Những nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế - Pdf 12

Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa kế toán-kiểm toán
Lời mở đầu
Bất kỳ một nên kinh tế nào cũng chịu tác động của những quy luật kinh tế nhất
định. Nền kinh tế thị trờng cũng không nằm ngoài tính tát yếu đó. Với những quy luật
nh quy luật cạnh tranh, quy luật tích tụ và tập trung vốn, quy luật mở rộng sản xuất và
cơ bản là quy luật giá trị thặng d, việc hình thành nên những tập đoàn sản xuất là một
tất yếu khách quan. Sau khi hình thành, những tập đoàn sản xuất lại mang một vai trò
rất quan trọng trong nền kinh tế, trong sự xã hội sản xuất và phát triển lực lợng sản
xuất.
Ngày nay, khái niệm tập đoàn sản xuất không còn phù hợp nữa, trong quá trình
vận động hình thức tập đoàn sản xuất đã phát triển thành những hình thức mới, đa
dạng, hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Vì vậy, để tìm hiểu một cách tổng quát, ta có
thể mở rộng phạm vi nghiên cứu, tìm hiểu về tập đoàn kinh tế. Tập đoàn kinh tế là
một tổ chức tiên tiến đại diện cho trình độ phát triển cao của lực lợng sản xuất và
nền kinh tế xã hội. Nó là một thực thể kinh tế thể hiện sự liên kết giữa các thành
viên là các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi ích kinh tế nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh và tính chất độc quyền trong khuôn khổ pháp luật.
Nh vậy, ta cũng có thể hiểu, tập đoàn kinh tế cũng là tổ chức độc quyền..
Tập đoàn kinh tế, cũng giống nh mọi hiện tợng kinh tế xã hội khác, đều có quá
trình hình thành và phát triển chịu tác động của hai nhân tố chính:
Một là, quy luật căn bản tác động tới sự hình thành tập đoàn sản xuất; đó chính là sự
biến đổi của quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất.
Hai là, tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng quốc gia cũng nh quan điểm chính
sách, yếu tố chính trị gia đình, hay điều kiện kịch sử cụ thể ở từng quốc gia.
Những nhân tố ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế 2
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa kế toán-kiểm toán
Sau khi tìm hiểu về những nguyên nhận hình thành nên các tập đoàn kinh tế,
chúng ta có thể rút ra nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các

III. Việt Nam trên con đờng xây dựng tập đoàn kinh tế. ....................................28
1. Nguyên nhân hình thành những tập đoàn kinh tế Việt Nam. ..............................28
2. Hớng đi các cho tập đoàn Việt Nam ...................................................................29
Kết luận .....................................................................................................................33
Tài liệu tham khảo ......................................................................................................34
I. Các nhân tố khách quan
1. Nguồn gốc hình thành
Những nhân tố ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế 4
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa kế toán-kiểm toán
Về bản chất sự ra đời của các tập đoàn kinh tế là sự vận động mở rộng và sâu
sắc hơn của các quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa do sự phát triển của lực lợng sản
xuất tác động tới. Nó ra đời trớc hết là do một số điều kiện kinh tế xã hội sau :
Mộtt là: Trình độ tích tụ, tập trung vốn.
Một trong những điều kiện ra đời của chủ nghĩa t bản là, vốn phải đợc tập trung
vào trong tay một nhóm ngời. Lý do là, để tổ chức hoại động theo phơng thức sản xuất
mới, phải có một nguồn vốn tơng đối lớn. Tiếp theo, để tồn tại và phát triển, các xí
nghiệp đó phải luôn luôn mở rộng sản xuất, tăng quy mô của bản thân xí nghiệp.
Chính điều kiện này khiến cho các xí nghiệp phải luôn luôn thực hiện quá trình tích tụ
và tập trung vốn. Ban đầu, tích tụ và tập trung t bản thông qua hiệp tác lao động giản
đơn và sự phân công lao động ngày càng hoàn thiện đã dẫn tới sự ra đời của những xí
nghiệp có qui mô lớn và sự cạnh tranh giữa chúng ngày càng gay gắt. Sự cạnh tranh
gay gắt khiến cho các xí nghiệp bắt buộc phải có một quy mô ngày càng lớn để tồn tại
và tiếp tục phát triển. Kết quả, những xí nghiệp vừa và nhỏ không thể tồn tại độc lập, bị
phá sản hoặc bị thôn tính, sáp nhập vào các xí nghiệp lớn hơn. Mặt khác, khiến cho các
doanh nghiệp buộc phải liên kết với nhau để tăng khả năng cạnh tranh, thậm chí để
thoả hiệp, tránh tổn thất. Cuối cùng, trên thị trờng chỉ còn một số it những xí nghiệp có
quy mô rất lớn, nắm địa vị thông trị cả một ngành, thậm chí nhiều ngành khác nhau.
Quá trình cạnh tranh này lại làm cho quá trình tích tụ t bản đợc đẩy mạnh hơn
một bớc, hình thành nên độc quyền. Vậy là, cạnh tranh đẻ ra độc quyền, độc quyền lại

tỏ ra không có hiệu quả, còn mang tính hình thức. Hai là, có một công ty phát triển
nhanh chóng, tập trung xung quanh một loạt các công ty vệ tinh, cuối cùng hình thành
nên một tập đoàn. Đây là sự phát triển khách quan, theo đúng quy luật nhng lại rất lâu
dài mà tổng công ty may Việt Tiến là một ví dụ. Nh vậy, ở nớc ta hiện nayđang có hai
xu thế tích tụ và tập trung vốn. Mỗi xu hớng đều có u, nhợc điểm và vai trò riêng.
Chúng ta cần phải đánh giá đúng đắn vai trò của cả hai hình thức này.
Bên cạnh nguồn vốn trong nớc, hiện nay, tận dụng sự phát triển của nguồn vốn
quốc tế, chúng ta cũng đã thực hiện việc thu hút các nguồn vốn đầu t từ nớc ngoài vào
Việt Nam đẻ phục vụ sự phái triển. Tuy nhiên, để tránh nguy cơ phụ thuộc, chúng ta
Những nhân tố ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế 6
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa kế toán-kiểm toán
cần phát triển nguồn vốn trong nớc, phát huy nội lực. để nâng cao tính cạnh tranh cho
các công ty trong nớc trớc sự thâm nhập của hàng loạt công ty nớc ngoài, vai trò của
các tổng công ty, các tập đoàn trong nớc là rất quan trọng. Bên cạnh đó, các tập đoàn
nội dịa còn là đầu tầu kinh tế giúp cho chúng ta thâm nhạp thị trờng quốc tế, nâng cao
khả năng đầu t, tận dụng các nguồn lực quốc tế. Lý do là, chỉ có một số ít những công
ty lớn, có tiềm lực mạnh mẽ và uy tín cao mới có khả năng tham gia những hợp đồng
mang tính chất quốc tế. Để từ đó, các công ty này thay mặt cho các công ty nội địa
nhận những đơn dặt hàng rồi từ đó, phân phối lại cho các công ty nhỏ ở trong nớc.
Hai là: trình độ chuyên môn hoá, hợp tác hoá kinh doanh.
Khoa học kỹ thuật phát triển làm cho phân công quốc tế và hợp tác chuyên
ngành có xu thế chia nhỏ, đồng thời xuất hiện xu thế phát triển của sản xuất hiện đại
nhất thể hoá quốc tế mà hạt nhân là sự phân công quốc tế hiện đại và tổ chức lại cơ cấu
ngành.
Xu thế hiện nay là sự phân công theo trình độ của trình tự công nghệ trong sản
xuất của nội bộ ngành. Loại phân công này giúp cho, một là các nuớc khác nhau về
quá trình công nghệ sản xuất sẽ tiến hành chuyên môn hóa sản xuất đối với các khâu
của trình tự công nghệ gia công. Hai là các nớc có thể tận dụng u thế tơng đối về tài
nguyên, sức lao động của nớc mình. Khi kinh tế giữa các nớc còn có dự khác biệt lớn

thờng có những thế mạnh riêng của mình. Vì vầy, khi liên kết, không những họ giảm
đợc chi phí nghiên cứu mà còn có thể tân dụng đợc những phát minh, lợi thế của nhau.
Nhìn nhận về vấn đề này, chúng ta thấy Việt Nam cũng có nhiều bài học. Để
phát triển nhanh nhất, trớc hết chúng ta cần phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ
thuật vào hoạt dộng sản xuất. Đây là một thách thức không nhỏ với một quốc gia đi
lên từ nông nghiệp nh chúng ta. Tuy vậy, các tập đoàn kinh tế có những thuận lợi nhất
định trong việc này. Với một tiềm lực tài chính lớn, các tập đoàn kinh tế có thể tiếp
cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật mới để đẩy mạnh sản xuất. Một vấn đề nữu
cần phải cân nhắc là, chúng ta nên chọn những dây chuyền công nghệ nh thế nào,
thiên về tính hiện đại năng suất hay sử dụng nhiều lao động?
Những nhân tố ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế 8
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa kế toán-kiểm toán
Bốn là: trình độ phát triển của các loại thị trờng.
Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng, theo những
quy luật kinh tế mang những đặc điểm riêng biệt gắn với các loại thị trờng. Nh chúng
ta đã biết, các quy luật kinh tế mang tính chất khách quan nhng nó lại là quy luật xã
hội. Vì vậy sự tác động của quy luật mang tính chất lịch sử cụ thể. Nghĩa là, sự biểu
hiện của quy luật kinh tế còn phụ thuộc vào môi trờng kinh tế mà nó hoạt động, vào
trình độ phát triển của nền kinh tế mà nó điều khiển. Sự hình thành nên các tập đoàn
kinh tế là một quy luật khách quan, tất yếu. Tuy nhiên, nó cũng phải dựu trên những
điều kiện cơ bản mà trình độ phát triển của các loại thị trờng là một nhân tố cơ bản.
Thị trờng tài chính: giúp cho việc lu chuyển, huy động vốn diễn ra dễ dàng. Tr-
ớc đây, tín dụng t bản chủ nghĩa mở rộng là một đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung
sản xuất, hình thành nên các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho tập đoàn kinh tế xuất
hiện. Nó cũng là điều kiện cho các tập đoàn mở rộng sản xuất kinh doanh của mình
trên nhiều lĩnh vực hơn nhờ các hình thức đầu t ngày càng đa dạng. Bên cạnh đó, luồng
tài chính hiện nay đang lu thông trên khắp thế giới là tiền đề cho sự phát triển của
những tập đoàn mang tính chất xuyên quốc gia, biểu hiện một xu hớng nhất thể hóa
nên kinh tế vùng lãnh thổ, khu vực và toàn cầu.

Hiểu theo một nghĩa nào đó thì khu vực hóa, toàn cầu hóa là sự thống nhất
những thị trờng mang tính chất quốc tế. Thật vậy, sự xuất hiện của thị trờng chung
Châu Âu là một ví dụ của sự nhất thể hóa nền kinh tế trong khu vực. Nó có tác dụng
mở rộng thị trờng cho các tập đoàn kinh tế khai thác, thúc đẩy sự phân công hóa lao
động trên một diện rộng. Thậm chí nó giúp cho quá trình xuất khẩu t bản đợc diễn ra
dể dàng hơn.
Toàn cầu hoá tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực hoá. Các công ty đa quốc gia
cạnh tranh ở qui mô quốc tế đã trở thành một sức mạnh chính trị tác động ủng hộ khu
vực hóa về luật pháp, trong đó họ thấy có khả năng thực tế để giảm thiểu các trở lực
đối với hoạt động bên trong khu vực.
Những nhân tố ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế 10
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa kế toán-kiểm toán
Toàn cầu hoá cũng tạo thuận lợi cho địa phơng hoá trên thực tế. Sự thích nghi
toàn cầu hoá với những nhu cầu địa phơng, và khu vực hoá việc cung cấp đã tạo ra môi
trờng tài chính thuận lợi cho các doanh nghiệp trớc sự cạnh tranh của các nhóm độc
quyền.
Toàn cầu hoá cũng đã làm tăng thêm vai trò của các khu công nghiệp nằm ở bên
trong mỗi nớc nhng đôi khi cũng vợt ra khỏi khuôn khổ của quốc gia.
Nếu nh sự hình thành nên các tập đoàn trong nớc là biểu hiện của sự thống nhất
sản xuất của một hay nhiều ngành có liên quan tới nhau thì khu vực hóa, toàn cầu hóa
nền kinh tế thể hiện xu hớng thống nhất nền kinh tế khu vực và toàn cầu.
Nằm trong xu hớng chung, Việt Nam hiện nay cũng đang rất cố gắng trong còn
dờng hội nhập kinh tế quan trọng, cí dụ nh sự tham gia vào Asean, sắp tới là
Afta . Điều này ảnh h ởng rất lớn tới sự phát triển của những tập đoàn kinh tế của
Việt Nam. Nó tạo điệu kiện cho họ có khả năng mở rộng thị trờng, huy đọng đợc nhiều
nguồn vốn, học tập kinh nhiệm nớc ngoài. Tất nhiên, nó cũng đặt ra những cấn đề nan
giải cho những doanh nghiệp trong nớc, trong đó có các tập đoàn. Chúng ta sẽ pải chấp
nhận một môi trờng cạnh tranh khốc liệt hơn, sẽ phải phụ thuộc vào thị trờng ngoài n-
ớc, thậm chí có cả nguy cơ phụ thuộc về kinh tế. Vì vậy nó lại càng khiến chúng ta

Các tập đoàn kinh tế là công cụ vật chất để nhà nớc điều tiết nền kinh tế. Trình
độ quản lí vi mô, vĩ mô cũng là yếu tố thúc đẩy tập đoàn hình thành và bảo đảm phát
triển vững chắc các tập đoàn kinh tế.
ở Việt Nam hiện nay, chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao trình
độ quản lý vi mô lẫn vĩ mô. Về mặt quản lý vi mô, các tập đoàn hiện nay dang xây
dựng những mô hình công ty mẹ công ty con nhằm thể chế hóa mối quan hệ giữa
các thành viên trong tập đoàn. Điều này tất yếu dẫn tới việc nâng cao trình độ quản lý
trong từng tập đoàn. Bên cạnh đó, nhà nớc cũng đang cố gắng xây dựng bộ khung pháp
lý hoàn chỉnh cho hệ thống kinh tế nh các bộ luật về sản xuất kinh doanh, các sắclệnh
về thuế
Những nhân tố ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế 12
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa kế toán-kiểm toán
Nói tóm lại, tuy chúng ta phân chia những điều kiện hình thành nên tập đoàn
kinh tế thành những điều kiện khác nhau, nhng tất cả những điều kiện đó đều có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, nó đều thể hiện trình độ phát triển của mõi nền kinh tế khác
nhau. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúgn ta nên có một cái nhìn tổng quan, xây
dựng một chiến lợc tổng hợp, xây dựng tất cả những yếu tố cần thiết, khách quan cho
các tập đoàn nới riêng và nền kinh tế nói chung.
2. Bản chất và nguyên nhân:
Nh đã nói, tập đoàn kinh tế là sự vận động mở rộng và sâu sắc hơn của các quan
hệ sản xuất xã hội, của sự xã hội hoá sản xuất cho phù hợp với lực lợng sản xuất xã hội
ở mức phát triển rất cao, nhằm giải quyết mâu thuẫn cơ bản của phơng thức sản xuất t
bản chủ nghĩa: mâu thuẫn giữa nền sản xuất xã hội với sự chiếm hữu t liệu sản xuất
của nhà t bản.
Nền sản xuất bao giờ cũng mang tính xã hội. Trong toàn bộ quá trình phát triển
của lịch sử con ngời, không có hoạt động sản xuất nào diễn ra một cách đơn độc.
Tính xã hội của sản xuất phát triển từ thấp đến cao, gắn với trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất.
Bên cạnh đó là sự xã hội hoá sản xuất: xã hội hoá sản xuất là sự liên kết nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status