BÀI ĐIỀU KIỆN Chuyên đề Kiểm định, đáng giá và quản lý giáo dục - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
@&?

BÀI ĐIỀU KIỆN
Chuyên đề: Kiểm định, đáng giá và quản lý giáo dục
.
Giảng viên : PGS.TS. Trần Thị Tuyết Oanh
Học viên:
Lớp cao học K23 - QLGD2.

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2014
1
BÀI ĐIỀU KIỆN
Chuyên đề: Kiểm định đánh giá và quản lý chất lượng giáo dục
Giảng viên: PGS.TS. Trần Thị Tuyết Oanh
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Anh
Lớp Cao học quản lý giáo dục 2 - khoá 23
Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
CÂU HỎI
Mục đích, ý nghĩa của KĐCL giáo dục, cho ý kiến đánh giá về thực trạng
KĐCL giáo dục hiện nay?
TRẢ LỜI
1. Mục đích của Kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục
thường xuyên nhằm giúp cơ sở giáo dục xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo
dục trong từng giai đoạn, để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, nâng
cao chất lượng các hoạt động giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan quản
lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của cơ sở giáo dục; để cơ quan
quản lý nhà nước đánh giá và công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng
giáo dục.

+ Đối với người quản lý: Nắm được chất lượng của việc dạy, việc học. Điều chỉnh
hoạt động dạy, hoạt động học
Kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là sinh viên, học
sinh sự đảm bảo chắc chắn một trường học đã được chứng minh thỏa mãn các yêu
cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng trường này sẽ tiếp tục đạt
các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra.
Kiểm định chất lượng không những mang lại cho cộng đồng bằng chứng về
chất lượng đào tạo nhà trường mà còn mang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất
lượng cho các trường đã qua kiểm định. Một trường học chỉ được công nhận về
chất lượng khi đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chí của hội đồng kiểm tra và chịu
sự kiểm tra của các cán bộ đánh giá giàu kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm
định của giáo dục đại học.
Kiểm định chất lượng mang lại cho các trường cơ hội tự phân tích đánh giá
để có những cải tiến về chất lượng.
* Thực trạng: Qua thực tế hiện nay việc kiểm định chất lượng giáo dục hiện nay
tôi thấy thông qua việc kiểm định chất lượng chúng ta đã làm rõ được những nội
dung sau:
a. Đối với học sinh.
Việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành thường xuyên, có hệ thống đã giúp
học sinh: Có hiểu biết kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” bên trong. Điều
chỉnh hoạt động học tập của chính mình được thể hiện ở ba mặt sau:
- Về mặt giáo dưỡng , việc kiểm tra, đánh giá giúp các em học sinh thấy được:
+ Tiếp thu bài học ở mức độ nào?
+ Cần phải bổ khuyết những gì?
+ Có cơ hội nắm chắc những yêu cầu của từng phần trong chương trình học
tập.
- Về mặt phát triển, thông qua việc kiểm tra, đánh giá, học sinh có điều kiện để tiến
hành các hoạt động trí tuệ như:
+ Ghi nhớ
+ Tái hiện

người giáo viên: Nắm được cụ thể và tương đối chính xác trình độ năng lực của
từng học sinh trong lớp do mình giảng dạy hoặc giáo dục, từ đó có những biện
pháp giúp đỡ thích hợp, trước là đối với học sinh khá giỏi và học sinh yếu kém,
qua đó mà năng cao chất lượng học tập chung của cả lớp.
- Kiểm tra, đánh giá được tiến hành tốt sẽ giúp giáo viên nắm được :
Trình độ chung của cả lớp hoặc khối lớp
Những học sinh có tiến bộ rõ rệt hoặc sa sút đột ngột.
Qua đó, động viên hoặc giúp đỡ kịp thời các em này.
- Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho thầy giáo xem xét có hiệu quả những việc làm
sau:
Cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà người giáo viên
đang tiến hành.
Hoàn thiện việc dạy học của mình bằng con đường nghiên cứu khoa học giáo
dục.
4
c. Đối với cán bộ quản lý giáo dục
- Kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấp
những thông tin cần thiết về thực trạng dạy - học trong một đơn vị giáo dục để có
những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những sai lệch nếu có; khuyến khích, hỗ trợ những
sáng kiến hay đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Kiểm tra, đánh giá học sinh
có ý nghĩa về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất vẫn là đối với chính bản thân
từng em học sinh.
- Kiểm tra, đánh giá thực hiện ba chức năng :
+ Chức năng sư phạm: Kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ làm sáng tỏ thực
trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp đạt kết quả tốt hơn.
+ Chức năng xã hội: Kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ giúp cho việc công khai
hóa kết quả học tập của học sinh trong tập thể lớp, trong trường, báo cáo kết quả
học tập giảng dạy trước phụ huynh học sinh, trước nhân dân, trước các cấp quản lí
giáo dục.
+ Chức năng khoa học: Kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ giúp cho việc đánh

hiểu đầy đủ về chất lượng giáo dục cũng như xác định quy trình, phương pháp, kĩ
thuật đánh giá chất lượng giáo dục một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn phát
triển của xã hội, của giáo dục trong một hoàn cảnh cụ thể không phải là điều đơn
giản.
Một vài năm trở lại đây, trong lí luận và thực tiễn giáo dục Việt Nam đã xuất
hiện một khái niệm khá mới mẻ: kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD). Là
một giải pháp quản lí chất lượng nhằm đưa ra những kết quả tin cậy bằng cách
kiểm soát các điều kiện, quá trình tổ chức giáo dục thông qua những tiêu chuẩn,
tiêu chí, chỉ số ở các lĩnh vực cơ bản của hệ thống giáo dục cũng như của các cơ sở
giáo dục, KĐCLGD ở Hoa Kì và nhiều nước phát triển trên thế giới đã trở thành
hoạt động thường xuyên, quen thuộc, thậm chí trở thành điều kiện tồn tại của nhiều
cơ sở giáo dục (trước hết là giáo dục đại học). Trong khi đó, ở Việt Nam,
KĐCLGD vẫn còn là một lĩnh vực chưa thực sự được nhiều người, thậm chí cả
những người trực tiếp làm công tác quản lí giáo dục các cấp hiểu, đánh giá và quan
tâm đúng mức.
Trong hệ thống các mô hình quản lí chất lượng giáo dục, KĐCLGD thực
chất là bước phát triển của một mô hình quen thuộc hơn: mô hình đánh giá chất
lượng giáo dục. Do vậy, KĐCLGD thường được quan niệm là một quá trình đánh
giá ngoài nhằm đưa ra một quyết định công nhận tính chuẩn mực của mộtcơ sở giáo
dục hay một chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục. Chẳng hạn, theo định nghĩa
của CHEA (Hiệp hội kiểm định giáo dục đại học), KĐCLGD đại học được xác định
là “một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để
khảo sát đánh giá các cơ sở giáo dục cao đẳng và đại học và các ngành đào tạo đại
học nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng" (CHEA, 2003); còn theo cách diễn đạt
của SEAMEO (Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á): KĐCLGD đại
học là“một quá trình đánh giá nhằm đưa ra một quyết định công nhận một cơ sở
giáo dục đại học hay một ngành đào tạo của cơ sở giáo dục đại học đáp ứng các
chuẩn mực quy định” (SEAMEO, 2003). Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng: trong mô
hình đánh giá chất lượng giáo dục, để phân biệt các loại đánh giá trường học, người
ta thường dựa vào tính chất của các thành phần tham gia đánh giá. Có bốn nhóm

giáo dục nhận thấy rõ hơn các điểm mạnh, điểm yếu và đưa ra kế hoạch cải tiến
chất lượng của mình hợp lí, thiết thực hơn. Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng
khiến choKĐCLGD nhanh chóng hoà nhập được vào các hoạt động của cơ sở giáo
dục trong một không khí làm việc thân thiện, cởi mở.
Để có thể đánh giá chính xác chất lượng, hiệu quả hoạt động của một hệ
thống hay một tổ chức giáo dục, giới nghiên cứu hết sức quan tâm đến việc xây
dựng một bộ thước đo bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số làm căn cứ
chủ yếu để xem xét chất lượng giáo dục gắn với mục tiêu theo những yêu cầu và
trong những lĩnh vực, điều kiện thực tế khác nhau. Dựa vào mô hình đánh giá chất
lượng giáo dục cơ bản, chúng ta có bốn hệ tiêu chí đánh giá sau đây đối với một cơ
sở giáo dục:
1) Các tiêu chí thể hiện bối cảnh chung của cơ sở giáo dục (các chuẩn mực
được thiết lập bởi cơ quan quản lí cấp trên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội địa phương,
sự hỗ trợ của cộng đồng…);
2) Các tiêu chí đầu vào (nguồn lực tài chính, trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm của đội ngũ giáo viên, nguồn tuyển sinh, kích cỡ lớp học, trang thiết bị của
nhà trường, cơ sở vật chất…);
3) Các tiêu chí đánh giá quá trình (các chủ trương, chính sách, sự lãnh đạo
của nhà trường, đội ngũ giáo viên, môi trường sư phạm, phương pháp dạy học,
phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập…)
4) Các chỉ số về đầu ra (sản phẩm) (kết quả đạt được của học viên về các
môn học cơ bản, tỉ lệ học viên lên lớp, tỉ lệ học viên bỏ học, tỉ lệ học viên tiếp tục
7
theo học bậc cao hơn, tỉ lệ học viên tìm được việc làm phù hợp sau khi tốt
nghiệp…).
Tiếp tục phát triển các hệ tiêu chí đánh giá này, KĐCLGD sẽ tiến hành xây
dựng các quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục cho từng loại hình
trường và dùng quy định tiêu chuẩn đó làm công cụ để đánh giá mức độ yêu cầu và
điều kiện mà các cơ sở của từng loại hình trường phải đáp ứng để được công nhận
đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Các tiêu chuẩn (gồm nhiều tiêu chí) kiểm định

Kết quả KĐCLGD góp phần định hướng các hoạt động sau đây của xã hội:
- Định hướng lựa chọn của người học để xác định cơ sở giáo dục có chất lượng,
hiệu quả, phù hợp với khả năng của mình;
- Định hướng đầu tư của nhà nước để đào tạo nguồn nhân lực theo những ngành
nghề cần thiết cho sự phát triển trong tương lai
8
- Định hướng đầu tư của các doanh nghiệpđể đào tạo nguồn nhân lực thích hợp cho
doanh nghiệp của mình
- Định hướng cho các nhà đầu tư nước ngoài làm từ thiện hay cần phát triển vốn
của mình
- Định hướng phát triểncho các cơ sở giáo dục để tăng cường năng lực cạnh tranh
trong và ngoài nước (xây dựng văn hoá chất lượng, không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả học thuật, quản lí và tài chính…)
- Định hướng cho sự hợp tác đào tạo (chuyển đổi, công nhận văn bằng chứng
chỉ…)giữa các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước…
Tại Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (tháng 7/2002)
Nghị quyết Hội nghị đã chỉ rõ: một trong những nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của
giáo dục và đào tạo là “xây dựng cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục theo mục
tiêu giáo dục”. Đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IX (tháng
1/2004), Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh: “Đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai
các hoạt động của hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục”
Hiện nay, công tác KĐCLGD đã được khẳng định về mặt pháp lí trong Luật
Giáo dục 2005 (Điều 17, Điều 99) và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày
1/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời được Bộ Giáo dục và Đào tạo
(GD&ĐT) lựa chọn là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu,
chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác.
Những năm qua, giáo dục đại học Việt Nam đã và đang phát triển mạnh cả
về quy mô và loại hình đào tạo. “Năm học 2002 – 2003, hệ thống giáo dục đại học
bao gồm 111 trường đại học và 119 trường cao đẳng, trong đó có 15 trường đại
học dân lập, 2 trường đại học bán công và 2 trường cao đẳng dân lập, 4 trường cao

thay đổi tích cực cho vấn đề chất lượng giáo dục đại học trong thời gian tới.
Bằng nhận thức và ý thức sâu sắc về mục đích, ý nghĩa của công tác
KĐCLGD, bằng việc triển khai công tác KĐCLGD một cách tích cực, khách quan,
trung thực, toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam nói chung và các cơ sở giáo dục
đại học, cao đẳng nói riêng dần dần sẽ tạo ra được những chuyển biến mới, hình
thành "văn hóa chất lượng" trong mỗi trường học, mỗi cán bộ quản lí giáo dục,
giáo viên, học viên để từ đó, chất lượng giáo dục được đảm bảo và không ngừng
được cải tiến, nâng cao. Trong quản lí chất lượng giáo dục, KÐCLGD được coi là
biện pháp, công cụ, phương tiện; nhưng xây dựng "văn hóa chất lượng" của các
trường, làm cho mỗi trường đều hiểu rằng chất lượng là câu chuyện sống còn của
chính mình mới là mục tiêu cuối cùng của công tác này. Riêng đối với các cơ sở
giáo dục đang trên con đường đổi mới, phát triển, chuyển đổi từ loại hình, cấp độ
này sang loại hình, cấp độ khác, việc triển khai và tham gia tích cực vào quy trình
KĐCLGD cũng là một việc làm hết sức cần thiết để tự chứng minh khả năng, năng
lực của mình một cách toàn diện.
HỌC VIÊN
Nguyễn Hoàng Anh
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status