Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ VĂN DŨNG NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
NƯỚC MẶT SÔNG CÔNG PHÍA THƯỢNG LƯU
HỒ NÚI CỐC LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Thái Nguyên – 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
Tên tôi là: Đỗ Văn Dũng.
Học viên cao học khóa 20 chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng. Niên
khóa 2002 - 2014. Tại trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học. Tôi xin
cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
- Số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực
- Các kết luận khoa học trong luận văn chƣa từng ai công bố trong các
nghiên cứu khác
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./.
Thái nguyên, ngày tháng năm 2014
NGƢỜI CAM ĐOAN Đỗ Văn Dũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ii
LỜI CẢM ƠN
i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài. 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
2.1. Mục tiêu tổng quát 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
4. Ý nghĩa khoa học 2
4.1. Ý nghĩa khoa học 2
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2. Cơ sở pháp lý 5
1.2. Các thông số đánh giá chất lƣợng nƣớc 6
1.3. Vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nƣớc mặt trên thế giới và Việt Nam 7
1.3.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt trên thế giới 7
1.3.2. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt tại Việt Nam 11
1.3.3. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước 18
1.4. Tài nguyên nƣớc mặt tỉnh Thái Nguyên 20
1.4.1. Nguồn nước mưa 20
1.4.2. Nguồn nước sông 21
1.5. Hiện trạng và xu thế gia tăng khai thác và sử dụng tài nguyên nƣớc mặt
và nguồn thải 22
1.5.1. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt 22
1.5.2. Xu thế gia tăng khai thác, sử dụng nước mặt 22
1.5.3. Xu thế gia tăng nước thải 23
chính của sông Công phía thượng lưu Hồ Núi Cốc. 53
59
3.3.1. Các nguồn tự nhiên 59
3.3.2. Các nguồn nhân tạo 59
3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm và cải
thiện môi trƣờng nƣớc mặt trong thời gian tới 62
3.4.1. Giải pháp quản lý: 62
3.4.2. Giải pháp đầu tư và kế hoạch hóa 64
3.4.3. Giải pháp tuyên truyền 65
3.4.4. Giải pháp kỹ thuật 66
3.4.5. Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1. Kết luận 69
2. Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chế độ mƣa tại các trạm thuộc tỉnh Thái Nguyên 20
Bảng 2.1. Vị trí quan trắc trên sông Công và các phụ lƣu phía thƣợng lƣu hồ
Núi Cốc 26
Bảng 3.1. Diện tích đất tự nhiên phân theo đơn vị hành chính vùng nghiên
cứu 30
Bảng 3.2. Hiện trạng dân số năm 2013 36
Bảng 3.3: Kết quả phân tích DO tại các đợt quan trắc qua các năm trên sông
Công phía thƣợng lƣu hồ Núi Cốc 43
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.
As
: Asen
2.
BOD
5
: Nhu cầu ô xy sinh hóa
3.
Cd
: Cadimi
4.
CN
-
: Xianua
5.
COD
: Nhu cầu ô xy hóa học
6.
Cr
: Crôm
7.
Cu
: Đồng
8.
DO
: Oxy hòa tan
9.
Pb
: Chì
17.
PO
4
3-
: Phốt phát
18.
QCVN
: Quy chuẩn Việt Nam
19.
QĐ
: Quyết định
20.
Sn
: Thiếc
21.
TCVN
: Tiêu chuẩn Việt Nam
22.
Tổng N
: Tổng Nitơ
23.
Tổng P
: Tổng Phôt pho
24.
TSS
: Tổng chất rắn lơ lửng
25.
Yên, huyện Phú Bình; Cắt lũ cho hạ lƣu Sông Công; Tạo khu du lịch sinh thái
Hồ Núi Cốc; Kết hợp nuôi trồng thuỷ sản, vận tải thuỷ;
Hiện nay, hồ Núi Cốc đang đứng trƣớc tình trạng bị ô nhiễm nƣớc mặt,
ảnh hƣởng trực tiếp đến vai trò quan trọng của Hồ do các hoạt động phát triển
kinh tế xã hội gây ra. Hồ Núi Cốc hiện đang tiếp nhận nguồn nƣớc chủ yếu từ
sông Công và một số dòng suối khác của huyện Đại Từ nhƣ: suối Mỹ Yên (xã
Bình Thuận), suối Chấm (xã Lục Ba), suối Kẻn (xã Vạn Thọ). Song chất
lƣợng nguồn nƣớc sông, suối tại các cửa xả đổ vào hồ đều bị ô nhiễm nhẹ hợp
chất hữu cơ, coliform và dinh dƣỡng.
Xuất phát từ hiện trạng môi trƣờng trên và yêu cầu thực tế về đánh giá
chất lƣợng nƣớc mặt của sông Công, từ đó đƣa ra các giải pháp góp phần
giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng nƣớc mặt trong thời
gian tới. Đƣợc sự nhất trí của nhà trƣờng, dƣới sự hƣớng dẫn của TS. Dƣ Ngọc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 2
Thành, Tôi tiến hành thực hiện luận văn: “ , đánh giá
”.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá đúng chất lƣợng nƣớc mặt
sông Công phía thƣợng lƣu hồ Núi Cốc và đề xuất những giải pháp nhằm cải
thiện chất lƣợng nƣớc mặt sông Công phía thƣợng lƣu hồ Núi Cốc nói riêng
và trên toàn bộ lƣu vực sông Công nói chung.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá chất lƣợng nƣớc mặt
- tỉnh Thái Nguyên.
.
- Chia sẻ thông tin liên quan đến lƣu vực sông Công và song Cầu giữa
các tỉnh trong Uỷ ban Bảo vệ môi trƣờng lƣu vực sông Cầu nhằm quản lý và
thực hiện tốt Quyết định 174 của Thủ tƣớng Chính phủ về phê duyệt Đề án
bảo vệ sinh thái cảnh quan, môi trƣờng lƣu vực sông Cầu.
- Góp phần chuyển thể các chính sách, chủ trƣơng của quốc gia thành
các chƣơng trình hành động của từng địa phƣơng, từng cộng đồng, doanh
nghiệp trong lƣu vực sông Công.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm môi trường:
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trƣờng Việt Nam năm 2005, môi
trƣờng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Môi trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và
vật chất nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật” [11].
- Khái niệm tài nguyên nước:
Theo khoản 1, Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012: “Tài nguyên nước
bao gồm nguồn nƣớc mặt, nƣớc dƣới đất, nƣớc mƣa và nƣớc biển thuộc lãnh
thổ của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[12].
- Khái niệm nước mặt:
Theo Khoản 3, Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012: “Nước mặt là nƣớc
tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo” [12].
các thông tin phức tạp trong một dạng ngắn gọn, dễ hiểu và có ý nghĩa vƣợt ra
ngoài các giá trị đo liên kết với chúng. Các chỉ thị là các biến số hệ thống đòi
hỏi thu thập dữ liệu bằng số, tốt nhất là trong các chuỗi thứ tự thời gian nhằm
đƣa ra chiều hƣớng, Các chỉ thị này kết xuất từ các biến số, dữ liệu [11].
1.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Tài nguyên nƣớc số 17/2012/QH13 đã đƣợc Quốc hội thông qua
ngày 21/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013.
- Luật Bảo vệ Môi trƣờng số 52/2005/QH11 đƣợc Quốc hội thông qua
ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Nghị định số 27/2009/NĐ-CP ngày 12/6/2009 của Chính phủ về một số
giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nƣớc về tài nguyên và môi trƣờng
- Quyết định số 81/2006/QĐ-Ttg ngày 14/4/2006 của Thủ tƣớng Chính
phủ về việc phê duyệt Chiến lƣợc quốc gia về tài nguyên nƣớc đến năm 2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 6
- Quyết định số 20/2012/QĐ-UBND ngày 09/8/2012 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Thái Nguyên ban hành quy định quản lý tài nguyên nƣớc trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên.
- Chỉ thị số 20/CT-UBND ngày 12/11/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Thái Nguyên về việc tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên.
- Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ về thoát
nƣớc đô thị và khu công nghiệp.
- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ
trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
môi trƣờng;
+ NO
3
: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân huỷ các chất có chứa nitơ
trong nƣớc thải.
+ Các yếu tố KLN: Các kim loại nặng là những yếu tố mà tỷ trọng của
chung bằng hoặc lớn hơn 5 nhƣ Asen, cacdimi, Fe, Mn …ở hàm lƣợng nhỏ
nhất định chúng cần cho sự phát triển và sinh trƣởng của động, thực vật nhƣ
khi hàm lƣợng tăng thì chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh vật và con
ngƣời thông qua chuỗi mắt xích thức ăn.
- Các thông số sinh học, ví dụ nhƣ:
+ Colifom: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trƣờng, xác
định mức độ ô nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nƣớc
1.3. Vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nƣớc mặt trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt trên thế giới
Nƣớc là tài nguyên vô cùng quý báu, nƣớc đáp ứng các nhu cầu của cuộc
sống ăn uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, năng lƣợng,
giao thông vận tải… Tài nguyên nƣớc trên thế giới có trữ lƣợng khoảng 1,45 tỷ
km
3
trong đó trữ lƣợng nƣớc sông là 12.000 km
3
chiếm 0,001 % tổng lƣợng
nƣớc (Dƣ Ngọc Thành, 2006) [15]. Đây là nguồn nƣớc chính phục vụ cho nhu
cầu của con ngƣời do vậy nó đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống
sự phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Nhƣng ngày nay nguồn nƣớc
đang bị đe doạ nghiêm trọng, ngày càng ô nhiễm ảnh hƣởng trực tiếp tới đời
sống, sức khoẻ, sự phát triển của nhân loại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sống mà ngƣời ta thƣờng gọi đùa là “làng rác”. Đa số dân cƣ trong khu vực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 9
này đều là những ngƣời lao động nghèo, ngƣời nhập cƣ bất hợp pháp và một
phần không nhỏ tầng lớp xã hội da đen sinh sống. Họ điềm nhiên vứt rác và
đổ bất cứ thứ gì không cần thiết xuống sông nhƣ một tiền lệ và thói quen đã
dƣợc mọi ngƣời chấp nhận từ lâu. Nạn ô nhiễm môi trƣờng quanh khu vực
Riachuelo kéo theo nguy cơ bùng phát của những ổ dịch bệnh nguy hiểm do
thiếu vệ sinh nhƣ: tiêu chẩy, lao, hen suyễn, sốt rét, sốt xuất huyết và thậm chí
cả bệnh ông thƣ, đe doạ nghiêm trọng sức khoẻ ngƣời dân thủ đô Buenos
Aires của Argentina.
Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới kèm theo sự phát triển về
kinh tế xã hội, đã gây ảnh hƣởng lớn tới môi trƣờng. Một trong những vấn đề
ô nhiễm môi trƣờng đáng quan tâm ở nƣớc đông dân nhất này đó là tình trạng
ô nhiễm nghiêm trọng xẩy ra ở các dòng sông. Sông Hoàng Hà, con sông dài
thứ hai Trung Quốc đẫ bị ô nhiễm nặng vì chất thải công nghiệp. Một báo cáo
của uỷ ban bảo vệ sông Hoàng Hà cho biết 33,8 % mẫu nƣớc lấy từ con sông
này không đạt tiêu chuẩn để trồng trọt, nuôi thuỷ sản, cũng nhƣ sử dụng cho
công nghiệp. Không chỉ có sông Hoàng Hà bị ô nhiễm nặng nề mà còn rất
nhiều con sông khác ở Trung Quốc vẫn đang “than khóc”.Hoàng Hà là con
sông đứng thứ ba trong số bẩy con sông lớn của Trung Quốc. Năm 1994,
Hoàng Hà đƣợc đánh giá bị ô nhiễm chất thải công nghiệp cấp 5 là cấp nhiễm
độc cao nhất, sản sinh nhiều làng ung thƣ cần phải làm sạch. Cuộc khảo sát
phát hiện mức ô nhiễm trên sông Hoàng Hà chẳng những không giảm mà còn
tăng lên. Các chỉ số quan trọng về ô nhiễm đều đạt hoặc vƣợt kỷ lục lịch sử.
Chất lƣợng nƣớc của 60% đất đai vùng lƣu vực Hoàng Hà đều bị ô nhiễm cấp 5.
sông nói riêng đang là vấn đề quan trọng, cấp bách không chỉ của một nƣớc
mà là vấn đề chung của toàn thế giới, toàn nhân loại. Loài ngƣời đang đứng
trƣớc nguy cơ thiếu nƣớc sạch trầm trọng. Nhiều sông hồ trên thế giới đang bị
ô nhiễm nặng gây ảnh hƣởng xấu đến đời sống và phát triển của con ngƣời.
Vì thế vấn đề quản lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng nƣớc sông là một trong
những vấn đề cần đƣợc quan tâm hàng đầu để phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trƣờng của mỗi quốc gia.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 11
1.3.2. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt tại Việt Nam
Hiện nay, nƣớc ta có 3 vùng kinh tế trọng điểm: vùng KTTĐ phía Bắc
(gồm 07 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dƣơng, Hƣng
Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh) nằm trên lƣu vực sông Nhuệ - sông Đáy và lƣu
vực sông Cầu; vùng KTTĐ miền Trung (gồm 05 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng,
Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định); vùng KTTĐ phía
Nam (gồm 07 tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà-Rịa-Vũng Tàu,
Bình Dƣơng, Tây Ninh, Bình Phƣớc và Long An) nằm trên lƣu vực hệ thống
sông Đồng Nai.
Việt Nam có tài nguyên nƣớc khá phong phú, có hơn 2360 con sông lớn
hơn 10 km trong đó có 9 hệ thống sông có diện tích lƣu vực từ 10000 km
2
trở
lên (Dƣ Ngọc Thành, 2008) [15]. Phần lớn sông ngòi nƣớc ta đều là nƣớc
ngọt, vừa cung cấp nƣớc phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con ngƣời, vừa phục
vụ cho nghành sản xuất khác. Tuy nhiên, nƣớc ngọt là tài nguyên hạn chế và
dễ bị suy thoái, tối cần thiết cho sự sống, phát triển của con ngƣời, sinh vật và
sông. Cũng theo kết quả nghiên cứu của cục Tài nguyên – Môi trƣờng, chất
lƣợng nƣớc tại các lƣu vực sông trên toàn quốc đều đang ở tình trạng ô nhiễm
nghiêm trọng. Tại lƣu vực sông Cầu (đoạn hồ Núi Cốc), một số đã vƣợt quá
tiêu chuẩn cho phép: lƣợng NO
2
vƣợt quá 20 lần, thuỷ ngân 3 lần, dầu mỡ 7
lần, thuốc trừ sâu 2 lần. Tại bến Đẵm, cuối sông Công, các chỉ tiêu để vƣợt
mức cho phép từ 6,5 – 14 lần. Một số đoạn sông có chứa chất thải thuộc khu
công nghiệp Thái Nguyên có mầu đen, ngƣời dân không dám lội qua sông khi
nƣớc cạn; Bà con ở hai bên bờ cũng không giám giặt giũ ở sông nữa bởi vì
nhiều ngƣời đã bị ngứa và quần áo nồng nặc mùi hôi. Chất lƣợng nƣớc sông
Nhuệ - sông Đáy chẩy qua địa bàn tỉnh Hà Nam đang bị ô nhiễm ở mức độ
báo động, hàm lƣợng các chất độc hại trong nguồn nƣớc tại đây đều cao hơn
rất nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Có đợt ô nhiễm nặng, hàm lƣợng amoniac
trong nƣớc cao gấp 150 – 300 lần so với tiêu chuẩn châu Á. Tại lƣu vực sông
Đồng Nai – Sài Gòn, phần hạ lƣu của nhiều sông trong lƣu vực đã bị ô nhiễm
chất hữu cơ, vi sinh và nhiễm kim loại nặng nghiêm trọng, trong đó sông Thị
Vải có đoạn dài 10 km đã trở thành “sông chết”.
Chúng ta có thể kể ra đây một số lƣu vực sông đã bị ô nhiễm ở mức đáng
báo động. Đó là: Lƣu vực sông Cầu và các phụ lƣu qua các tỉnh Bắc Cạn,
Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dƣơng. Lƣu vực hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 13
thống sông Nhuệ - Đáy chảy qua các tỉnh Hoà Bình, thành phố Hà Nội, Hà
Tây, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Lƣu vực sông Đồng Nai – sông Sài
Gòn gồm các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phƣớc, Bình Dƣơng,
diện tích 7.700 km
2
. Đây là một vùng có mật độ dân số cao trên 1000
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 14
ngƣời/km
2
và cũng là một trung tâm kinh tế quan trọng. Do đó ngoài nƣớc
thải công nghiệp, cần phải kể thêm nƣớc thải sinh hoạt, tất cả đều đổ thẳng ra
sông hồ. lƣợng nƣớc thải sinh hoạt ƣớc tính khoảng 120 triệu m
3
/ năm. Riêng
tại Hà Nội, có 400 xí nghiệp và khoảng 11 ngàn cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp thải hồi trung bình 20 triệu m
3
/năm. Hà Tây là nơi trọng điểm của làng
nghề chiếm 120 làng trên tổng số 286 làng nghề trong khu vực.
Vùng lƣu vực, hệ thống sông miền Trung
Các con sông lớn trong vùng chảy qua các khu công nghiệp và đô thị có
hàm lƣợng các chất ô nhiễm tập trung cao ở phía hạ lƣu: Hàm lƣợng COD và
BOD
5
đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1. Hàm lƣợng Coliform từ 40 -
6.400 MPN/100ml, vƣợt QCVN là 2,5%, phần lớn các kim loại nặng và các
muối dinh dƣỡng đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1.
Nƣớc thải tại các khu công nghiệp đƣợc quan trắc có hàm lƣợng chất rắn lơ
hữu cơ và ô nhiễm vi sinh. Đây cũng là lƣu vực tiếp nhận một lƣợng khá lớn
nƣớc thải công nghiệp và nƣớc thải đô thị.
Lưu vực sông Đồng Nai: Lƣu vực này chẳng những là một vùng đông
dân cƣ, với diện tích 14.500 km
2
và dân số khoảng 17.5 triệu ngƣời, mà còn là
một vùng tập trung phát triển công nghiệp lớn nhất và cũng là một vùng đƣợc
đô thị hoá nhanh nhất cả nƣớc. Hàng năm sông ngòi lƣu vực này tiếp nhận
khoảng 40 triệu m
3
nƣớc thải công nghiệp, không kể một số lƣợng không nhỏ
của trên 30 ngàn cơ sở sản xuất hoá chất rải rác trong thành phố Hồ Chí Minh.
Nƣớc thải sinh hoạt khoảng 360 triệu m
3
. Ngoài những chất thải công nghiệp
nhƣ hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại nhƣ: đồng, chì, sắt, kẽm, thuỷ ngân,
cadimi, mangan, các loại thuốc bảo vệ thực vật. Nơi đây còn xẩy ra hiện
tƣợng nƣớc sông bị acid hoá nhƣ đoạn sông từ cầu Bình Long đến Bến Than,
nhiều khi độ pH xuống đến 4.0, trọng điểm là sông Rạch Tra, nơi tất cả nƣớc
rỉ từ các bãi rác thành phố và hệ thống nhà máy dệt nhuộm ở khu Tham
Lƣơng đổ vào. Lƣu vực này hiện đang bị khai thác quá tải, nƣớc sông hoàn
toàn bị ô nhiễm và hệ sinh thái của vùng này bị tàn phá kinh khủng, đây là
một yếu tố sống còn cho sự phát triển cả nuớc, chiếm 30% tổng sản lƣợng
quốc dân. Vào tháng 12/2005, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã tổ chức hội
thảo “bảo vệ môi trƣờng lƣu vực hệ thống sông Đồng Nai” đã nói lên tính
nghiêm trọng của vấn đề.
Lưu vực sông Tiền Giang và Hậu Giang: Đây là một vùng hết sức đặc
biệt và cũng là lƣu vực lớn nhất và đông dân nhất với diện tích 39 ngàn km
2
trƣờng quốc gia đến năm 2010 và định hƣớng đến năn 2020 đã đƣa ra các
mục tiêu cụ thể để làm giảm mức độ gia tăng ô nhiễm môi trƣờng tại các khu
công nghiệp, cụm công nhiệp, khu dân cƣ, làng nghề.
Phát triển kinh tế không đi đôi với bảo vệ môi trƣờng, kết quả tất yếu là
tình trạng môi trƣờng ngày càng xuống cấp và cƣờng độ ô nhiễm ngày càng
tăng lên. Tình trạng cho đến nay có thể nói là đã đến giai đoạn gần nhƣ bế tắc.
Bộ trƣởng Tài nguyên và Môi trƣờng cũng đã kêu gọi địa phƣơng cứu lấy các
con sông trƣớc khi quá muộn, đừng để nhƣ trƣờng hợp của sông Đáy và sông
Tô Lịch. Nếu nhƣ chúng ta không có những biện pháp thích đáng thì tƣơng lai
là những dòng sông Việt Nam trở nên những dòng sông chết cũng nhƣ việc
phát triển sẽ bị ảnh hƣởng vì môi trƣờng không thể tiếp nhận thêm nguồn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 17
nƣớc thải đƣợc nữa. Những việc cần làm để có thể cứu vãn tình hình cần đƣợc
triển khai nhanh chóng, một trong những nhiệm vụ đó là việc đánh giá chính
xác mức độ ô nhiễm môi trƣờng nƣớc sông là rất cần thiết để phục vụ cho
công tác quản lý và bảo vệ môi trƣờng.
Chất lƣợng các Hồ Việt Nam:
Hệ thống hồ, ao, kênh và sông nhỏ tại các thành phố lớn nhƣ Hà Nội,
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế tiếp nhận và chuyển nƣớc thải từ các khu
công nghiệp và khu dân cƣ. Gần đây, chúng bị ô nhiễm nghiêm trọng, vƣợt
quá từ 5 đến 10 lần mức quy chuẩn quốc gia về nguồn nƣớc mặt loại B.
Hầu hết các hồ trong các thành phố đều bị phù dƣỡng. Nhiều hồ bị phù
dƣỡng đột biến và tái nhiễm hữu cơ.
Các thành phố lớn nhƣ Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hạ Long… mới
đang trong giai đoạn thiết kế và xây dựng cơ sở xử lý nƣớc thải. Một số các