MỤC LỤC1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
- Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt bằng tiếng Việt
VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
CGCN Chuyển giao công nghệ
CNSH Công nghệ sinh học
CNTT-TT Công nghệ thông tin-truyền thông
CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
KH&CN Khoa học và Công nghệ
MITI Bộ Thương mại và Công nghiệp quốc tế
QLNN Quản lý Nhà nước
- Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt bằng tiếng Anh
VIẾT TẮT TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT
ESCAP Economic and Social Commission for
Asia and the Pacific
Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương
EU Europe Union Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
OECD Organization Economic Cooporation
Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
R&D Research and Development Nghiên cứu và Phát triển
S&T Science and Technology Khoa học và Công nghệ
WB World Bank Ngân hàng thế giới
UNIDO United Nations Industrial
Development Organization
Bảng 2.7 Bằng độc quyền giải pháp hữu ích đã được cấp từ 1990 -2009 84
Bảng 2.8 Giấy chứng nhận đăng ký NHHH đã được cấp từ 1982-2009 85
Bảng 2.9 Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý dã được cấp từ 2001-2009 86
Bảng 2.10 Số lượng hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN từ
1995-2009
87
Bảng 2.11 Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 7/2010 89
Bảng 2.12 Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 7/2010 theo hình thức đ.tư 92
Bảng 2.13 Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 7/2010 phân theo các nước
và vùng lãnh thổ
93
Bảng 2.14 Số Hợp đồng CGCN đã được phê duyệt, đăng ký đến tháng 8/2010 97
Bảng 2.15 Số Hợp đồng được phê duyệt theo lĩnh vực, ngành kinh tế đến năm
2005
99
Bảng 2.16 Số Hợp đồng được phê duyệt theo nước chuyển giao đến 2005 100
Bảng 2.17 Số Hợp đồng CGCN được đăng ký theo lĩnh vực 101
Bảng 2.18 Số Hợp đồng CGCN đã đăng ký theo nước 1023
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khoa học và công nghệ không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp,
mà còn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Trung ương lần
thứ 2 Khoá VIII đã nêu rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển khoa
học và công nghệ: "Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc
sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ".
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, để đổi mới và nâng cao trình độ
khía cạnh chính sách. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục đẩy
mạnh việc thu hút công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, góp phần thực hiện
thành công mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thu hẹp dần khoảng
cách công nghệ giữa nước ta với các nước trong khu vực trên thế giới.
Luận án “Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam” được
thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đặt ra này.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1. Mục tiêu của Luận án
Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận, đồng thời phân tích, đánh giá thực
trạng chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, phân tích nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu đổi mới, phát triển công nghệ của các ngành,
lĩnh vực, đặc biệt là các hướng công nghệ ưu tiên, Luận án đề xuất hệ thống đồng
bộ các giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, hoàn thiện chính sách thu hút công nghệ từ
nước ngoài vào Việt Nam. Trên cơ sở đó, hình thành các chính sách đủ mạnh, có
tính thực thi cao, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo môi trường thuận lợi, thúc
đẩy mạnh mẽ hoạt động chuyển giao công nghệ, thu hút được công nghệ tiên tiến
của nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2015.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
- Nghiên cứu và phát triển cơ sở lý luận liên quan đến chuyển giao công
nghệ và chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài.
- Đánh giá thực trạng chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam thời gian qua, đặc biệt từ khi thực hiện chính sách đổi mới, phân5
tích các nguyên nhân thành công và chưa thành công về mặt chính sách đối với hoạt
động thu hút chuyển giao công nghệ thông qua các dự án đầu tư nước ngoài.
- Trên cơ sở phân tích xu thế phát triển khoa học và công nghệ, các xu hướng
phát triển của các tập đoàn, các Công ty xuyên quốc gia trên thế giới, đánh giá nhu
cầu phát triển công nghệ của Việt Nam, kết hợp với việc tìm hiểu kinh nghiệm về
cơ chế quản lý Khoa học và Công nghệ ở Việt Nam” do TS. Lê Đăng Doanh chủ
biên. Tác giả đã phân tích và kiến nghị khoa học và công nghệ ở Việt Nam cần đổi
mới theo hướng nào, kênh nào trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế. Các tác giả cũng đặc biệt chú ý tới công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
khoa học và công nghệ.
Cuốn “Quan hệ giữa phát triển khoa học công nghệ với phát triển kinh tế - xã
hội trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam” (NXB Khoa học xã hội,
1999) của tác giả Nguyễn Danh Sơn đã phân tích được mối quan hệ qua lại giữa
phát triển khoa học công nghệ và công nghiệp hóa nền kinh tế. Tác giả Nguyễn
Danh Sơn cũng làm rõ được vai trò quan trọng của cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật trong chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Ngoài ra, còn một
số công trình đã công bố nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ khoa học công nghệ ở
Việt Nam như tác giả Hoàng Trọng Cừ với đề tài “Nghiên cứu vấn đề thuế trong
hoạt động khoa học và công nghệ” (Đề tài NCKH của Viện Nghiên cứu chiến lược
và chính sách khoa học công nghệ); tác giả Nghiêm Thị Minh Hòa “Đầu tư tài
chính cho khoa học công nghệ ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” (Báo cáo tại
Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và đào tạo sau đại học ở Việt Nam”, 2000), v.v
Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu đưa ra các giải pháp và kiến nghị
nhằm hỗ trợ hoạt động khoa học công nghệ ở Việt Nam, chưa có đề tài nào nghiên
cứu chuyên sâu về chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam. Nhóm
nghiên cứu đề tài cấp Bộ Thương mại do Nguyễn Văn Hoàn làm chủ nhiệm với đề
tài “Chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam - thực trạng và giải pháp”, mã số 2002-78-
018. Đề tài nghiệm thu năm 2002 và đã nghiên cứu và đánh giá tình hình nhập khẩu
công nghệ của Việt Nam trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế.
Tuy nhiên, các tác giả đề tài này chưa phân tích được chính sách thu hút công nghệ
nước ngoài vào Việt Nam và cũng chỉ dừng lại xem xét tình hình nhập khẩu công7
8
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án
được trình bày trong 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thu hút công nghệ
nước ngoài
Chương II: Thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt
Nam
Chương III: Các giải pháp đổi mới chính sách thu hút công nghệ nước ngoài
vào Việt Nam trong thời gian tới 9
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
THU HÚT CÔNG NGHỆ NƯỚC NGOÀI
1.1. Công nghệ và chuyển giao công nghệ
1.1.1 Công nghệ (Technology)
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ, sau đây luận án chỉ
đưa ra những cách hiểu thông dụng nhất để trên các khái niệm đó phục vụ cho quá
trình nghiên cứu:
Theo UNIDO: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng
cách sử dụng những nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương
pháp”(Trần Văn Thọ 2006, tr.5).
“Công nghệ là hệ thống kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra
các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới” (OECD, 1968, tr.3).
“Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng
hóa”(OECD, 1970).
“Công nghệ là hệ thống các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật
chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm hoàn chỉnh”
Qua những định nghĩa trên và hàng trăm định nghĩa khác tương tự như vậy
được các tác giả công bố trong các giai đoạn từ những năm 1960 cho tới nay, cho
thấy công nghệ là một khái niệm đang phát triển và có xu hướng ngày càng mở
rộng, ngày càng định hình hơn. Tuy nhiên, cho đến nay xuất phát từ các góc nhìn
khác nhau, các hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, các tác giả vẫn không hoàn toàn
thống nhất với nhau về định nghĩa công nghệ.
Để làm rõ và đi đến thống nhất khái niệm này, luận án sẽ phân tích trên 03
khía cạnh chủ yếu: 1) Về bản chất công nghệ là gì? 2) Công nghệ có đặc điểm chủ
yếu gì? 3) Công nghệ phục vụ cho cái gì?
Thứ nhất, cần làm rõ bản chất của công nghệ. Hầu như tất cả các tác giả đều
thống nhất với nhau rằng công nghệ là các cách thức, các kiến thức, các kỹ năng,
các quy trình, các thiết bị, các công cụ, các phương tiện, các dịch vụ công nghiệp,
các dịch vụ quản lý, vv và vv… mà ta gọi chung, trong luận án này, là các phương11
pháp. Nhưng không phải là các phương pháp nói chung, mà là các phương pháp
được “áp dụng vào”, “được chuyển thành”, “được sử dụng” … tức là các phương
pháp có một giá trị thực tiễn nhất định để giải quyết một nhiệm vụ nhất định mà
thực tiễn đặt ra. Đó chính là giải pháp (Giải pháp: Phương pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể nào đó) (Viện Ngôn ngữ học, 2003, pp.387).
Thực chất của công nghệ chính là giải pháp thực tiễn mà con người dùng
trong quá trình giải quyết một nhiệm vụ nhất định. Theo Nawaz Sharif (Công nghệ -
công cụ biến đổi các nguồn lực, Viện Thông tin khoa học Trung ương, Ủy ban khoa
học và kỹ thuật Nhà nước, số 7, năm 1988), công nghệ có 04 thành phần cơ bản:
- Thành phần vật chất (Technoware, còn gọi là “Giải pháp đã được vật chất
hóa”): đó là công nghệ hàm chứa trong các vật thể như: máy móc, trang thiết bị,
công cụ, kết cấu, vật liệu, nhà máy, cơ sở hạ tầng, xe cộ …
- Thành phần thông tin (Inforwave, công nghệ hàm chứa trong thông tin),
như: tài liệu thiết kế, công thức, quy trình, tiêu chuẩn, định mức, cẩm nang, khái
nguồn gốc công nghệ, cho thấy không một tác giả nào bỏ qua vấn đề này. Về cơ
bản, các tác giả đều cho rằng, mục tiêu sơ cấp của công nghệ là để làm ra được
những sản phẩm, những hàng hóa, những dịch vụ có trình độ công nghệ nhất định
(và càng ngày, mục tiêu “dịch vụ” càng được nhiều tác giả quan tâm). Từ mục tiêu
sơ cấp đó, công nghệ có rất nhiều mục tiêu thứ cấp khác nhau và nhiều khi chính vì
mục tiêu thứ cấp này mà công nghệ cần được cập nhật, thay đổi và phát triển, thậm
chí phát triển rất nhanh chóng.
Từ những phân tích nói trên, tác giả luận án đưa ra định nghĩa một cách ngắn
gọn, đơn giản, dễ hiểu về công nghệ: Công nghệ là tập hợp các giải pháp có hệ
thống được sử dụng trong quá trình tạo ra một sản phẩm, hoàn thành một công
trình hay thực hiện một dịch vụ nhất định nhằm phục vụ cho một mục tiêu xác định.
Các giải pháp có hệ thống đó bao gồm 04 thành phần cơ bản (thành phần vật chất
hay giải pháp được vật chất hóa, thành phần thông tin, thành phần con người, thành
phần thể chế). Thông thường, để hoàn thành một mục tiêu thứ cấp (như: chế tạo một
sản phẩm, xây dựng một công trình hay thực hiện một dịch vụ) hệ thống các giải
pháp phải bao gồm cả 04 thành phần nói trên. Nhưng trong thực tế có những mục
tiêu sơ cấp hoặc mục tiêu trung gian mà để thực hiện chúng không nhất thiết cả 04
thành phần đó phải xuất hiện trong một hệ thống công nghệ cụ thể. 13
Trong thời đại ngày nay, mỗi sản phẩm, mỗi công trình, mỗi dịch vụ đều
nhằm một mục tiêu cụ thể, xác định. Hàng ngày, trên thế giới có hàng triệu sản
phẩm, hàng triệu công trình, hàng triệu dịch vụ được tạo ra, được hoàn thành, được
thực hiện, chúng đều có mục tiêu cụ thể, xác định, không mục tiêu nào hoàn toàn
giống mục tiêu nào. Tuy nhiên, trong cơ chế kinh tế thị trường, công nghệ, suy cho
cùng, phải nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ kinh doanh (trừ một số trường hợp
đặc biệt, trong bối cảnh đặc biệt sẽ được đề cập trong một chuyên đề khác) và trong
khuôn khổ của hoạt động kinh doanh thì công nghệ nào cũng phải đạt được một
mục tiêu chung là :
những hậu quả tiêu cực (như ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, phá hoại cảnh quan,
…).
Ở tầm quốc gia, quản lý công nghệ có những nội dung chủ yếu sau:
- Xác lập và đưa vào hoạt động một hệ thống thống kê, theo dõi công nghệ ở
cấp quốc gia để thường xuyên đánh giá được trình độ công nghệ của quốc gia so với
trình độ chung trên thế giới;
- Tạo ra một nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải phát triển trên
cơ sở công nghệ (đặc biệt là trong giới doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà
nước, các cơ quan nghiên cứu, triển khai);
- Xây dựng Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và Chính
sách phát triển công nghệ quốc gia;
- Xây dựng và phát triển các cơ cấu hạ tầng của công nghệ, bao gồm: Các
trung tâm nghiên cứu - triển khai, marketing công nghệ (thuộc Nhà nước và các
thành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt là kinh tế tư nhân); các trung tâm đánh giá
năng lực, nhu cầu công nghệ và dự báo công nghệ (ở tầm quốc gia, ngành, khu
vực); các trung tâm liên kết giữa các Bên sử dụng công nghệ với các Bên có công
nghệ (tư vấn, môi giới …); các trung tâm dịch vụ thông tin công nghệ phục vụ cho
giám sát, đánh giá và ra quyết định công nghệ; các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng
nguồn nhân lực làm công tác quản lý công nghệ ở tầm vi mô và vĩ mô cho các thành
phần kinh tế; các trường Đại học và các cơ sở bồi dưỡng chuyên gia về công nghệ;
ban hành các chính sách của luật pháp để hướng toàn xã hội vào việc phát triển15
công nghệ theo những trọng tâm mà “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
quốc gia” và “Chính sách phát triển công nghệ quốc gia” đã vạch ra.
- Lập và đưa vào hoạt động các Quỹ để hỗ trợ và khuyến khích việc phát
triển công nghệ.
- Lập và đưa vào hoạt động Hội đồng tư vấn công nghệ quốc gia có uy tín để
định kỳ đánh giá tình hình quản lý công nghệ ở tầm vĩ mô và đề xuất những biện
trong vòng đời của nó.
- Nghiên cứu khả thi Dự án Đổi mới công nghệ để bảo đảm chắc chắn rằng
dự án là khả thi và không có những rủi ro ngoài tầm kiểm soát, phê duyệt dự án
đồng thời chuẩn bị những điều kiện để đầu tư (vốn, người quản lý dự án, các nguồn
cung cấp cho dự án …).
- Thực hiện dự án: ký các Hợp đồng tư vấn, thiết kế, cung cấp thiết bị, xây
lắp, đào tạo, chuyển giao công nghệ, vv và vv… quản lý Hợp đồng để bảo đảm cho
dự án hoàn thành đúng tiến độ và có chất lượng.
- Vận hành và khai thác dự án.
- Định kỳ đánh giá, rút kinh nghiệm về quá trình đổi mới công nghệ.
Các nguồn cung cấp công nghệ cho hoạt động đổi mới công nghệ ở hầu hết
các nước thông thường bao gồm:
- Các nguồn tại chỗ (các nguồn trong Công ty, Tập đoàn …).
- Từ người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài sinh sống
và làm việc tại Việt Nam.
- Từ các cơ sở nghiên cứu - triển khai như: các Viện, các Trung tâm nghiên
cứu, các trường Đại học (thường là ở trong nước).
- Từ các doanh nghiệp trong và nhất là các doanh nghiệp ngoài nước (nếu
chuyển giao từ các doanh nghiệp ngoài nước cho các doanh nghiệp trong nước, thì
gọi đó là “chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam”).
1.1.4. Chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ là mang kiến thức kỹ thuật vượt qua sự giới hạn
trong hay ngoài nước từ các công ty, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các
phòng thí nghiệm, các doanh nghiệp khoa học ươm tạo công nghệ,… đến những nơi17
có nhu cầu tiếp nhận công nghệ. Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa về chuyển
giao công nghệ, luận án chỉ xin nêu một số định nghĩa như sau:
Chuyển giao công nghệ là sự trao đổi tri thức kỹ thuật, dữ liệu, các bản vẽ
Thứ nhất, chuyển giao công nghệ phải là một hoạt động bao gồm hai bên:
Bên giao và Bên nhận. Nếu chỉ có một bên thì không thể tạo nên hoạt động CGCN
và cũng rất hiếm trường hợp (nói đúng hơn là không có trường hợp nào) có từ ba
bên trở lên trong chuyển giao công nghệ và nếu có thì các bên đó cũng cấu tạo
thành các Bên giao và các Bên nhận, tức là thực chất chỉ có hai bên. Tuy nhiên,
ngoài khái niệm chuyển giao công nghệ, trong thực tế còn có khái niệm “chuyển
dịch công nghệ” (ví dụ trường hợp doanh nghiệp nước ngoài đưa công nghệ vào
thực hiện dự án của họ tại Việt Nam dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn của
họ).
Thứ hai, trong hoạt động đó, đối tượng được Bên giao “chuyển giao” cho
Bên nhận chính là các giải pháp (có thể bao gồm các giải pháp được vật thể hóa, tức
là máy móc, thiết bị hoặc không bao gồm).
Thứ ba, tại sao thường gọi là “chuyển giao công nghệ” mà không gọi là mua
bán công nghệ (ít nhất là trên đa số trường hợp). Vậy thì chuyển giao công nghệ có
những đặc điểm gì để phân biệt với những trường hợp mua, bán thông thường khác.
Xét một cách tổng thể ta thấy “chuyển giao công nghệ” có hai đặc điểm cơ
bản mà những trường hợp mua, bán thông thông thường không có, đó là:
Trong những trường hợp mua, bán thông thường, Bên bán trao hàng (sản
phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng) cho Bên mua và Bên mua trao tiền cho Bên bán,
cuộc mua, bán coi như hoàn thành. Còn trong “chuyển giao công nghệ”, thì Bên
giao chuyển giao cho Bên nhận một tập hợp giải pháp công nghệ để Bên nhận có
thể sản xuất một sản phẩm (chẳng hạn, chiếc xe máy Honda) giống y như của Bên
giao thì cũng chỉ là bước đầu. Bên giao phải bằng những kết quả nghiên cứu, triển
khai, chuyển giao tiếp cho Bên nhận hàng loạt giải pháp công nghệ để trình độ công
nghệ của Bên nhận luôn luôn “tương đương” với trình độ của Bên giao trong nhiều
năm sau này nữa. Chỉ có như vậy, Bên nhận mới không sa vào cái “Bẫy công nghệ”
của Bên giao hoặc của một bên thứ ba khác. Trong quá trình chuyển giao như vậy,
Bên nhận phải theo dõi chặt chẽ mọi động thái cạnh tranh của Bên giao để đòi hỏi
trường, cạnh tranh,… chứ không hoàn toàn phụ thuộc Bên giao hay Bên nhận nên20
không định trước được). Đó là chưa kể giá của “chuyển giao công nghệ” còn phụ
thuộc một phần rất lớn vào công nghệ được chuyển giao đang ở thời kỳ nào (thương
mại hóa, đang sung sức, ở đỉnh điểm, hay bắt đầu có dấu hiệu bão hòa và lỗi thời).
Chính vì những điểm khác nhau đó, mà người ta thường gọi là “chuyển giao
công nghệ” chứ ít gọi là “mua đứt, bán đoạn” hay “mua, bán” công nghệ. Lưu ý ở
đây chuyển giao chứ không phải cho không, hay biếu tặng công nghệ, vì bản chất là
mua bán công nghệ - một loại hàng hóa đặc biệt.
Với 03 đặc điểm nổi bật như vậy, có thể định nghĩa một cách ngắn gọn, dễ
hiểu: Chuyển giao công nghệ là hoạt động bao gồm 2 bên (Bên giao và Bên
nhận), trong đó, hai bên phối hợp các hoạt động thực tiễn và/hoặc các hành vi
pháp lý sao cho Bên nhận có được một năng lực công nghệ cần thiết, trong suốt
thời gian cần thiết để thực hiện được mục tiêu đã xác định.
Hoạt động chuyển giao công nghệ thường diễn ra dưới 02 hình thức chủ yếu
sau:
Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang (Horizontal Technology Tranfer) là
đưa công nghệ đang được áp dụng ở một đơn vị (doanh nghiệp) này sang áp dụng ở
một đơn vị (doanh nghiệp) khác. Trong chuyển giao ngang, các hành vi Bên giao và
Bên nhận, tương quan quyền lợi/nghĩa vụ giữa các bên, đều có thể xác định tương
đối rõ. Rủi ro trong chuyển giao ngang rất ít xảy ra và nói chung có thể kiểm soát
được, vì công nghệ chuyển giao đã được áp dụng thành công ở Bên giao và Bên
giao đã sở hữu kinh nghiệm trong quá trình vận hành.
Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc (Vertical Technology Transfer) hay
triển khai công nghệ là hoạt động trong đó công nghệ không chỉ được chuyển từ
đơn vị này sang đơn vị khác, mà quan trọng hơn là, cùng với điều đó, công nghệ
được chuyển hóa từ giai đoạn thấp hơn sang giai đoạn cao hơn trong “vòng đời” của
nó (các trường hợp thường gặp từ giai đoạn thử nghiệm - trình diễn sang giai đoạn
trong cuốn “Chuyển giao công nghệ - thực trạng và giải pháp” năm 2004 thì, trong
phạm vi vĩ mô, chuyển giao công nghệ là sự dịch chuyển toàn bộ hay một phần
công nghệ từ nhóm người này sang nhóm người khác, là một lĩnh vực hoạt động
nhằm đưa công nghệ từ nơi có trình độ công nghệ cao hơn đến nơi có trình độ công
nghệ thấp hơn một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên đối tác. Thuật ngữ
“Chuyển giao công nghệ” được coi như là những dòng lưu thông công nghệ hay quá
trình phổ biến công nghệ. Thuật ngữ này chỉ sự dịch chuyển công nghệ từ một thực22
thể sở hữu công nghệ (Bên giao) tới bên khác, và việc chuyển giao công nghệ này
chỉ thành công khi thực thể nhận công nghệ (Bên nhận) hiểu đúng cách và sử dụng
có hiệu quả công nghệ. Nếu Bên nhận công nghệ không thể hiểu và sử dụng công
nghệ một cách có hiệu quả, việc chuyển giao được coi là chưa hoàn thành.
Trung tâm các Công ty xuyên quốc gia của Liên Hiệp Quốc đã chia các hình
thức (các kênh) chuyển giao công nghệ ra làm 07 loại, gồm:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài kiểu cổ điển (phía nước ngoài kiểm soát, điều
hành);
- Liên doanh hay là một hình thức mới của đầu tư trực tiếp;
- Mua bán li xăng;
- Các hợp đồng quản lý dịch vụ, kỹ thuật;
- Tiếp thị;
- Hợp đồng chìa khóa trao tay;
- Các hợp đồng phụ.
Còn với các nước Đông và Đông Nam Á, chuyển giao công nghệ thường được
tiến hành theo một số hình thức sau:
- Các Doanh nghiệp ký kết hợp đồng với các Công ty nước ngoài để công
nghệ được chuyển giao;
- Mua sản phẩm mà họ muốn làm, tháo gỡ và sao chép lại;
- Mua máy móc và chuyển giao công nghệ trên thương trường;
như: Chính sách là quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một
nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson,
2003); Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của
một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các
mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978); Chính
sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm
cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức
Nhà nước đề ra (William N. Dunn, 1992); Theo Charles O. Jones (1994), chính sách
công là một tập hợp các yếu tố gồm: Dự định (intentions) - mong muốn của chính
quyền; Mục tiêu (goals) - dự định được tuyên bố và cụ thể hóa; Đề xuất (proposals)24
- các cách thức để đạt được mục tiêu; Các quyết định hay các lựa chọn; Hiệu lực
(effects).
Trong luận án này tác giả lựa chọn định nghĩa dưới đây, bởi nó phù hợp với
điều kiện thể chế hiện tại của việt nam và phù hợp với cách hiểu và diễn giải của
những người tham gia hoạch định chính sách cũng như những người thực thi chính
sách.
Chính sách là những nguyên tắc, chuẩn mực hành động để hoàn thành
những nhiệm vụ trong một thời kỳ lịch sử nhất định mà một chính đảng, một nhà
nước, một doanh nghiệp chế định ra và tuân thủ (cũng có thể định nghĩa:“chính
sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định dựa
trên đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” (Viện Chiến lược và
Chính sách KH&CN, 2003).
Trong hệ thống quản lý khoa học và công nghệ, ở nhiều nước trên thế giới , ở
tầm vĩ mô các văn bản sau đây được hoạch định và ban hành (hoặc bởi các cơ quan
Chính phủ, hoặc bởi các Hội đồng do Chính phủ thành lập ).
- Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia;
- Chính sách phát triển khoa học quốc gia;