Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam - Pdf 14


1
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN
______________________________________ ĐỀ TÀI CẤP BỘ
BÁO CÁO TỔNG HỢP

TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở
CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP LỚN TẠI VIỆT NAM



+−

+
===
=
n
i
ii
X
e
YInvestmentDRrobP
1
*
1
1
)1_&.(
βα




















+−

+
===
=
n
i
ii
X
e
YInvestmentDRrobP
1
*
1
1
)1_&.(
βα2
MỤC LỤC

3.1. Kinh nghiệm về các biện pháp khuyến khích của nhà nước 26
3.1.1. Biện pháp trực tiếp 26
3.1.2. Biện pháp gián tiếp 28
3.1.3. Xây dựng môi trường có lợi cho hoạt động R&D của DN 33
3.1.4. Khuyến khích cán bộ tiến hành nghiên cứu cùng DN 35
3.1.5. Một số nhận xét chính sách của một số nước 37
3.2. Kinh nghiệm của một số DN lớn nước ngoài 37
3.2.1. Mô hình tổ chức 37
3.2.2. Chiến lược hoạt động R&D 38
3.2.3. Đầu tư và nhân lực R&D của các DN lớn 39
3.2.4. Hoạt động SHTT 40
3.2.5. Một số nhận xét 40
CHNG 4. HIN TRNG CÁC LOI HÌNH T CHC VÀ HOT NG KH&CN
TRONG CÁC DN LN 41
4.1. Tổng quan về cuộc điều tra, khảo sát của Đề tài 41

3
4.1.1. Mẫu và cách thức điều tra 41
4.1.2. Phân tích dữ liệu điều tra 43
4.2. Hiện trạng loại hình tổ chức và hoạt động KH&CN của DN 43
4.2.1. Hiện trạng tổ chức KH&CN trong các DN 44
4.2.2. Nguồn gốc hình thành các tổ chức KH&CN 44
4.2.3. Mô hình tổ chức và quản lý 44
4.2.4. Hiện trạng KH&CN trong các DN 46
4.2.5. Kết quả hoạt động KH&CN trong các DN 51
4.3. Phân tích hồi qui 61
CHNG 5. CHÍNH SÁCH NH HNG N HOT NG KH&CN VÀ PHÁT
TRIN CÁC LOI HÌNH T CHC KH&CN TRONG DN VIT NAM 67
5.1. Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động KH&CN của DN 67
5.2. Chính sách hỗ trợ gián tiếp cho hoạt động KH&CN của DN 74

Bảng 4.7. Cơ cấu các nguồn thu tài chính (tr.đ.) của đơn vị R&D trong DN 49
Bảng 4.8. Cơ cấu các khoản chi tài chính (tr.đ.) của đơn vị R&D trong DN 49
Bảng 4.9. Kết quả hoạt động trung bình tính cho 01 DN lớn 51
Bảng 4.10. Thực hiện các đề tài/dự án NCKH trong một số đơn vị R&D điển hình 52
Bả
ng 4.11. Thực hiện công tác đào tạo trong một số đơn vị R&D điển hình 53
Bảng 4.12. Tóm tắt một số hình thức hợp tác, liên kết hoạt động KH&CN 53
Bảng 4.13. Sự hài lòng của DN mẹ đối với đơn vị R&D trực thuộc 58
Bảng 4.14. Sự hài lòng của đơn vị R&D trực thuộc đối với DN mẹ 59
Bảng 4.15. Một số trở ngại/rào cản trong hoạt động KH&CN của DN 60
Bảng 4.16. Kế hoạch tiến hành hoạt động KH&CN của các DN 61
Bảng 4.17. Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy 63
Bảng 4.18. Kết quả chạy mô hình Probit 65
Bảng 4.19. Kết quả chạy mô hình Tobit 66
Bảng 5.1. Tình hình hỗ trợ kinh phí cho các DN theo NĐ119 68
Bảng 5.2. Kinh phí hỗ trợ DN phân theo sở hữu DN 68
Bảng 5.3. Hỗ trợ của nhà nước hiện nay cho hoạt động KH&CN của DN 74
Bảng 5.4. Tác động của các biện pháp đến với hoạt độ
ng KH&CN của DN 99
Danh mục các Hình
Hình 1.1. Tỷ lệ chi cho R&D giữa các khu vực của một số nước 9
Hình 1.2. Các bước phát triển năng lực công nghệ DN (Somchai, 6/2009) 13
Hình 1.3. Khung phân tích của Đề tài 14
Hình 2.1. Sự khác nhau DN lớn và DNV&N trên phương diện R&D 19
Hình 2.2. Hoạt động S&T theo quan niệm của UNESCO 20
Hình 2.3. Mô hình đổi mới chuỗi liên kết (Kline và Rosenberg) 21
Hình 3.1. Mô hình tổ chức R&D kiểu tập trung 38
Hình 3.2. Mô hình tổ chức R&D kiểu phi tập trung 38
Hình 3.3. Mô hình tổ chức R&D kiểu kết hợp 38
Hình 3.4. Mô hình tổ chức toàn b

NĐ Nghị định
NSNN ngân sách nhà nước
SHTT sở hữu trí tuệ
SX-KD sản xuất – kinh doanh
TĐKT tập đoàn kinh tế
6
MỞ ĐẦU
Trong báo cáo nghiên cứu các chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) năm 2008/9 của 133 quốc
gia/vùng lãnh thổ trên thế giới cho thấy mức độ cạnh tranh của Việt Nam năm 2008/9 ở mức
trung bình (xếp hạng 70/133). Khi xem xét đến các nhân tố đổi mới1 của Việt Nam thì bức tranh
cũng không mấy sáng sủa. Năm 2008, Việt Nam được xếp thứ 71 (3,59 điểm) thấp hơn rất nhiều
so với Singapore (thứ 11 và 5,16 điểm), Malaysia (thứ 23 và 4,63 điểm), Indonesia (thứ 45 và
3,98 điểm), Thái Lan (thứ 46 và 3,91 điểm), Philippines (thứ 67 và 3,65 điểm). Vậy câu hỏi đặt
ra là tại sao các DN của Việt Nam lại kém về khả năng cạnh tranh như vậy? Để cải thiện khả
năng cạnh tranh của mình, mỗi DN có những kế hoạch hành động khác nhau như: đầu tư đổi mới
công nghệ, cải tiến thiết kế, kiểm soát chất lượng, tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển
khai (R&D) hoặc ngay chính tại DN hoặc hợp đồng R&D với các tổ chức bên ngoài, v.v Trong
các hoạt động này của DN thì hoạt động R&D được xem là hoạt động đem lại lợi ích cho DN từ
nhiều khía cạnh: giúp DN đưa ra thị trường những sản phẩm/dịch vụ có chất lượng, thúc đẩy
năng lực công nghệ của chính DN, hấp thụ và đồng hoá công nghệ nhập, đổi mới công nghệ
đang có, v.v Tuy nhiên, việc một DN tiến hành hoạt động R&D phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau, cả yếu tố bên trong DN (như quy mô DN, nguồn lực và định hướng của DN, v.v )
cũng như các yếu tố bên ngoài DN (chủ yếu là môi trường thế chế chính sách hỗ trợ, v.v ). Gần
đây, ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan ít nhiều đến vấn đề này, đặc
biệt là các yếu tố ảnh hưởng đến ĐMCN của DNV&N. Tuy nhiên, một bức tranh tổng thể về các
yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động KH&CN cũng như mức độ đầu tư của các DN này (đặc biệt là
các DN lớn) đối với KH&CN như thế nào hoặc chưa được xem xét và phân tích một cách sâu sắc

KH&CN cùng chúng tôi tham gia khảo sát thực địa và nhiều công việc hành chính cho việc triển
khai Đề tài. Lời cảm ơn cuối cùng của Chủ nhiệm Đề tài xin dành cho vợ và các con đã có nhiều
giúp đỡ, tạo điều kiện cũng như những hỗ trợ về tinh thần trong suốt quá trình thực hiện Đề tài
này.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn Đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những
thiếu sót. Tập thể tác giả xin hoan nghênh và trân trọng mọi ý kiến góp ý, bổ sung cho sản phẩm
của mình.

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2010
Chủ nhiệm Đề tài

8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN, BỐI CẢNH VÀ NHỮNG VẦN ĐỀ ĐẶT RA
1.1. Tổng quan các nghiên cứu đã có ở Việt Nam
Thời gian qua, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu được thực hiện về những chủ đề ít
nhiều có liên quan đến hoạt động KH&CN của DN, chủ yếu là các nghiên cứu về ĐMCN của
DN. Phần này sẽ tổng quan một số nghiên cứu đã qua cũng như những kết luận rút ra từ những
nghiên cứu đó, từ đó làm nảy sinh những luận điểm, gợi suy cho nghiên cứu của Đề tài.
1.1.1. Tổng quan chung
Trong khuốn khổ của Chương trình 98A “Đồng bộ hoá cơ chế đổi mới quản lý KH&CN
trong các năm 1985-1990”, đề tài 98A-02-05 hoàn thiện cơ chế kích thích đổi mới kỹ thuật trong
các biện pháp quản lý sản xuất (Vũ Cao Đàm, 1989) đã có những nghiên cứu bổ ích về vấn đề
này. Nghiên cứu này đã đề cập khá toàn diện đến nhiều vấn đề liên quan đến chính sách tài chính
cho KH&CN như chính sách giá, khấu hao, tạo vốn, lợi nhuận, tiền lương và tiền thưởng.
Một dự án nghiên cứu liên quan đến hoạt động ĐMCN trong các DN là Dự án điều tra
năng lực công nghệ một số ngành kinh tế do NISTPASS thực hiện trong các năm 1996 và 1997.
Kết quả của dự án này cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới ĐMCN (theo thang điểm

dụng và đãi ngộ) KH&CN nói chung và R&D nói riêng đã được đề cập trong một số nghiên cứu
(Trần Xuân Định, 1991-1995; Ngô Quý Việt, 1998; Trần Chí Đức, 1999, 2000; Nguyễn Thị Anh
Thu, 2000, 2005; Hoàng Xuân Long, 2004 và một số nghiên cứu khác). Những nghiên cứu này
đã đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện và thay đổi chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN
nói chung và tất nhiên kể cả hoạt động KH&CN trong các DN Việt Nam.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Hồng Việt (2001) về một số giải pháp khuyến khích
DNV&N ĐMCN theo hướng thân môi trường cũng đã đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng đến
hoạt động ĐMCN của các DNV&N gồm: (i) các yếu tố bên trong DN (yếu tố kỹ thuật, yếu tố
con người, yếu tố quản lý tổ chức, yếu tố thông tin và khả năng tài chính); (ii) các yếu tố bên
ngoài DN như thị trường, môi trường kinh doanh, các chính sách của chính quyền và cộng đồng.
Ngoài chính sách liên quan đến môi trường, các chính sách liên quan đến thị trường, dịch vụ hỗ
trợ là những biện pháp cần thiết để kết nối hiệu quả hơn những yếu tố bên trong và bên ngoài cho
đổi mới của DN. Ngoài ra còn những ưu đãi về thuế, tín dụng cũng là những biện pháp khuyến
khích DN ĐMCN.
Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca (2000) “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng
một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động ĐMCN và R&D trong các cơ sở sản xuất ở
Việt Nam” đã đề cập về 2 mảng chính sách (tài chính và nhân lực) ảnh hưởng đến ĐMCN của
DN. Các kết quả của nghiên cứu này chỉ ra:
- Về chính sách tài chính, bên cạnh những điểm tích cực của những chính sách này cũng
cho thấy có sự chưa phù hợp của môi trường chính sách với nhu cầu của hoạt động ĐMCN trong
DN;
- Về chính sách nhân lực: thứ nhất là các chính sách về giáo dục đào tạo nhân lực, mặc dù
đã có những thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của tình hình mới và có những đóng góp đáng kể
nhưng còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế như cơ cấu đào tạo, trình độ ngành nghề đào tạo và chất
lượng đào tạo thấp; thứ hai là chính sách tuyển dụng và di chuyển lao động, vấn đề biên chế
cứng của các tổ chức kinh tế đã tạo ra tình trạng mất cân đối về tương quan tỷ lệ lao động,
phương thức quản lý cũ tạo ra tình trạng sử dụng không hợp lý lao động KH&CN; thứ ba chính
sách tiền công, tiền lương: lực lượng cán bộ có kỹ thuật cao chưa nhận được sự hỗ trợ của các
chính sách này, mức lương không những thấp mà còn mang nặng tính bình quân, bất lợi cho lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn, lao động công nghệ và nghiên cứ

tới mọi loại hình DN, kể cả DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Về vấn đề mối quan hệ giữa loại hình DN và hoạt động KH&CN trong các loại hình DN
khác nhau cũng đã có một số tác giả khác đề cập đến. Những biểu hiện thực tế của sự khác nhau
trong hoạt động KH&CN giữa DNNN và DN ngoài nhà nước (DNNNN) đã được tác giả Hoàng
Xuân Long (2002) liệt kê như: Số hợp đồng KH&CN với viện/trường của DNNNN thấp hơn khá
nhiều so với DNNN; Số đề tài nghiên cứu được hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
(NSNN) ở DNNN lớn hơn nhiều so với DNNNN; Việc thu hút lao động có trình độ KH&CN
vào các DNNN khó khăn hơn DNNNN.
Sau khi phân tích các đặc điểm của DN ngoài quốc doanh, những khó khăn vướng mắc
của các DN này trong quá trình phát triển KH&CN (vốn, năng lực công nghệ, kỹ thuật, trình độ
lao động và quản lý, thiếu thông tin kiến thức, v.v ), tác giả Lê Nguyên Lương (2006) đưa ra
một nhóm các giải pháp chính sách thúc đẩy các DN này phát triển KH&CN. Nhóm các giải
pháp này gồm: Xác định nhiệm vụ KH&CN; Ứng dụng kết quả KH&CN; Hỗ trợ dịch vụ
KH&CN; Đào tạo nguồn nhân lực KH&CN; Các ưu đãi về thuế khóa.
Đã có một số nghiên cứu về vấn đề liên kết, liên doanh giữa khu vực nghiên cứu, đào tạo
và khu vực DN (Nguyễn Văn Học, 1998; Hoàng Xuân Long, 1999; Nguyễn Thanh Thịnh;
Nguyễn Việt Hoà, 2004 và một số người khác). Các nghiên cứu này đều nhận định là mối quan
hệ giữa khu vực nghiên cứu và đào tạo với khu vực DN còn rất yếu. Nguyên nhân của vấn đề

11
này xuất phát từ cả 2 hai phía: từ chính bản thân DN và từ môi trường chính sách của nhà nước
chưa thực sự thúc đẩy mối liên kết này.
Trong một nghiên cứu gần đây của Hoàng Xuân Long (2006) “Phân tích một số mô hình
liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với DN để phát triển công nghệ mới”, sau khi phân tích
một số mô hình liên kết viện-trường-DN, tác giả đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến s

liên kết này, gồm: Lãnh đạo DN phải thực sự coi trọng KH&CN. Đồng thời thái độ đối với
KH&CN phải thể hiện cụ thể ở các mặt như đầu tư kinh phí cho R&D, chú trọng phát triển bộ
phận R&D trong DN; Có chiến lược phát triển kinh doanh và định hướng phát triển công nghệ rõ
ràng; DN phải nắm vững thông tin và có khả năng phân tích về các đối tác cần liên kết; Xây

DN. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình tuyến tính (đầu tư cho KH&CN sẽ dẫn tới ĐMCN và
ĐMCN sẽ dẫn tới nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả SX-KD và cuối cùng là tăng năng
suất) để phân tích chính sách tài chính theo tinh thần Nghị định 119. Kết quả của nghiên cứu này
chỉ ra: Thứ nhất, khung lý thuyết đưa ra trong Nghị định 119 còn có những chỗ hổng căn bản bởi
vì đầu tư cho KH&CN (thường là cung cấp các trợ cấp cho hoạt động R&D), một hình thức của

12
ĐMCN, không phải lúc nào cũng dẫn đến ĐMCN bởi vì những rủi ro có thể xảy ra khi thực hiện
hoạt động R&D và các nguyên nhân khác. Thứ hai, các khuyến khích về tài chính không phải là
nhân tố quyết định việc ĐMCN của DN. Các khuyến khích về tài chính sẽ mang lại những thành
công nếu các điều kiện khác cho ĐMCN sẵn có. Thứ ba, Nghị định 119 sử dụng công cụ thuế và
các tài trợ về R&D để thúc đẩy đầu tư cho hoạt động KH&CN không hấp dẫn đối với các DN
bởi vì tính không linh hoạt của các khuyến khích về thuế và quy trình khó khăn khi DN xin tài
trợ. Thứ tư, trong trường hợp các DN Việt Nam, các khuyến khích về tài chính không hấp dẫn
đối với các DN có số lượng công nhân hạn chế hoặc ở trong các ngành dịch vụ khi nhu cầu
ĐMCN của họ rất thấp và việc thực hiện các hoạt động R&D là rất khó khăn vì thiếu đội ngũ
nhân lực. Cuối cùng là những quy định quá khắt khe trong Nghị định (mức hỗ trợ tối đa là 30%
và thời gian được phê duyệt rất dài) buộc các DN phải tìm những cách khác để thực hiện dự án
ĐMCN của mình hơn là trông chờ vào sự hỗ trợ này của nhà nước.
Nghiên cứu của Hoàng Văn Tuyên (2007) “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt
động R&D của DN”. Tác giả đã phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt
động R&D của DN. Tuy nhiên, đây là đề tài cấp cơ sở nên nội dung nghiên cứu về các yếu tố
ảnh hưởng mới chỉ dừng lại ở nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng.
Gần đây là nghiên cứu của Nguyễn Minh Hạnh (2009) “Nghiên cứu vai trò của hoạt động
R&D nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNV&N trong bối cảnh hội nhập”. Sau khi
phân tích các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cho các DNV&N, mối quan hệ giữa hoạt
động R&D và năng lực cạnh tranh của DNV&N cũng như trường hợp điển hình ngành cơ khí ở
Vĩnh Phúc, tác giả đã nêu lên một số đề xuất về chính sách cho vấn đề này đó là: tạo lập môi
trường bình đẳng cho các DNV&N và đặc biệt là một số hỗ trợ cho các DNV&N thông qua
R&D. Tuy nhiên, nghiên cứu của Đề tài cũng chỉ đưa ra một số khuyến nghị mang tính gợi ý về

ại DN ảnh hưởng đến liên kết);
Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra có sự phân biệt đối xử về mặt chính sách liên quan đến
hoạt động R&D và ĐMCN giữa DN thuộc khu vực nhà nước và DN ngoài nhà nước.
Hầu như chưa có nghiên cứu nào tập trung vào tổ chức KH&CN và hoạt động KH&CN
trong DN nói chung, các TĐKT, DN lớn, tổng công ty (90, 91) nói riêng nhất là trong thời kỳ
đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và công nghi
ệp hóa-hiện đại hóa hiện nay.
Trong bối cảnh như vậy, một số vấn đề nảy sinh dẫn đến nhu cầu nghiên cứu của Đề tài
là: Thứ nhất, các DN Việt Nam mới chủ yếu dừng lại ở ĐMCN (theo cách tiếp cận tuyến tính
của một số tác giả)? Thứ hai, thực tế hoạt động R&D và ĐMCN của DN, đặc biệt là các DN lớn
Việt Nam hiện nay chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nào? Thứ ba, các chính sách của nhà
nước đã ban hành cho đến nay có những thành công nào cần phát huy, hạn chế nào cần khắc
phục để thúc đẩy hoạt động hoạt động KH&CN của DN, đặc biệt là DN lớn?
1.2. Bối cảnh trong và ngoài nước tác động tới việc hình thành tổ chức và hoạt động
KH&CN trong DN lớn Việt Nam
1.2.1. Xu thế hướng tới nền kinh tế dựa trên tri th
ức, dựa trên KH&CN
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự tăng trưởng, phát triển của nó không còn dựa
chủ yếu vào các nguồn lực tự nhiên như trong xã hội công nghiệp, mà chủ yếu dựa vào nguồn tri
thức KH&CN (loại nguồn lực có khả năng tái tạo, tự sinh sản và không bao giờ bị cạn kiệt). Nền
kinh tế tri thức có những đặc điểm tác động trực tiếp tới sự lựa chọn định hướng phát triển
KH&CN của một quốc gia đó là: Hàm lượng kiến thức, thông tin cao trong sản phẩm và dịch vụ;
Sự phát triển dựa trên nền tảng “chất xám”, tri thức và thông tin; Sự liên kết mạng và sự tích hợp
trong các hoạt động của nền kinh tế; Nhân tố con người và vai trò của tri thức, kỹ năng của nhân
lực là yếu tố quyết định trong cạnh tranh và phát triển; S
ự linh hoạt, uyển chuyển trong điều
chỉnh và phát triển kinh tế. Từ những đặc điểm trên đây, khu vực DN (đặc biệt là các DN lớn)
của các nước đang phát triển như Việt Nam có thể tận dụng những lợi thế, khắc phục những bất
lợi thế của xu thế này để phát triển.


Trung Quốc (2007)
Việt Nam (tb 2000-nay)
% Chính phủ
% tư nhân
% nguồn khác

Hình 1.1. Tỷ lệ chi cho R&D giữa các khu vực của một số nước (UNDP 2008, WB 2009, số liệu
của Việt Nam lấy theo B/c của Bộ KH&CN).
Bên cạnh các nguồn kinh phí đầu tư vào hoạt động R&D kể trên, một nguồn kinh phí khác
cũng rất quan trọng đối với các đổi mới dựa trên khoa học đó là vốn mạo hiểm/rủi ro (VC). Nguồn vốn
này tập trung chủ yếu vào một số ngành được gọi là CNC như ICT, dược phẩm và CNSH và đặc biệt
phát triển trong những quốc gia có thị trường tài chính phát triển mạnh.

15
1.2.3. Tăng mạnh khoảng cách chênh lệch trong việc tạo ra công nghệ trên thế giới và
những khó khăn trong CGCN
Trên thực tế, các sản phẩm nghiên cứu KH&CN chủ yếu được tạo ra ở các nước công
nghiệp phát triển. Như vậy, các nước đang phát triển chủ yếu sẽ là mua công nghệ từ bên ngoài,
đặc biệt là từ 3 cực của thế giới Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Do vậy, dù có lạc quan đến đâu,
cũng không thể hy vọng xoá bỏ cách biệt giữa nước tạo ra và nước ứng dụng kết quả nghiên cứu
khoa học.
Bên cạnh đó, hoạt động CGCN đang ngày trở nên khó khăn hơn. Các nước đang phát
triển phải đối mặt với những khó khăn trong CGCN như:
2

- Công nghệ sẵn có để lựa chọn khá hạn chế vì bản chất độc quyền của bên cung cấp
công nghệ - Thậm chí người ta còn nói tới xu thế trao đổi quốc tế trong tương lai sẽ chuyển sang
phương thức trao đổi “công nghệ - công nghệ” (techology for techology) nhiều hơn là “công
nghệ - tiền ” (techology for money exchange).
- Thị trường giao dịch công nghệ chưa hoàn hảo, có nơi mới hình thành thành ở mức độ

; ngăn
cấm tiếp nhận hoặc sử dụng các công nghệ bổ sung hoặc cạnh tranh; các hạn chế có liên quan tới
cải tiến và chuyển hoá công nghệ; các điều khoản không lành mạnh khác như bắt buộc sử dụng
nhãn hiệu hàng hóa của bên giao li-xăng, cấm bên nhận li-xăng khiếu kiện về hiệu lực của quyền
sở hữu công nghiệp hoặc về quyền chuyển giao li-xăng của bên giao li-xăng.
4

Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra các công ty ở những nước công nghiệp phát triển thường sử
dụng các thủ đoạn hạn chế đối tác trong CGCN. Điển hình là những biện pháp mà các công ty
Mỹ sử dụng đã gây khó khăn không riêng các nước đang phát triển mà cả các nước phát triển
5
.
1.2.4. Tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài DN cần phải có năng lực nội sinh
Việc mua bán, sử dụng kết quả nghiên cứu từ bên ngoài nhiều khi được nhìn nhận chỉ là
tìm kiếm, sử dụng những gì vốn có sẵn thay vì phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học
thực sự. Tuy nhiên, đó là quan điểm giản đơn không thực tế.
Trên thực tế, tiếp cận của các nước đang phát triển đối với kết quả nghiên cứu khoa học
tạo ra tại các nước công nghiệp phát triển ngày càng đòi hỏi phải có những năng lực nhất định.
Để một nước tiếp cận được với tri thức thế giới thì nước đó phải có một đội ngũ ổn định các nhà
KH&CN cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học và có khả năng trao đổi lâu dài những
kiến thức mới với các cộng đồng khoa học quốc tế; mặt khác cũng phải có nền SX-KD nội sinh
tạo ra tri thức và sự chuyển giao đều đặn về thông tin giữa giới nghiên cứu với giới kinh tế và
chính trị trên bình diện quốc gia cũng như bình diện quốc tế.
1.2.5. Xu thế phát triển các trường, viện trong DN
Trường ĐH cho công nghiệp (UfI): Vào tháng 4/1998, chính phủ Anh xây dựng chương
trình Trường Đại học cho công nghiệp (UfI). Mục tiêu trọng tâm của các trường đại học này
đóng vai trò như cơ quan trung gian và môi giới giáo dục, tạo điều kiện cho DN tiếp cận đến các
chuẩn về giáo dục và đào tạo, đồng thời cũng khuyến khích các nhu cầu mới và phát triển các
sản phẩm và dịch vụ đổi mới từ khu vực công nghiệp: Cải tiến khả năng thiết kế và viết báo cáo,
đáp ứng nhữ

lượng cũng như thể chế về R&D và đổi mới tốt mới có thể tận dụng được những lợi ích của các
đơn vị R&D nước ngoài này.
1.2.7. Định hướng phát triển KH&CN Việt Nam
+ Xu thế chuyển từ nền kỹ thuật chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, sự khéo léo sang nền kỹ
thuật chủ yếu dựa trên sự hiểu biết, tri thức khoa học. KH&CN từ chỗ biệt lập hoặc còn tách rời
hay phụ thuộc vào sản xuất thành một ngành mà sản phẩm của nó là các sản phẩm và dịch vụ
khoa học, được xếp ngang hàng với sản xuất vật chất và được quy vào quỹ đạo chung của sản
xuất xã hội, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đối với nền sản xuất xã hội. KH&CN được coi
là một nguồn lợi giàu có của quốc gia.
+ Xu thế đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống KH&CN theo hướng xã hội hóa, kết hợp
KH&CN với sản xuất, kế hoạch với thị trường, hội nhập với khu vực và quốc tế.
+ Xu thế lấy việc ứng dụng, tiếp nhận CGCN là chính; đi thẳng vào công nghệ hiện đại ở
những ngành và lĩnh vực đòi hỏi phải vươn lên cạnh tranh trên thị trường trong, ngoài nước,
hoặc những lĩnh vực cơ sở hạ tầng, dịch vụ đòi hỏi sớm phải tương hợp quốc tế để hội nhập.
KH&CN phải góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia, hỗ trợ việc tiếp thu, làm chủ và
cải tiến công nghệ nhập. Kết hợp hài hoà giữa nhập công nghệ hiện đại và phát triển công nghệ
truyền thống.
+ Xu thế phát triển kinh tế, phát triển SX-KD dựa vào KH&CN.
1.2.8. Những cơ hội và thách thức đối với các DN lớn Việt Nam
Những xu thế trên tạo ra nhiều cơ hội cho các DN Việt Nam, đặc biệt là các DN lớn trong
việc tiếp thu, đồng hóa, CGCN để rồi dần dần tự tiến hành các hoạt động R&D (theo các bước
phát triển năng lực công nghệ như trong Hình 1.2) và chế tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới để
mở rộng thị trường và tăng lợi thế cạnh tranh.
18

Tuy nhiên, những vấn đề trên cũng tạo ra nhiều thách thức, đặc biệt là sức ép cạnh tranh
từ các công ty đa/xuyên quốc gia với hàm lượng chất xám chứa trong sản phẩm/dịch vụ cao.
Điều này hơn lúc nào hết đòi hỏi các DN Việt Nam, đặc biệt là các DN lớn cần phải ý thức được
tầm quan trọng của hoạt động R&D đối với DN để có một chiến lược phát triển dựa vào R&D
đúng đắn.
1.3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các TĐKT
7
, tổng công ty, các DN lớn (kể cả sở hữu
nhà nước và sở hữu tư nhân, cổ phần) và các cơ quan KH&CN thuộc các DN lớn này (sẽ được
mô tả kỹ hơn trong phần phân tích thực trạng ở chương 4).
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng: trong các loại hình DN lớn của Việt Nam: sản xuất-chế tạo
(manufacturing), dịch vụ (service), Đề tài tập trung chủ yếu vào khối DN mà ngành nghề
chính
thuộc khu vực sản xuất-chế tạo (manufacturing); về sở hữu nhà nước và tư nhân và cổ phần,
không nghiên cứu về loại hình DN 100% vốn nước ngoài.
- Về không gian: nghiên cứu chủ yếu các DN lớn trên địa bàn Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh
và một số DN điển hình ở các tỉnh lân cận của 2 thành phố này.
- Về thời gian: đánh giá các cơ chế, chính sách có tác động đến hoạt động KH&CN của
DN từ thời kỳ đổi mới (1986); hoạt động KH&CN của DN trong 3 năm gần đây (2007-2009).

6
Somchai Chatrana, PGĐ Cục phát triển KH&CN của Thái Lan.
7
Hiện nay các TĐKTNN đang chuyển sang mô hình Công ty TNHHNN một thành viên.
CN Dệt
CN nông nghiệp và thực phẩm
CN gỗ và SP gỗ

• Kinh nghiệm của một số DN
lớn lựa chọn

Tổng quan và Bối cảnh
(Chương 1)
• Tổng quan các nghiên cứu đã có
• Bối cảnh trong và ngoài nước
KH&CN của DN lớn
(Chương 2)
R
Q?
Bài học
gợi suy
H
iện trạng,
thành công,
hạn chế và
nguyên nhân
Đề xuất và khuyến nghị

20
Tổng quan, bối cảnh và những vấn đề đặt ra cho Đề tài được nêu tại Chương 1. Chương
này sẽ tổng quan lại những nghiên cứu gần đây về chủ đề liên quan đến tổ chức và hoạt động
R&D và ĐMCN của DN, những nội dung đã làm được và một số nội dung cần tiếp tục nghiên
cứu trong Đề tài này. Đồng thời, Chương này còn xem xét bối cảnh quốc tế và trong nước tạo cơ
hội và thách thức gì cho các DN lớn. Từ hai nội dung này hình thành các vấn đề nghiên cứu
(RQ) mà Đề tài cần đi sâu giải quyết.
Những vấn đề lý thuyết được đề cập ở Chương 2. Ngoài những vấn đề liên quan đến
TĐKT, vai trò của DN lớn đối với sự phát triển KT-XH đất nước, chương này mô tả các khía
cạnh khác nhau về hoạt động R&D và vai trò của hoạt động này đối với DN, các hình thức tiến

21
CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
2.1. Khái niệm và vai trò của TĐKT/DN lớn
Mô hình Tập đoàn trong SX-KD đã được hình thành, phát triển từ hàng chục năm nay và
đã rất quen thuộc với các nước phát triển. Quan niệm về TĐKT và nhận diện về loại hình TĐKT
là rất đa dạng. TĐKT ở các nước khác nhau được gắn với những tên gọi khác nhau. Ở mỗi quốc
gia có thể có những tên gọi khác nhau, ví dụ như ở Đức, Pháp, Mỹ thì gọi là: Cartel, Syndicate,
Trust, Group, hay ở Nhật Bản là Zaibatsu (trước chiến tranh thế giới thứ hai) và sau chiến tranh
là Keiretsu, Ấn Độ dùng thuật ngữ Bussiness Houses, ở Hàn Quốc là Chaebol, Trung Quốc dùng
thuật ngữ Tập đoàn DN, v.v… Ở Việt Nam dùng tên gọi là TĐKT. Sự đa dạng về tên gọi hay
thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của hình thức liên kết được khái quát chung là TĐKT.
Đa số các nước phân loại DN lớn, DN vừa, DN nhỏ và DN siêu nhỏ theo quy mô lao
động và/hoặc doanh thu hàng năm. Các nước châu Âu xác định DN lớn là các DN có trên 250
lao động hoặc doanh thu hàng năm trên 50 triệu €. DN lớn ở Nhật Bản và Hàn Quốc là những
DN có trên 500 lao động. Tại Việt Nam, tiêu chí DN lớn đã được thay đổi một vài lần và hiện
nay theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ là những DN có tổng
nguồn vốn trên 100 tỷ đồng hoặc số lao động trên 300 người (áp dụng đối với khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản và khu vực công nghiệp và xây dựng), có tổng số vốn trên 50 tỷ đồng hoặc số
lao động trên 100 người (áp dụng đối với khu vực thương mại và dịch vụ). Như vậy, DN lớn
trong Đề tài này cũng tuân thủ tiêu chí của NĐ56.
2.1.1. Vai trò của DN lớn nói chung
8

Thứ nhất, cho phép các nhà quản lý kinh doanh huy động được tối đa các nguồn lực trong
xã hội để phục vụ việc phát triển kinh tế, việc tập trung nhiều công ty vào trong một đầu mối làm
cho họ có điều kiện thuận lợi cho việc chống cạnh tranh với các Tập đoàn nước ngoài.
Đối với các nền kinh tế mới phát triển mà nền công nghiệp trong nước còn manh mún thì
các DN lớn là một biện pháp hữ
u hiệu để chống sự thâm nhập một cách ồ ạt của các công ty
khổng lồ trên thế giới; đồng thời giúp cho sản xuất trong nước có thể đứng vững và từng bước

như việc thay đổi cơ cấu sản xuất một cách hợp lý. Nó là cầu nối để tiếp thu nhanh chóng các
thành tựu khoa học trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách về trình độ giữa các nước chậm phát
triển và các nước phát triển.
DN lớn có tác dụng lớn trong việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai, ứng
dụng các thành tựu KH&CN mới vào SX-KD của các công ty thành viên. Hoạt động nghiên cứu,
ứng dụng KH&CN mới đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn, có sự hợp lực của đội ngũ cán bộ
nghiên cứu và cần có các PTN, máy móc, thiết bị nghiên cứu mà mỗi công ty riêng lẻ khó có khả
năng huy động được. Chỉ có trên cơ sở liên kết các công ty lại mới tạo được tiềm năng nghiên
cứu khoa học to lớn đó.
DN lớn có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp, trao đổi thông tin và những kinh nghiệm
quan trọng trong tổ chức nghiên cứu-triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ giữa các công ty
thành viên. Những thông tin cần thiết và kinh nghiệm trong CGCN từ các công ty thành viên
được phổ biến rộng rãi trong DN lớn. Nhờ đó, tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra
do thiếu những hiểu biết cơ bản trong CGCN nước ngoài.
Ngoài ra, việc hình thành DN lớn còn có ý nghĩa tăng cường hiệu quả quản lý, sử dụng
lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thế của sự chuyên môn hóa với hoạt động kinh doanh đa
dạng và tách bạch được quản lý hành chính và quản lý kinh doanh đối với các công ty thành
viên. Phần lớn các DN lớn có cơ quan nghiên cứu thống nhất – cơ quan thực hiện chức n
ăng mà
một DN riêng lẻ khó có thể đảm đương nổi, như thu nhập thông tin, dự đoán thị trường, nghiên
cứu kỹ thuật tiên tiến, dự báo xuất khẩu của các DN cùng ngành. Trong kinh doanh, chúng có thể
giúp DN riêng lẻ đàm phán đối ngoại khi kinh doanh ngoại thương, cùng mua cùng bán trên thị
trường, vay vốn ngân hàng và xác lập tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Thứ tư, việc hình thành các DN lớn sẽ làm thay đổi bộ mặt xã hội cho từng địa ph
ương
hay một quốc gia, nó giải quyết được nhiều việc làm, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên
môn hóa các ngành nghề, thúc đẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công nghiệp và làm
tăng khả năng lớn mạnh của nền kinh tế.

9

điều kiện R&D như thế được sử dụng có hiệu quả hơn ở các DN có quy mô lớn;
- Mỗi dự án R&D đều có độ bất định và rủi ro, đặc biệ
t là khi các nghiên cứu này được
thực hiện trên những lĩnh vực có ‘tính mới’ cao. DN quy mô lớn có thể tiến hành đồng thời nhiều
dự án cho nên rủi ro của từng dự án có thể được chia sẻ, rủi ro của dự án này có thể được trang
trải bằng thành công của dự án khác;
- Các DN lớn có thể chờ thu hồi vốn trong một thời gian dài hơn. Như chúng ta đã biết,
đổi mới cần có thời gian vì vậy các DN lớn có th
ể đầu tư và chấp nhận thời gian thu hồi vốn dài
hơn các DN nhỏ;
- Hoạt động R&D hay đón nhận những kết quả không mong chờ. Các DN lớn thường
kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, hoạt động trên nhiều thị trường, do đó có điều kiện đa dạng hóa
sản phẩm thuận lợi hơn các DN nhỏ. Điều này cho phép họ khai thác kết quả của các hoạt động
nghiên cứu, đổi mới sản phẩm và công nghệ một cách hiệu quả hơn, phân chia rủi ro một cách dễ
dàng hơn.

24
Bên cạnh đó năng lực về tài chính của DN cụ thể cũng bị tác động bởi sự sẵn có của các
nguồn vốn tài trợ đầu tư cho R&D và ĐMCN mà DN có thể tiếp cận được. Sự khác nhau giữa
DN lớn và DNV&N trên phương diện hoạt động R&D được tóm tắt trong Bảng 2.1 và Hình 2.1.
Bảng 2.1. Sự khác nhau giữa DN lớn và DNV&N trên phương diện R&D
DN lớn DNV&N
Ưu điểm:
- Có khả năng gia tăng chi phí cho hoạt động
R&D trong quá trình sản xuất dài;
- Có khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro nhờ khả
năng đa dạng hoá các dự án R&D;
- Có khả năng thu hút đội ngũ cán bộ giỏi làm
công tác nghiên cứu (số lượng lớn các nhà khoa
học có thể tương tác và thảo luận ý tưởng);

động R&D
- Thiếu thời gian và nguồn lực để thúc đẩy các
mạng lưới hợp tác về KH&CN với các đối tác bên
ngoài;
- Khó có khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro;

Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của Del Canto and González, 1999. Hình 2.1. Sự khác nhau DN lớn và DNV&N trên phương diện R&D DNV&N
Tri thức KH&CN
DN lớn
Đơn vị SX-KD
Đơn vị R&D
Thươn
g

m

TT - chuyển giao tri thức bao gồm cả CGCN
T - phát triển công nghệ
STS - dịch vụ KH&CN, cung ứng các dịch vụ KH&CN.
Ở đây cần làm rõ khái niệm “phát triển công nghệ”. Phát triển công nghệ bao quát tất cả
các giai đoạn “phát triển công nghệ sau D”, là hoạt động chủ yếu trong nội dung sản xuất của
DN, trong đó khái niệm “phát triển công nghệ” bao gồm những nội dung chủ yếu: (i) Lập kế
hoạch và thực hiện các kế hoạch nâng cấp hoặc mở rộng công nghệ, trong đó phát triển công
nghệ được hiểu như “mở mang công nghệ”; (ii) Nhập công nghệ và CGCN nhằm mở mang các
lĩnh vực công nghệ của sản xuất theo chiều rộng và chiề
u sâu; (iii) Quản lý kỹ thuật và công
nghệ, giám định công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ. Như vậy, phát triển công nghệ phải
được hiểu là sự “mở mang công nghệ” theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu (Vũ Cao Đàm, 2003).
“Mở mang công nghệ theo chiều sâu” chính là sự nâng cấp công nghệ (Upgrading) từ
trình độ thấp lên một trình độ cao hơn. Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đổi mới
(innovation policy)
10
. Đó là sự ĐMCN dựa trên kết quả R&D các công nghệ của bản thân DN
hoặc ký hợp đồng CGCN để nhận một công nghệ có trình độ cao hơn từ các DN khác (chuyển
giao ngang), hoặc nhận một công nghệ mới từ kết quả pilot của các tổ chức R&D (chuyển giao
dọc), hoặc thậm chí ký hợp đồng CGCN từ nước ngoài (bao gồm cả chuyển giao dọc và chuyển
giao ngang).
“Mở mang công nghệ theo chiề
u rộng” chính là sự nhân rộng từ một dây chuyền công
nghệ của DN thành hai, ba hoặc nhiều dây chuyền công nghệ có cùng chức năng và cùng trình
độ như dây chuyền công nghệ ban đầu. Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đối với sản

10
Xem thêm Hoàng Văn Tuyên, 2006.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status