh Lai châu trong điều kiện mới, nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm
năng sẵn có của doanh nghiệp để xứng đáng với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
nhiều thành phần, tác giả đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: "Một số vấn đề về
nâng cao hiệu quả kinh doanh Đối với các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn
tỉnh Lai Châu".
Nhà kinh tế học ngời Anh Adam Smith cho rằng "hiệu quả là kết quả đạt đợc
trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" nhà kinh tế học ngời Pháp
Ogiephri cũng quan tâm nh vậy, ở đây hiệu quả đợc đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết
quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản
xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này
chúng có cùng hiệu quả.
Quan niệm thứ hai cho rằng:" Hiệu quả là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm
của kết quả và phần tăng thêm của chi phí". Quan niệm này đã biểu hiện đợc quan
hệ so sánh tơng đối giữa kết quả đạt đợc và chi phí đã tiêu hao. Nhng xét trên quan
điểm triết học Mác- Lênin thì sự vật và hiện tợng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu
cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ. Hơn nữa sản xuất
kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với
các yếu tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh
doanh thay đổi. Theo quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ đợc xét tới phần
kết quả bổ sung và chi phí bổ sung.
Quan niệm thứ ba: hiệu quả đợc đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra
để đạt đợc kết quả đó. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh đựơc mối quan hệ
bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó đã gắn đựoc kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu
quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên, quan điểm
này cha biểu hiện đợc tơng quan về lợng và chất của kết quả và cha phản ánh hết
3
mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này. Để phản ánh đợc trình độ sử dụng các nguồn
lực, chúng ta phải cố định1 trong 2 yếu tố hoặc kết qủa đạt đợc hoặc chi phí bỏ ra,
nhng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin thì các yếu tố này không ở trạng
thái tĩnh mà luôn luôn biến đổi và vận động.
Quan niệm thứ t cho rằng: Hiệu quả là mức độ thoả mãn yêu cầu của qui luật
kinh tế cơ bản của xã hội chủ nghĩa, cho rằng quĩ tiêu dùng với tính cách là chỉ tiêu
đại diện cho mức sống của mọi ngời trong các doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này có u điểm là đã bám sát mục tiêu cầu nền sản
việc làm, cải thiện đời sống cho nhân dân.v.v...
Trong quản lý kinh doanh không những cần tính toán hiệu quả đạt đợc trong
hoạt động của từng ngời, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán - quan trọng
hơn, phải đạt đựoc hiệu quả kinh tế- xã hội đối với nền kinh tế quốc dân. "Hiệu quả
kinh tế- xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển" (Chiến lợc kinh tế-
xã hội đến năm 2000). Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội
có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân
chỉ có thể đạt đợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy vây,
có thể có những doanh nghiệp không đảm bảo đợc hiệu quả (bị lỗ) nhng nền kinh tế
vẫn thu đợc hiệu quả. Tuy nhiên, tình hình thua lỗ của doanh nghiệp nào đó chỉ có
thể chấp nhận đợc trong những thời điểm nhất định do những nguyên nhân khách
quan mang lại. Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội vì đó
chính là tiền đề và điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, nhng để
doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội chung của nền kinh tế quốc dân,
Nhà nớc cần có các chính sách đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của xã hội với lợi ích
của doanh nghiệp và cá nhân ngời lao động.
Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp.
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trờng và thị
trờng của nó. Doanh nghiệp phải căn cứ vào thị trờng để giải quyết những vấn đề
then chốt: Kinh doanh cái gì, kinh doanh nh thế nào, kinh doanh cho ai và với chi
phí là bao nhiêu?
Mỗi nhà cung cấp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong
những điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ
chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh. Họ đa ra thị trờng sản phẩm của mình
đối với một chi phí cá biệt nhất định và ngời nào cũng muốn tiêu thụ đợc hàng hoá
của mình với giá cao nhất, Tuy vậy, khi đa sản phẩm của ra bán trên thị trờng, họ
5
chỉ có thể bán theo mức giá cả thị trờng, nếu sản phẩm của họ có chất lợng tơng đ-
ơng. Bởi vì thị trờng chỉ thừa nhận mức trung bình xã hội cần thiết về hao phí để sản
xuất ra một đơn vị hàng hoá. Qui luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức
vốn bỏ ra.v.v...
Ngời ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một
thơng vụ nào đó, để biết đợc với những chi phí bỏ ra sẽ thu đợc những lợi ích cụ thể
và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không cho th -
ơng vụ đó. Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải
bỏ ra chi phí dù với một lợng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối.
Hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt
đối của các phơng án với nhau. (Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức
chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phơng án). Mục đích chủ yếu của việc tính
toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phơng án (hoặc cách làm khác nhau
cùng thực hiện một nhiệm vụ) từ đó cho phép lựa chọ một cách làm có hiệu quả cao
nhất.
Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, ngời ta không chỉ tìm thấy
một cách (một phơng án, một con đờng, một giải pháp) mà có thể đa ra nhiều cách
làm khác nhau. Mỗi cách làm đó đòi hỏi lợng đầu t vốn, lợng chi phí khác nhau, thời
gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu t cũng khác nhau. Vì vậy, muốn đạt đợc
hiệu quả kinh tế cao, ngời làm công tác quản lý và kinh doanh không nên tự trói mình
vào một cách làm màphải vận dụng mọi sự hiểu biết đa ra nhiều phơng án khác nhau,
rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phơng án đó để chọn ra một phơng án có lợi nhất.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
song chúng lại có tính độc lập tơng đối. Trớc hết, xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ
sở để xác định hiệu quả so sánh. Nghĩa là, trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của
từng phơng án, ngời ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phơng án với nhau. Mức
chênh lệch chính là hiệu quả so sánh.
Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánhđợc xác định không phu thuộc
vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối. Chẳng hạn, việc so sánh giữa mức chi phí của
các phơng án với nhau để chọ ra phơng án có chi phí thấp, thực chất chỉ là sự so
sánh mức chi phí của các phơng án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu qủa
tuyệt đối của các phơng án.
1.3- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Chi phí bỏ ra
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả thu được
Hệ thống các chỉ tiêu
Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh giữa kết
quả kinh tế và chi phí kinh tế ta sẽ lập bảng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn những chỉ
tiêu cơ bản nhất sao cho số lợng các chỉ tiêu là ít nhất, tổng hợp nhất thuận lợi cho
việc tính toán và phân tích.
Chỉ tiêu Doanh thu (DT) Lợi nhuận (P)
Lao động (N) W = DT/N
Chỉ tiêu này phản ánh một lao
động có thể làm đợc bao nhiêu
đồng doanh thu trong một kỳ
B = P/N
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ
đóng góp của mỗi ngời lao động
đối với doanh nghiệp vào lợi
nhuận hay kết quả kinh doanh
Vốn cố định (G) H
1
= DT/G
Chỉ tiêu này biểu hiện mức tăng
kết quả kinh doanh của mỗi đơn vị
giá trị TSCĐ nhng chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả kinh tế tổng hợp nhất
của vốn cố định thờng đợc sử
dụng là mức doanh lợi
H
2
= P/G
T
1
= DT/C
Hiệu quả sử dụng chi phí phản
ánh doanh thu đạt đợc khi bỏ ra 1
đồng chi phí
T
2
= P/C
Mức sinh lợi của 1 đơn vị chi
phí biểu thị mức lợi nhuận thu
đợc khi 1 đồng chi phí đợc bỏ ra
Thời gian hoàn
vốn đầu t (T
V
)
T
V
= V
ĐT
/P + K
C
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả
của vốn đầu t sau khi đã đợc vật
E = (P+K
C
)/V
ĐT
Hệ số này cho biết, trong thời gian
một năm, một đơn vị vốn đầu t sẽ
ĐT
: Tổng lợng vốn đầu t xây dựng cơ bản
W:Doanh thu bình quân 1 lao động K
c
: Mức khấu hao cơ bản hàng năm
H
1
: Hiệu quả sử dụng tài sản cố
định
T
v
: Thời hạn hoàn vốn đầu t
H
2
: Mức sinh lợi của vốn cố định D
Z
: Tỷ suất lợi nhuận tính theo giá thành
H
3
: Số vòng quay của vốn lu động Z: Giá thành hàng hoá và dịch vụ
H
4
:Mức doanh lợi của vốn lu động
2 . Sự cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với
doanh nghiệp Nhà nớc
2.1- Vị trí vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc
Doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN) là những cơ sở kinh doanh do Nhà nớc sở hữu
hoàn toàn hay một phần. DNNN phân biệt với doanh nghiệp t nhân ở quyền sở hữu
của Chính phủ và phân biệt với các cơ quan khác cửa Chính phủ ở tính chất kinh
doanh thơng mại, tạo ra thu nhập qua cung cấp hàng hoá và dịch vụ của chúng. Đặc
95% nh ở Tiệp khắc (cũ).
Từ những nguyên nhân trên, sự ra đời và tồn tại các doanh nghiệp Nhà nớc là
sự đòi hỏi khách quan có tính phổ biến của mọi nền kinh tế.
Sự ra đời và tồn tại của các doanh nghiệp Nhà nớc thờng do những nguyên
nhân về chính trị - xã hội, kinh tế khách quan chi phối.
11
ở nớc ta hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc đợc hình thành dựa trên ba con đ-
ờng sau đây:
- Nhà nớc quốc hữu hoá các doanh nghiệp của t sản mại bản.
- Cải tạo các doanh nghiệp t bản trong nớc, khi tiến hành công cuộc cải tạo
xã hội chủ nghĩa nền kinh tế.
- Nhà nớc xây dựng các doanh nghiệp mới từ vốn ngân sách, vốn vay nợ hay
vốn viện trợ nớc ngoài.
Các doanh nghiệp Nhà nớc của ta đợc hình thành chủ yếu bằng con đờng thứ ba
- Nhà nớc xây dựng các doanh nghiệp mới từ vốn ngân sách, vốn vay hay vốn viện trợ
của nớc ngoài trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế đất nớc.
Do hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau nh vậy nên hệ thống doanh
nghiệp Nhà nớc của ta có trình độ phát triển rất khác nhau, đặc biệt là về quy mô,
trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ, tổ chức và quản lý. Mặt khác, trong những
giai đoạn khác nhau, hệ thống doanh nghiệp đợc xây dựng trên những quan điểm
khác nhau nh: u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, xây dựng cơ cấu
kinh tế tự lực, tự cờng, phát triển kinh tế địa phơng và xây dựng huyện. vv... có một
thời gian khá dài hệ thống doanh nghiệp ở miền Bắc còn bị phá hoại nặng nề của
chiến tranh.
Hiện nay ở nớc ta, doanh nghiệp Nhà nớc đợc coi là tổ chức kinh tế do Nhà
nớc đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt
động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nớc giao
(Điều 1 - Luật Doanh nghiệp Nhà nớc)
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đất nớc, từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trờng, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc, theo định h-
kinh tế quốc dân. Do vậy, hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc phải bảo đảm sự
thống nhất giữa lợi ích của tập thể cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và lợi
ích chung của toàn hệ thống kinh tế quốc dân. Sự thống nhất về mục tiêu đạt hiệu
quả kinh tế - xã hội ngày càng cao sẽ là cơ sở bảo đảm cho sự thống nhất chung.
Bốn là, doanh nghiệp Nhà nớc là một tổ chức xã hội, có trách nhiệm làm chủ
các phơng tiện kỹ thuật, tài nguyên và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Từ những chức năng và vai trò mới của doanh nghiệp Nhà nớc, trong hiện tại
và tơng lai, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Nhà nớc,
bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa.
13
2.2- Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp Nhà nớc.
Đặc điểm nổi bật bao quát toàn bộ các khu vực doanh nghiệp Nhà nớc là, bên
cạnh sự cần thiết và tác động tích cực không thể phủ nhận của doanh nghiệp Nhà n-
ớc, thì đây là khu vực hoạt động kém hiệu quả nhất về kinh tế - kỹ thuật, gây ra
những tổn thất to lớn cho các nguồn lực phát riển của đất nớc. Nguyên nhân của tình
trạng này có thể kể ra nh sau:
- Các mục tiêu mà Chính phủ áp đặt cho các doanh nghiệp Nhà nớc nhiều khi
mâu thuẫn nhau, dẫn đến sự hoạt động của doanh nghiệp mất hiệu quả về kỹ thuật
(chẳng hạn vì lý do phát triển không cấn đối giã các vùng, doanh nghiệp Nhà nớc
buộc phải đặt cơ sở tại những vùng địa lý bất lợi cho sản xuất kinh doanh).
- Nhiều doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động theo nguyên tắc độc quyền, không
tuỳ thuộc vào lợi nhuận mà nó đem lại, dẫn đến làm mất tác dụng của cơ chế cạnh
tranh kích thích tính hiệu quả của doanh nghiệp.
- Mặc dầu với số lợng nhân viên hành chính đông đảo hơn hẳn các doanh
nghiệp khác, các thông tin từ doanh nghiệp Nhà nớc cho Chính phủ thờng tỏ ra kém
chất lợng, làm tăng tính chủ quan các can thiệp của Nhà nớc vào hoạt động của
doanh nghiệp. Chính sự kết hợp giữa quản lý yếu kém và công nghệ lạc hậu của
doanh nghiệp đã dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn và năng suất lao động thấp, nhiều
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần tăng lợi nhuận trong các
doanh nghiệp, qua đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho ngời lao động.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà
nớc sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nớc; đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội theo cả
chiều rộng lẫn chiều sâu; tạo điều kiện giải quyết nhiều việc làm cho ngời lao động.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ góp phần thúc đẩy quá
trình chuyển từ nền kinh tế sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn; góp phần tạo ra nguồn
vốn tích luỹ nội bộ ngày càng lớn, tạo điều kiện vật chất thuận lợi để phát triển sản
xuất, mở rộng giao lu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa các địa phơng và giữa
các quốc gia; góp phần vào việc ổn định nền kinh tế đất nớc.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Nhà nớc giúp cho các doanh nghiệp có khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật tiên tiến, đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá các thiết bị- công nghệ, tạo điều
kiện cho nền kinh tế đất nớc phát triển nhanh và bền vững.
15
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho các doanh
nghiệp Nhà nớc vơn lên giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, hớng dẫn và giúp đỡ
các thành phần kinh tế khác giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc phải bảo đảm các yêu cầu sau:
Thứ nhất, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh một mặt
phải giảm chi phí lao động xã hội, mặt khác phải bảo đảm chất lợng sản phẩm và
không ngừng mở rộng mặt hàng đáp ứng những nhu cầu đa dạng của xã hội.
Thứ hai, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải
giải quyết những vấn đề kinh tế - kinh doanh, vừa giải quyết những vấn đề xã hội
của đất nớc, đó là:
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải gắn liền với vấn đề
giải quyết việc làm cho xã hội, đảm bảo điều kiện lao động hợp lý và thuận tiện cho
ngời lao động.
theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đồng thời, nó cũng phải đợc phân
phối theo cách kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích với nhau.
Thứ sáu, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp Nhà nớc
đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
đó với nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là tiền đề thúc đẩy việc
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, đem lại lợi nhuận
ngày càng cao, góp phần nângcao đời sống cho ngời lao động trong doanh nghiệp và
mang lại lợi ích kinh tế cho đất nớc. Ngợc lại, khi hiệu quả kinh tế của đất nớc đợc
nâng cao sẽ tạo những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp phát triển, đạt hiệu quả kinh tế cao.
17
Chơng 2
Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh Lai Châu
1- Tình hình hoạt động và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà
nớc trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
1.1- Tình hình tổng quát của các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh
Lai Châu.
Những năm trớc đây, hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động ở hầu hết các
ngành, các lĩnh vực kinh tế và đã góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế của tỉnh Lai Châu, tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc giải quyết vấn
đề xã hội, thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nớc. Bớc vào thời kỳ mới,
mặc dù khó khăn, nhng một số doanh nghiệp dần dần ổn định sản xuất kinh doanh, một
số doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả đã đợc tổ chức sắp xếp lại hoặc giải thể.
Năm 1986 -1987, toàn tỉnh Lai Châu có 65 doanh nghiệp Nhà nớc (trong đó tỉnh
quản lý 43 doanh nghiệp, huyện quản lý 22 doanh nghiệp) đến năm 1989 giải thể 6
doanh nghiệp, còn 59 doanh nghiệp.
Thực hiện nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trởng
về việc thành lập lại và giải thể doanh nghiệp Nhà nớc, chỉ thị 500/TTg ngày
25/8/1995 của Thủ tớng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu đã chỉ đạo
20%
66%
14%
0%
DN công ích
Dn kinh doanh
Dn công ích & kinh doanh
0
2
4
6
8
10
12
Nông -Lâm
Công nghiệp
Xây lắp
Vận tải
Bán lẻ
Văn hoá thể thao
Tư vấn
Tài chính
đồng. Tuy nhiên, số vốn thực tế phát huy đợc tác dụng chiếm gần 70% (trên 30% là vốn
không phải khấu hao, tồn động chờ xử lý, thất thoát do thiên tai, công nợ khó đòi....).
Nhìn chung, vốn kinh doanh thuộc sở hữu Nhà nớc tại các doanh nghiệp rất thấp,
số vốn này mới đạt 34% vốn pháp định, và chiếm 47% trong tổng số vốn huy động vào
kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong số các doanh nghiệp hiện nay thì có 45% doanh
nghiệp có vốn Nhà nớc dới 500 triệu đồng; 27,5% doanh nghiệp có vốn nhà nớc từ 500
triệu đến 1 tỷ đồng; 19,5% doanh nghiệp có vốn Nhà nớc từ 1 đến 3 tỷ đồng; 3,5% doanh
nghiệp có vốn từ 3 đến 5 tỷ đồng và 3,5% doanh nghiệp có vốn Nhà nớc trên 5 tỷ đồng
hiện nay do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý có 138 cán bộ lãnh đạo và quản lý doanh
nghiệp, trong đó có 49 giám đốc, 48 phó giám đốc và 41 kế toán trởng.
Về tuổi đời: 45 cán bộ dới 40; 27 cán bộ tuổi từ 40 đến 45; 36 cán bộ tuổi từ 45
đến 50; 30 cán bộ tuổi trên 50.
Về trình độ chuyên môn: đại học có 53 cán bộ; trung cấp 74 cán bộ; trình độ sơ
cấp 11 cán bộ. Trong đó 3 cán bộ không có bằng cấp chuyên môn.
Về trình độ văn hoá: 105 cán bộ trình độ 10/10; 33 cán bộ trình độ 7/10.
Về trình độ chính trị: 4 cán bộ có trình độ cao cấp; 27 cán bộ có trình độ trung
cấp; 1 cán bộ có trình độ sơ cấp và 106 cán bộ có bằng về lý luận chính trị.
Biểu 1: Số liệu về thực trạng doanh nghiệp Nhà nớc trên
địa bàn tỉnh Lai Châu
Chỉ tiêu Đ/vị tính 1987 1989 1998
1- Số lợng doanh nghiệp DN 65 59 58
- Tỉnh quản lý DN 43 49
- Huyện quản lý DN 22 -
- Tổng công ty 90 & 91 7
- Thuộc khối Đảng quản lý 2
2- Lao động doanh nghiệp Nhà nớc ngời 5.000 - 4.336
3 - Quy mô DNNN phân theo vốn kinh doanh
- Dới 500 triệu % 45
- Từ 1- 3 tỷ đồng % 19,5
- Từ 3 - 5 tỷ đồng % 3,5
- Trên 5 tỷ đồng % 3,5
4- Tổng số vốn doanh nghiệp Nhà nớc tỷ đồng 167
Nguồn: Báo cáo Phơng án sắp xếp DNNN của tỉnh Lai Châu, năm 1998
21
1.2- Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa
bàn tỉnh Lai Châu
- Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà n ớc phân theo ngành:
Ngành nông nghiệp:
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 2.400 2.363 1.983
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 3.203 2.053 2.077
- Vốn Nhà nớc 2.121 963 943
3 - Nợ phải thu 1.917 2.392 1.378
4- Nợ phải trả 1.800 4.170 4.306
5 - Tổng doanh thu 7.613 9.886 5.270
6 - lãi lỗ 107 49 72
7- Các khoản nộp ngân sách 361 236 102
8- Số lao động (ngời) 345 331 334
Nguồn: Báo cáo Phơng án sắp xếp DNNN, Ban t vấn đổi mới DNN, năm 1998
Ngành khai thác Than:
Có 1 doanh nghiệp là công ty than hiện đang gặp khó khăn về thị trờng tiêu thụ
sản phẩm, vốn bị ứ đọng, nợ vay ngân hàng cao. Sản phẩm tồn kho khoảng trên 10.000
tấn than, trung khi đó than trung uơng đợc trợ cớc vận chuyển giá bán thấp hơn.
Ngành công nghiệp chế biến:
Có 6 doanh nghiệp, ngoài xí nghiệp in ổn định sản xuất kinh doanh, còn lại các
doanh nghiệp khác đều gặp khó khăn. Có 3 doanh nghiệp : Xí nghiệp chế biến gỗ, Công
ty Vật liệu xây dựng I, Nhà máy cơ khí Lai Châu quy mô nhỏ bé sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả, thiếu vốn kinh doanh. Còn lại 2 doanh nghiệp là : Công ty Xuất nhập khẩu
và dịch vụ Thơng mại, công ty Vật liệu xây dựng II mới đầu t dây truyền sản xuất sản
phẩm nhng cha kinh doanh đạt hiệu quả, sản phẩm tồn kho lớn vẫn còn thua lỗ.
Biểu 4: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN
thuộc ngành chế biến gỗ
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 3.508 3.752 3.709
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 336 1.408 1.402
Là những công ty thơng nghiệp đợc hởng một phần chính sách hỗ trợ của
Nhà nớc trong việc cung ứng các mặt hàng chính sách xã hội cho đồng bào vùng
cao. Đợc Nhà nớc cấp vốn dự trữ lu thông các mặt hàng, tình hình sản xuất kinh
doanh tơng đối ổn định.
Biểu 6: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN
thuộc ngành bán lẻ
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 10.998 11.210 12.871
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 11.660 11.337 13.207
- Vốn Nhà nớc 8.609 8.279 9.740
3 - Nợ phải thu 3.460 319 4.258
4- Nợ phải trả 5.583 14.621 16.646
5 - Tổng doanh thu 69.284 62.150 68.792
6 - lãi lỗ 991 573 590
7- Các khoản nộp ngân sách 1.253 1.231 1.551
8- Số lao động (ngời) 638 621 581
Ngành vận tải:
24
Các công ty vận tải ô tô gặp khó khăn, phơng tiện vận tải cũ nát, không đủ sức
cạnh tranh, giá cớc vận tải không đủ bù đắp chi phí.
Các ngành khác:
+ Một doanh nghiệp : Công ty t vấn xây dựng và Khảo sát Thiết kế Giao thông
sản xuất kinh doanh ổn định có hiệu quả.
+ 2 doanh nghiệp thua lỗ: Công ty số số kiến thiết, Công ty Điện ảnh.
+ 3 doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ: Xí nghiệp khảo sát thiết kế thuỷ lợi, xí
nghiệp Khảo sát thiết kế xây dựng, công ty Văn hoá tổng hợp.
Biểu 7: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN khác
Đơn vị tính: Triệu đồng