Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Công ty Nạo vét Đường biển I - Pdf 12

Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp luôn có mối
quan tâm hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Tất nhiên họ
còn quan tấm đến nhiều mục đích khác nhau như tạo công ăn việc làm, nâng
cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ với
chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường... Tuy nhiên, một
doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu này nếu đáp ứng được
hai thử thách sống còn và là hai mục tiêu cơ bản: kinh doanh có lãi và thanh
toán được nợ. Chính vì vậy đã đến lúc họ phải tập trung sự chú ý nhiều hơn
vào việc quản lý và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của
mình. Bởi vì vốn là một trong hai yếu tố quan trọng quyết định sản xuất và
lưu thông hàng hoá. Do vậy bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát
triển đều phải quan tâm đến vấn đề tạo lập vốn, quản lý và sử dụngvốn sao
cho có hiệu quả nhất nhằm đem lại lợi nhuận nhiều nhất.
Trước kia trong thời kỳ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đại bộ
phận các doanh nghiệp quốc doanh ra đời và hoạt động trong điều kiện nhà
nước giao vốn, bao cấp về giá, sản xuất và tiêu thụ theo đơn đặt hàng của
Nhà nước, lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù... do đó doanh nghiệp chẳng
mấy quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn, thậm chí có doanh nghiệp "lỗ giả
lãi thật" để được nhà nước bù lỗ chênh lệch, chạy đua thành tích. Tình trạng
doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn kém hiệu quả so với các doanh nghiệp
ở các thành phần kinh tế khác biểu hiện rất rõ rệt trong môi trường cạnh
tranh khốc liệt ngày nay khi mà đất nước ta đang trong quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN "các DNNN không còn được
bao cấp về giá và vốn, phải chủ động kinh doanh với quyền tự chủ đầy đủ,
đảm bảo tự bù đắp chi phí, nộp thuế đầy đủ và có lãi..." Theo tinh thần đó
nhà nước tạo hành lang pháp lý, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
1
Chuyên đề thực tập

Công ty Nạo vét Đường biển I.
Trước sự thay đổi về chất trong hoạt động của các công ty Việt Nam,
cùng với việc áp dụng đầy đủ chế độ kế toán mới ở doanh nghiệp, vấn đề
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đã thay đổi sâu sắc cả về phương pháp luận
và chỉ tiêu đánh giá. Do đó, tạo nên khó khăn rất lớn trong quá trình nghiên
cứu đề tài và mắc những sai sót không tránh khỏi. Vì vậy rất mong sự đóng
góp của các thầy, cô giáo.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo -TS.Phan
Thị Nhiệm và các cô chú cán bộ Công ty Nạo vét Đường biển I giúp em
hoàn thành bài luận văn này.
Sinh viên thực hiện: Hồ Thái Sơn
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
3
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I. Vốn và vai trò của vốn trong kinh doanh
1. Khái niệm về vốn sản xuất kinh doanh:
Bất cứ một doanh nghiệp nào lúc đầu cũng phải có một lượng tiền vốn
nhất định để thực hiện những khoản đầu tư ban đầu cần thiết cho việc xây
dựng và khởi động doanh nghiệp. Vốn là yếu tố vật chất cần thiết nhất và
cần được sử dụng có hiệu quả. Doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ vật tư, để
đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, để chi phí cho quá trình sản xuất kinh
doanh và được thể hiện ở nhiều hình thái vật chất khác nhau. Do có sự tác
động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động thì
hàng hoá và dịch vụ được tạo ra nhằm tiêu thụ trên thị trường. Sau cùng các
hình thái vật chất khác nhau sẽ lại được chuyển hoá về hình thái tiền tệ ban
đầu. Quá trình trao đổi đó đảm bảo cho sự ra đời, vận hành và phát triển của
doanh nghiệp có thể diễn tả như sau:

luận văn này, chúng ta sử dụng quan điểm làm quyết định về vốn qua con
mắt quản trị vốn ở công ty sản xuất. Với quan điểm đó, vốn được xem xét
trên giác độ chu chuyển. Quan tâm đến vấn đề này chúng ta cần chú ý đến
vốn cố định và vốn lưu động.
2.1. Khái niệm và đặc điểm vốn cố định:
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, đó chính là số
vốn doanh nghiệp đầu tư mua sắm, trang bị cơ sở vật chất. Để là tài sản cố
định phải đạt được cả hai tiêu chuẩn. Một là, phải đạt được về mặt giá trị
đến một mức độ nhất định (ví dụ hiện nay giá trị của nó phải lớn hơn hoặc
bằng 5.000.000đồng). Hai là, thời gian sử dụng phải từ trên 1 năm trở lên.
Với những tiêu chuẩn như vậy thì hoàn toàn bình thường với đặc điểm hình
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
5
Chuyên đề thực tập
thái vật chất của tài sản cố định giữ nguyên trong thời gian dài. Tài sản cố
định thường được sử dụng nhiều lần, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và
chỉ tăng lên khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm. Qua quá trình sử
dụng, tài sản cố định hao mòn dần dưới hai dạng là hao mòn hữu hình và
hao mòn vô hình. Hao mòn vô hình chủ yếu do tiến bộ khoa học công nghệ
mới và năng suất lao động xã hội tăng lên quyết định. Hao mòn hữu hình
phụ thuộc vào mức độ sử dụng khẩn trương tài sản cố định và các điều kiện
ảnh hưởng tới độ bền lâu của tài sản cố định như chế độ quản lý sử dụng,
bảo dưỡng, điều kiện môi trường... Những chỉ dẫn trên đưa ra tới một góc
nhìn về đặc tính chuyển đổi thành tiền chậm chạp của tài sản cố định. Tuy
thế, các tài sản cố định có giá trị cao có thể có giá trị thế chấp đối với ngân
hàng khi vay vốn.
2.2. Cơ cấu vốn cố định:
Cơ cấu vốn cố định là tỉ lệ phần trăm của từng nhóm vốn cố định chiếm
trong tổng số vốn cố định. nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có một ý nghĩa
quan trọng là cho phép đánh giá việc đầu tư có đúng đắn hay không và cho

sự phân tích, đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa các bộ phận VCĐ được
biểu hiện bằng máy móc thiết bị và bộ phận VCĐ được biểu hiện bằng nhà
xưởng vật kiến trúc phục vụ sản xuất.
2.3. Nguồn vốn cố định
Mỗi khoản vốn cố định hay tài sản cố định trong doanh nghiệp không
tự nhiên mà có, nó nhất thiết phải được hình thành từ một nguồn đầu tư nhất
định. Nguồn vốn cố định chính là nguồn gốc tạo dựng, đầu tư để hình thành
nên các tài sản cố định của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, VCĐ dùng
để hoạt động sản xuất, kinh doanh được hình thành từ các nguồn sau:
Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách, do cấp trên cấp
phát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác xã và các cổ đông
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
7
Chuyên đề thực tập
đóng góp bằng tài sản cố định, hoặc vốn pháp định do chủ xí nghiệp bỏ ra
ban đầu khi thành lập xí nghiệp tư nhân.
Nguồn vốn tự bổ xung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định đã
được đầu tư hoặc mua sắm bằng quỹ công ty.
Nguồn vốn liên doanh: gồm các khoản vốn do các đơn vị tham gia liên
kết gặp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã hoàn
thành.
3. Vốn lưu động:
3.1. Khái niệm và đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động và biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu
thông. Đó là số vốn doanh nghiệp đầu tư để dự trữ vật tư, để chi phí cho quá
trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chi phí cho hoạt động quản lý của doanh
nghiệp. Hoàn toàn khách quan không như vốn cố định, VLĐ tham gia hoàn
toàn vào quá trình sản xuất kinh doanh, chuyển qua nhiều hình thái giá trị
khác nhau như tiền tệ, đối tượng lao động, sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, thành phẩm và trở lại hình thái tiền tệ ban đầu sau khi tiêu thụ sản

cơ cấu hợp lý đảm bảo độ "khoẻ mạnh" đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh
doanh từng thời kỳ. Để thuận lợi cho việc quản lý và xây dựng cơ cấu vốn
như thế, người ta thường có sự phân loại theo các quan điểm tiếp cận khác
nhau:
- Tiếp cận theo quá trình tuần hoàn và luân chuyển, VLĐ chia thành 3
loại:
+ Vốn trong dự trữ: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ
tùng thay thế, dự trữ... chuẩn bị đưa vào sản xuất.
+ Vốn trong sản xuất: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản
xuất như: sản phẩm dở dang, chi phí phân bổ, bán thành phẩm, tự chế tự
dùng.
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
9
Chuyên đề thực tập
+ Vốn trong lưu thông: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu
thông như tiền mặt, thành phẩm.
- Tiếp cận về mặt kế hoạch hoá, VLĐ được chia thành VLĐ không
định mức và VLĐ định mức.
+ VLĐ định mức là số vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ, nó bao gồm vốn dự trữ vật tư hàng hoá và
vốn phi hàng hoá.
+ VLĐ không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá
trình kinh doanh và trong sản xuất, dịch vụ phụ thuộc nhưng không đủ căn
cứ để tính toán được.
3.3. Nguồn vốn lưu động:
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp gồm có vốn tự có, vốn coi như
tự có và vốn đi vay. Từ các nguồn vốn khác nhau này doanh nghiệp có
phương cách huy động trên nhiều nguồn, hỗ trợ lẫn nhau đảm bảo cho yêu
cầu của doanh nghiệp.
- Vốn tự có bao gồm:

quan hệ giữa vốn và nguồn vốn về phương diện giá trị đầu tư như sau:
Giá trị TSCĐ + Giá trị TSLĐ = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
II.Nội dung của hoạt động quản lý vốn trong kinh doanh
1. Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định:
Quản lý VCĐ nghĩa là phải đi đến các quyết định. Giống như việc quản
lý hoạt động kinh doanh của công ty, việc quản lý VCĐ ảnh hưởng quan
trọng đến sự tồn tại và hiệu quả sử dụng vốn. Quản lý VCĐ thành công đòi
hỏi các nhà quản lý phải gắn liền sự vận động của VCĐ với các hình thái
biểu hiện vật chất của nó. Hơn thế nữa, để quản lý có hiệu quả VCĐ trước
hết cần nghiên cứu những tính chất và đặc điểm của tài sản cố định trong
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
11
Chuyên đề thực tập
doanh nghiệp. Trong khoa học quản lý VCĐ thường đi vào những nội dung
cụ thể sau:
1.1. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định
* Hao mòn tài sản cố định
Như đã đề cập sơ lược ở trên, trong quá trình sử dụng cũng như không
sử dụng tài sản cố định đều bị hao mòn dưới hai hình thức: hao mòn hữu
hình và hao mòn vô hình. Giống như hai khía cạnh của một vấn đề, cả hao
mòn hữu hình và hao mòn vô hình đều làm cho giá trị tài sản cố định giảm
xuống và chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố nào đều thể hiện dưới những
dạng khác nhau.
Hao mòn hữu hình là sự hao mòn về vật chất, tức là sự tổn thất dần về
chất lượng, tính năng kỹ thuật của TSCĐ. Thực chất kinh tế của hao mòn
hữu hình là giá trị của tài sản cố định dần dần giảm đi cùng với việc chuyển
dần giá trị của nó vào giá trị sản phẩm được sản xuất ra. Khi tài sản cố định
không được sử dụng, hao mòn hữu hình được thể hiện ở chỗ tài sản cố định
bị mất dần thuộc tính do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, do quá trình xảy
ra trong nội tại nguyên liệu cấu thành tài sản cố định đó. Như vậy hao mòn

sản phẩm. Như vậy khấu hao tài sản cố định là một khoản cấu thành phí lưu
thông và được bù đắp bằng doanh thu bán hàng. Về thực chất, khấu hao là
quá trình giảm giá trị của tài sản cố định. Việc suy giảm giá trị của tài sản cố
định cuối cùng sẽ dẫn đến khấu hao hết tài sản cố định, khi đó phải đầu tư
để có được tài sản cố định khác. Vậy quá trình này diễn ra trong bao lâu? Sở
dĩ đòi hỏi yêu cầu chính xác tương đối về thời gian như vậy bởi hai nguyên
nhân: thứ nhất nếu xác định không đúng thời gian sử dụng dẫn đến còn đang
sử dụng đã khấu hao hết, thứ hai chưa khấu hao hết đã hỏng. Cả hai nguyên
nhân này đều có ảnh hưởng không tốt tới sự vận động của vốn cố định và
giá thành sản phẩm làm ra. Để xác định đúng đắn thời hạn sử dụng tài sản
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
13
Chuyên đề thực tập
cố định chúng ta phải dựa vào cơ sở đã chỉ ra là phải xác định đúng được
hao mòn của tài sản cố định hay khấu hao tài sản cố định.
Khấu hao tài sản cố định được phân bổ trên hai hình thức là khấu hao
cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn. Khấu hao cơ bản nhằm tái bồi hoàn lại giá
trị tài sản cố định đã hao mòn. Khấu hao sửa chữa lớn nhằm bảo vệ duy trì
và kéo dài năng lực sử dụng bình thường của TSCĐ. Như vậy hai hình thức
khấu hao này có phương thức bù đắp và mục đích khác nhau, do đó tiền
trích khấuhao tài sản cố định được chia thành hai bộ phận theo phương pháp
xác định tỷ lệ:
Tỉ lệ khấu hao
cơ bản
=
Nguyên giá Chi phí thanh lý Giá trị đào thải
TSCĐ (ước tính) (ước tính)
Nguyên giá TSCĐ x Thời hạn sử dụng TSCĐ
Tỉ lệ khấu hao
sửa chữa lớn

và toàn bộ doanh nghiệp. Để lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định cần phải
xác định được tổng giá trị TSCĐ đầu kỳ, tổng giá trị TSCĐ tăng thêm và
giảm đi trong kỳ, mức khấu hao phải trích trong năm và tình hình phân phối
sử dụng các quỹ khấu hao. Theo quy định số 517/TTg ngày 21/10/1995 kế
hoạch khấu hao TSCĐ bao gồm:
- TSCĐ không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn (đất
đai).
- TSCĐ tăng thêm trong năm kế hoạch, nếu tăng vào một ngày nào đó
của tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Giá trị bình quân
của TSCĐ tăng
thêm trong năm KH
=
Giá trị TSCĐ tăng trong năm x Số tháng sử dụng
TSCĐ
12
- TSCĐ giảm bớt trong năm kế hoạch, nếu giảm bớt từ một ngày nào
đó của tháng thì tháng sau không tính khấu hao.
Giá trị bình quân
của TSCĐ giảm
trong năm KH
=
Giá trị TSCĐ giảm trong năm x Số tháng không sử
dụng TSCĐ
12
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
15
Chuyên đề thực tập
- Tổng giá trị bình quân TSCĐ phải tính khấu hao trong năm được
xác định theo công thức:

sang
+
Tổng giá trị
khấu hao cơ
bản kỳ kế
hoạch
-
Quỹ khấu hao
cơ bản chuyển
sang năm sau
Nghiên cứu các chỉ tiêu của kế hoạch khấu hao TSCĐ cho ta một ý
nghĩa đáng lưu ý trong việc đề xuất các ý kiến cho quản lý vốn cố định ở
doanh nghiệp. Bằng việc xem xét mức độ tăng giảm của các chỉ tiêu và xác
định các nguyên nhân tăng giảm đó, người quản lý thấy rõ được phần nào
cảnh quan và tình hình TSCĐ của doanh nghiệp để có các biện pháp điều
chỉnh hợp lý. Một ý nghĩa khác là cung cấp những thông số cần thiết cho
việc lập các kế hoạch, chương trình khác của doanh nghiệp về thị trường,
cạnh tranh...
1.3. Bảo toàn và phát triển vốn cố định
Trong quá trình tham gia vào cạnh tranh với các doanh nghiệp khác
nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp cần có một
hậu phương với tiềm lực vững mạnh, đó chính là vốn. Để phát huy được ý
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
16
Chuyên đề thực tập
nghĩa đó doanh nghiệp không những một mặt phải duy trì và phát triển các
hoạt động kinh doanh, mặt khác quan trọng hơn là phải bảo toàn và phát
triển được vốn nói chung và vốn cố định nói riêng.
Vấn đề đặt ra như trên không có nghĩa rằng việc doanh nghiệp làm ăn
có lãi thực thì không phải bảo toàn và phát triển vốn. ý kiến đó xuất phát từ

định
phải
bảo
toàn
=
Vốn cố
định được
giao đầu
kỳ
-
Khấu
hao đã
trích
trong kỳ
x
Hệ số điều
chỉnh
TSCĐ
±
Giá trị
TSCĐ (tăng,
giảm trong
kỳ)
Những thành công trong công tác bảo toàn VCĐ sẽ tạo cơ sở tốt cho kế
hoạch phát triển VCĐ. Phát triển VCĐ được doanh nghiệp trích từ lợi nhuận
để lại doanh nghiệp và phần khấu hao cơ bản để lại đầu tư xây dựng cơ bản,
thực hiện tái sản xuất mở rộng và mua sắm mới TSCĐ.
2. Nội dung hoạt động quản lý vốn lưu động:
2.1. Xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch
Xuất phát từ vai trò không thể thiếu của vốn lưu động đòi hỏi chúng ta

ngày dự
trữ
=
Số ngày
cách nhau
giữa 2 lần
mua
x
Hệ số
thu
mua
xen kẽ
+
Số
ngày
vận
chuyể
n
+
Số ngày
chỉnh lý
chuẩn
bị
+
Số
ngày
bảo
hiểm
Thứ hai, VLĐ định mức ở khâu sản xuất: được xác định riêng cho sản
phẩm dở dang, nửa thành phẩm tự chế, chi phí chờ phân bổ.

công xưởng
: 360 x
Định
mức
ngày dự
trữ
x
Hệ số
thành
phẩm tự
chế
Trong đó số ngày dự trữ của nửa thành phẩm phụ thuộc vào mức độ
sản xuất có nhịp nhàng không.
- VLĐ định mức cho chi phí chờ phân bổ được tính theo công thức:
Định mức
VLĐ cho chi
phí chờ phân
bổ
=
Mức dự trữ đầu
năm của chi
phí chờ phân
bổ
+
Số phát sinh
chi phí chờ
phân bổ trong
năm
-
Số phải

ngoài
Trong ba bộ phận trên, tuỳ theo đặc điểm của từng ngành thì mức độ
quan trọng của từng bộ phận sẽ khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất
thì VLĐ ở khâu sản xuất là quan trọng nhất. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
20
Chuyên đề thực tập
trong quá trình quản lý và sử dụng vốn phải ưu tiên cho bộ phận này một tỉ
lệ hợp lý, không ngừng tăng vốn cho sản xuất, giảm ở mức cho phép với
vốn dự trữ và lưu thông.
2.2. Kế hoạch nguồn VLĐ định mức
Như chúng ta đã biết, VLĐ của doanh nghiệp được hình thành từ 3
nguồn khác nhau như nguồn vốn tự có, vốn coi như tự có và vốn đi vay. Để
lập được kế hoạch nguồn VLĐ định mức đòi hỏi tất yếu là phải căn cứ vào
tình hình thực tế VLĐ năm trước và nhu cầu về vốn trong năm kế hoạch.
2.3. Bảo toàn và phát triển VLĐ
Một số lý do dẫn đến tất yếu phải bảo toàn vốn nói chung đã được đề
cập trong phần bảo toàn và phát triển VCĐ. Song do xuất phát từ đặc trưng
của VLĐ là chu chuyển toàn bộ, môt lần vào giá thành sản phẩm và hình
thái vật chất VLĐ thường xuyên biến đổi. Do vậy mà trạng thái tài sản lưu
động và vốn lưu thông cũng thường xuyên biến đổi. Theo quan điểm tiếp
cận như vậy thì các quyết định về bảo toàn và phát triển vốn lưu động phải
được thực hiện trên cả hai phương diện là hiện vật và giá trị. Vốn lưu động
sẽ được bảo toàn khi và chỉ khi bảo toàn được cả hai mặt này.
Bảo toàn về mặt hiện vật: phải bảo đảm cho VLĐ đầu kỳ bằng VLĐ
cuối kỳ để thoả mãn đẳng thức:
Số VLĐ đầu kỳ
Đơn giá sản phẩm mà doanh nghiệp
KD
=

năm của một số vật tư chủ yếu tính theo cơ cấu kế hoạch vốn lưu động định
mức của từng doanh nghiệp, phù hợp với đặc điểm, cơ cấu TSLĐ của từng
ngành, từng doanh nghiệp.
Khi đã có được những kết quả quan trong công tác bảo toàn vốn, doanh
nghiệp sẽ rất thuận lợi trong việc thực hiện phát triển vốn. Phát triển VLĐ
được lấy từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại.
III. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh
Bất kỳ hoạt động nào của con người, hoạt động nói chung và hoạt động
kinh doanh nói riêng, đều mong muốn đạt được những kết quả hữu ích nào
đó. Kết quả đạt được trong kinh doanh mới chỉ đáp ứng được phần nào yêu
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
22
Chuyên đề thực tập
cầu của cá nhân và xã hội. Tuy nhiên kết quả đó được tạo ở mức nào với giá
nào là vấn đề cần được xem xét vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động tạo
ra kết quả đó. Mặt khác, nhu cầu của con người bao giờ cũng lớn hơn khả
năng tạo ra sản phẩm của họ. Bởi thế, con người cần phải quan tâm đến việc
làm sao với khả năng hiện có, có thể làm ra được nhiều sản phẩm nhất. Do
đó nảy sinh vấn đề là phải xem xét lựa chọn cách nào để đạt được hiệu quả
lớn nhất. Chính vì thế khi đánh giá hoạt động kinh tế người ta thường sử
dụng hiệu quả kinh tế cùng với các chỉ tiêu của nó. Hiệu quả kinh tế là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực xã hội để đạt
được kết quả cao nhất với chi phí nguồn lực thấp nhất. Hiệu quả kinh tế có
thể tính theo công thức sau:
Kết quả đầu vào
Hiệu quả kinh tế =
Yếu tố đầu ra
Xuất phát từ những nguyên lý chung như vậy, trong lĩnh vực vốn kinh
doanh định ra hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Hiệu quả sử dụng vốn
chính là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình kinh doanh, hay cụ thể

1.2. Vòng quay toàn bộ vốn
Đây là chỉ tiêu đo lượng hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánh
một đồng vốn được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang
lại mấy đồng doanh thu
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn =
Tổng số vốn
1.3. Kỳ thu tiền trung bình
Trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, việc phát sinh các
khoản phải thu, phải trả là điều tất yếu. Khi các khoản phải thu càng lớn,
chứng tỏ vốn của doanh nghiệp đang bị ứ trong khâu thanh toán. Nhanh
chóng thu được vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán là bộ phận quan trọng
trong công tác tài chính nói chung và công tác quản lý, sử dụng vốn nói
riêng. Vì vậy, sẽ không ngạc nhiên khi các nhà quản lý, các nhà kinh doanh,
rất quan tâm tới thời gian thu hồi của các khoản phải thu. Để nắm chắc
Hồ Thái Sơn Lớp: KTPT 47A_QN
24
Chuyên đề thực tập
thông tin về khả năng thu hồi vốn và làm cơ sở cho việc dự tính các quyết
định của mình, các nhà phân tích đã đưa ra chỉ tiêu "kỳ thu tiền trung bình".
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Kỳ thu tiền
trung bình
=
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân
ngày
=
Các khoản phải thu x
360

Trích đoạn Kế hoạch lao động và đơn giá tiền lương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status