luận văn công nghệ thực phẩm Xác định hàm lượng Selen trong ngũ cốc và trong tỏi bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử - Pdf 27

Khoá luận tốt nghiệp
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài các chất dinh dưỡng và vitamin cơ thể cần
được bổ sung một lượng khoáng chất thích hợp để duy trì sự sống. Selen là một trong
những nguyên tố vi lượng thiết yếu của cơ thể. Nó đóng vai trị quan trọng trong tế bào
vì liên quan đến sinh tổng hợp Co-enzyme Q (ubiqinon), là thành phần cấu tạo nên
Glutathion peroxydaza (GSH.Px), một enzyme chống lại quá trình oxy hoá lipid,
phòng tránh một số bệnh như tim mạch, ung thư…và tham gia giải độc các kim loại
nặng [2,3].
Selen tham gia vào khẩu phần ăn của con người chủ yếu thông qua thức ăn
và nước uống. Vì vậy, để kiểm soát lượng Selen đưa vào cơ thể đòi hỏi phải có
phương pháp chính xác và tin cậy để xác định hàm lượng Selen trong thực phẩm.
Trên thế giới, người ta đã tiến hành phân tích Selen trong thực phẩm bằng
nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp chuẩn độ, đo huỳnh quang, sắc
ký lỏng hiệu năng cao, phương pháp ICP-MS hay quang phổ hấp thụ nguyên tử
(HVG-AAS)
Kỹ thuật HVG-AAS đang được sử dụng khá rộng rãi vì nó đáp ứng được các
yêu cầu đối với việc xác định chính xác các nguyên tố vi lượng trong các đối tượng
sinh học, dược phẩm và thực phẩm.
Ở Việt Nam hiện chưa ban hành chính thức các phương pháp phân tích
Selen trong mẫu thực phẩm. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, với trang thiết bị sẵn có
của phòng thí nghiệm tôi đã thực hiện đề tài: ″Xác định hàm lượng Selen trong
ngũ cốc và trong tỏi bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử” với
mục tiêu sau:
Xây dựng phương pháp phân tích Selen trong thực phẩm có độ chính xác, độ
tin cậy cao góp phần giúp người tiêu dùng lựa chọn khẩu phần ăn hợp lý cũng như
việc kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
1
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

-2
).
Ở mức oxy hoá +4, Selen tồn tại dưới dạng selen dioxid (SeO
2
), acid selenơ
(H
2
SeO
3
), selen tetraclorid (SeCl
4
) và muối selenid (SeO
3
2-
).
Ở mức oxy hoá +6, Selen tồn tại dưới dạng acid selenic (H
2
SeO
4
) hoặc muối
selenat (SeO
4
2-
).
Các hợp chất Selen đáng chú ý trong dinh dưỡng và sức khoẻ là các dạng
metyl hóa của Selen như: (CH
3
)
2
Se, (CH

Hàm lượng Selen trong cá nước ngọt cũng tương đương với cá biển.
1.3. Vai trò của Selen đối với cơ thể [1,2,3,8]
Trước đây, Selen được coi là nguyên tố có tính độc cao vì trên những vùng đất
kiềm giàu Selen thường gặp một số bệnh ở súc vật và ở người như rụng lông, yếu
cơ…
Thế nhưng đến năm 1949, Calaton và Bauman đã nhận thấy rằng hàm lượng
Selen trong khẩu phần ăn có tác dụng ngăn chặn sự phát triển ung thư ở chuột.

Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
3
Khoá luận tốt nghiệp
Năm 1958, người ta đã nhận ra lợi ích của Selen đối với sức khoẻ con người
và động vật, khi mà Schwars chiết ra từ thận động vật một yếu tố chứa Selen có tác
dụng cực mạnh trong điều trị thoái hoá và hoại tử gan.
Ngày nay, Selen được coi là nguyên tố vi lượng rất quan trọng, không thể
thiếu cho hệ thống bảo vệ cơ thể chống gốc tự do và nhiều vai trò sinh học khác.
1.3.1. Vai trò của Selen trong chống oxy hoá
Selen có vài trị rất quan trọng trong sự hình thành và phân huỷ gốc tự do
trong cơ thể. Selen là nguyên tố cấu thành của hệ enzyme Glutathion peroxydaza
(GSH.Px) có vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống chống gốc tự do, chống oxy
hoá của cơ thể. Nó có mặt trong mọi tế bào để cùng các enzyme Superoxyd
dismustase (SOD), catalaza…loại bỏ gốc tự do, đặc biệt là phá huỷ hydroperoxyd
và các peroxyd lipid khác của acid béo (LOO; LOOH…) bảo vệ màng tế bào và
AND.
Ngoài ra, Selen còn tham gia vào thành phần của nhiều chất hoạt động sinh
học chứa nhóm -SH; -SeH như selenomethionin
Tác dụng chống oxy hoá của Selen không chỉ do bản thân các hợp chất có
sẵn của Selen mà còn do Selen xúc tác cho sự tổng hợp Co-enzyme Q- một chất
chống oxy hoá chủ yếu của cơ thể.
Như vậy, các gốc tự do, các chất chống oxy hoá nói chung hay Selen nói

nên ngăn chặn quá trình tạo các mảng xơ vữa động mạch - nguyên nhân của bệnh
cao huyết áp, thiếu máu cục bộ ở các cơ quan, thiểu năng tuần hoàn não.
Ở Trung Quốc, thiếu cung cấp Selen đã gây ra bệnh cơ tim cho trẻ em thậm
chí đôi khi gây tử vong vì bệnh tim mạch sẽ cao hơn trong trường hợp thiếu Selen.
1.3.4. Selen tăng cường hệ thống miễn dịch
Hiện nay có nhiều bằng chứng cho phép kết luận Selen là một yếu tố quyết
định khả năng chống đỡ của cơ thể đối với cơ thể nhiễm khuẩn.
Nhiều nhà khoa học cho rằng lượng Selen đưa vào cơ thể ảnh hưởng đến
chức năng của hệ miễn dịch do tính chống oxy hoá của nó mang lại. Nghiên cứu
trên động vật cho thấy khi súc vật sử dụng một lượng lớn Selen và vitamin E,
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
5
Khoá luận tốt nghiệp
lượng kháng thể được tạo thành tăng gấp 3 lần. Một thực nghiệm khác cho kết quả
là Selen làm tăng đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với các Vaccine.
Các thực bào, các tế bào làm nhiệm vụ “ăn các tế bào lạ như vi khuẩn, virut”
xâm nhập vào cơ thể sẽ trở nên uể oải khi thiếu Selen và sẽ hoạt động trở lại khi
Selen được bổ sung. Bên cạnh đó Selen được biết có tính chất kháng viêm ngăn
cản việc tạo ra các prostaglandin vốn được xem như là các chất ức chế miễn dịch
làm tăng chức năng miễn dịch của cơ thể.
Đặc biệt, Selen có mối liên hệ chặt chẽ với HIV - nguyên nhân gây ra bệnh
AIDS. Sự suy giảm lượng Selen trong cơ thể phản ánh tiến triển của bệnh. Một số
nghiên cứu đã chỉ ra rằng HIV có khả năng đồng hoá Selen của người nhiễm bệnh
thành các selenoprotein của virut.
Hàm lượng Selen trong dinh dưỡng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của
cơ thể con người và hoạt tính của virut. Sự thiếu hụt Selen làm cho nhiều loại virut
lành tính trở nên có độc lực.
1.3.5. Selen và sự lão hoá
Các hợp chất của Selen và Co-enzyme Q có khả năng chống oxy hoá các
lipid ở màng tế bào, phân huỷ các peroxyd đã tạo thành trong tế bào nên Selen đảm

1.4.2. Đối với con người
Không thấy có báo cáo về tác hại nghiêm trọng do ngộ độc Selen gây ra. Chỉ thấy
có những thông báo về những dấu hiệu mơ hồ như: Chán ăn, suy dinh dưỡng, hỏng răng,
mất màu da, mất móng chân, móng tay, phù dưới da. Việc sử dụng lâu dài Selen hữu cơ
với liều 300mg/ngày có thể gây ra những triệu chứng của ngộ độc trường diễn.
1.5. Nhu cầu Selen của con người [3,10]
Selen tham gia vào khẩu phần ăn của con người thông qua thức ăn và nước
uống. Ở hàm lượng hợp lý Selen có tác dụng rất tốt trong việc phòng ngừa
bệnh tật. Nếu cơ thể thiếu Selen dẫn đến phát sinh nhiều bệnh lý, ngược lại
nếu thừa Selen sẽ gây ra độc tính. Vì vậy việc quy định hàm lượng Selen ăn
vào hàng ngày cũng được nhiều quốc gia quan tâm.
Năm 1980 các nhà khoa học Mỹ đã xác định hàm lượng Selen trong chế độ
dinh dưỡng hàng ngày của người lớn là 50-200µg/ngày dựa vào kết quả thí nghiệm
trên động vật.
Hiện nay một số quốc gia hay tổ chức y tế khác trên thế giới cũng đã đưa ra
những con số khác về nhu cầu Selen ở người. Ví dụ, ở Úc liều khuyên dựng đối
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
7
Khoá luận tốt nghiệp
với người trưởng thành là 85µg/ngày đối với nam và 70µg/ngày đối với nữ, 10-
15µg/ngày đối với trẻ em tuỳ theo độ tuổi.
Theo khuyến cáo của Viện Y Học Mỹ, lượng Selen ăn vào hàng ngày (RDA)
đối với trẻ em và người lớn như sau (bảng 1.1):
Bảng 1.1: Lượng Selen ăn vào hàng ngày theo khuyến cáo của Viện Y Học Mỹ
Lứa tuổi
Nam và Nữ
(µg/ngày)
Phụ nữ mang
thai (µg/ngày)
Phụ nữ đang

sấy khô, cân và tính kết quả.
Phương pháp này chỉ áp dụng cho các mẫu có nồng độ Selen lớn và nền mẫu đơn
giản. Do vậy, phương pháp này không được dựng để phân tích Selen trong thực vật
vì hàm lượng Selen trong thực vật thường nhỏ.
2.2. Phương pháp quang phổ hấp thụ UV-VIS [1,6,12]
Selen (IV) phản ứng nhạy và chọn lọc với O-diamino thơm, tạo phức
Piazoselenol tan trong các dung môi hữu cơ. Phức này có cực đại hấp thụ rất đặc
trưng, có thể đo quang để xác định hàm lượng Selen.Thuốc thử 2,3-
diaminonaphtalen là phổ biến nhất.
- Với 2,3-diaminonaphtalen: Mẫu thử được vô cơ hoá bằng hỗn hợp HNO
3
và HClO
4
, pha loãng dung dịch vô cơ hoá bằng nước cất, thêm vào đó dung dịch
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
8
Khoá luận tốt nghiệp
chứa Dinatri edetat va Hydroxylamin hydroclorid, điều chỉnh pH đến 1,1 bằng
dung dịch NH
4
OH. Sau đó, thêm dung dung dịch 2,3-diaminonaphtalen rồi đun
cách thủy hỗn hợp trên ở 50
0
C trong 30 phút. Chiết bằng Cyclohexan, đo quang ở
bước sóng 380nm để định lượng Selen.
Ưu điểm của phương pháp này là phản ứng tạo phức nhạy, chọn lọc, áp dụng
được với mẫu có hàm lượng Selen thấp, nhưng hạn chế lớn nhất là phức piazoselenol
dễ bị phân huỷ ngoài ánh sáng, các chất oxy hoá mạnh ngăn cản tạo phức, các chất
màu ảnh hưởng tới mật độ quang, do đó dẫn đến kết quả định lượng thiếu chính
xác.Xong có nhược điểm là nếu áp dụng phương pháp này để định lượng Selen trong

đối tượng mẫu có hàm lượng Selen thấp đặc biệt là trong thực vật.
Theo phương pháp này, năm 1999 Marijana Matex và Maja Blausa đã
nghiên cứu xác định Selen trong một số thực phẩm như thịt, cá, trứng…bằng
phép đo phổ hấp thụ nguyên tử.
3. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử [4, 6, 8, 10, 11]
Năm 1802, Wollaston lần đầu tiên công bố về hiệu ứng hấp thụ nguyên tử sau
khi quan sát thấy những vạch tối trong phổ ánh sáng mặt trời. Năm 1961, người ta
bắt đầu sản xuất hàng loạt phổ kế hấp thụ nguyên tử để phục vụ phân tích .
Trong ngành phân tích thực phẩm, phương pháp AAS cũng được ứng dụng
khá nhiều để xác định hàm lượng các nguyên tố trong mẫu rau, quả, thịt, cá
3.1.Cơ sở lý thuyết của phương pháp AAS
Vật chất được cấu tạo bởi các nguyên tử. Trong điều kiện bình thường
nguyên tử không thu mà cũng không phát ra năng lượng dưới dạng các bức xạ. Lúc
này nguyên tử tồn tại ở trạng thái cơ bản, vững bền và nghèo năng lượng nhất. Khi
nguyên tử ở trạng thái hơi tự do, nếu chiếu một chùm tia sáng có bước sóng xác
định vào đám hơi nguyên tử đó thì chúng sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng nhất
định ứng với những tia bức xạ mà nó có thể tạo ra trong quá trình phát xạ của nó.
Lúc này nguyên tử nhận năng lượng và chuyển lên trạng thái kích thích có năng
lượng cao hơn trạng thái cơ bản. Đó là tính chất đặc trưng của nguyên tử ở trạng
thái hơi. Quá trình này gọi là quá trình hấp thụ năng lượng của nguyên tử tự do ở
trạng thái hơi và tạo ra phổ hấp thụ nguyên tử của nguyên tố đó.
3.2. Nguyên tắc và thiết bị của phép đo AAS
Nguyên tắc: Phương pháp phân tích dựa trên cơ sở đo phổ hấp thụ nguyên tử
của một nguyên tố được gọi là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử (phép đo AAS).
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
10
Khoá luận tốt nghiệp
Trang thiết bị của phép đo AAS: Hệ thống máy đo phổ hấp thụ nguyên tử
bao gồm 4 phần cơ bản sau:
- Phần 1: Nguồn phát tia phát xạ cộng hưởng của nguyên tố phân tích: Đèn

+ Làm giảm cường độ vạch phổ, do tạo thành các hợp chất khó bay hơi và
khó nguyên tử hoá và giảm độ nhạy.
+ Làm tăng cường độ vạch phổ, do sự tạo thành các hợp chất dễ bay hơi và dễ
nguyên tử hoá và do sự hạn chế ảnh hưởng của sự ion hoá và sự kích thích phát xạ
của nguyên tố phân tích.
+ Sự tăng cường độ vạch phổ khi nguyên tố phân tích còn tồn tại trong nền
mẫu là các hợp chất dễ hoá hơi.
+ Sự giảm cường độ vạch phổ khi nguyên tố phân tích tồn tại trong nền của
mẫu là các hợp chất khó bay hơi. Lúc này nguyên tố kìm hãm sự hoá hơi của
nguyên tố phân tích. Các chất nền này thường là các chất bền nhiệt.
Đối với kỹ thuật hoá hơi lạnh thì kết quả khảo sát cho thấy nền mẫu bị ảnh
hưởng chủ yếu do nồng độ HNO
3
dư trong dung dịch đo và hàm lượng Arsen có
trong mẫu.
- Nhóm 3: Các ảnh hưởng về phổ như: Sự hấp thụ nền, sự chen lấn của vạch
phổ và sự hấp thụ của các hạt rắn.
- Nhóm 4: Kỹ thuật và phương pháp được chọn để xử lý mẫu.
- Nhóm 5: Các yếu tố vất lý như: Độ nhớt, sức căng bề mặt của dung dịch
mẫu có ảnh hưởng nhiều đến phép đo nhất là khi mẫu phân tích có nồng độ lớn.
- Nhóm 6: Các yếu tố hóa học như: Nồng độ acid và loại acid trong dung dịch
mẫu, ảnh hưởng của các cation và anion khác trong dung dịch, ảnh hưởng của
thành phần nền và ảnh hưởng của dung môi hữu cơ.
Vì vậy, để kết quả chính xác và tin cậy đòi hỏi người phân tích phải biết xử lý
hóa học, tách loại, làm giàu, che tránh các yếu tố ảnh hưởng về mặt hóa học cũng
như về phổ hấp thụ trong mỗi trường hợp.
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
12
Khoá luận tốt nghiệp
4. Phương pháp vô cơ hóa mẫu [6,8]

)
2
hoặc KNO
3
và chọn
nhiệt độ thích hợp.
4.3. Vô cơ hóa ướt.
Nguyên tắc: oxi hoá chất hữu cơ bằng một acid hoặc một hỗn hợp acid có
tính oxy hoá mạnh thích hợp.
Phương pháp này rút ngắn được thời gian phân tích so với phương pháp vô
cơ hoá khô, bảo toàn được chất phân tích nhưng phải dựng một lượng lớn acid
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
13
Khoá luận tốt nghiệp
(thường phải gấp 3 đến 5 lần mẫu). Vì vậy, phương pháp này đòi hỏi các acid sử
dụng phải có độ tinh khiết cao và chỉ thích hợp với mẫu có khối lượng nhỏ.
4.4. Vô cơ mẫu theo phương pháp AOAC – 974.15
Cân chính xác một lượng mẫu khô có khối lượng ≤ 1,0g có chứa khoảng ≤
0,8µg Se với 3 viên bi thuỷ tinh cho vào ống Kjeldahl có chứa 10ml nước, lắc cho
ướt mẫu. Thêm 10ml HNO
3
65%, để qua đêm ở nhiệt độ phòng. Đun cẩn thận đến
còn khoảng 5ml, để nguội. Thêm 6ml HClO
4
70% và 5ml H
2
SO
4
đun nhẹ đến màu
vàng và cho đến hết màu. Đun đến hết khói trắng, sau đó đun đến muối ẩm. Kết

Quy trình vô cơ hóa mẫu phân tích là một quy trình quan trọng nhất trong
phép đo phổ hấp thụ nguyên tử. Để có một kết quả đáng tin cậy và phù hợp với
trang thiết bị của phòng thí nghiệm tôi chọn phương pháp vô cơ hóa mẫu bằng lò
vi sóng.
2.2.2. Phương pháp HVG-AAS
Selen trong mẫu dạng dung dịch được chuyển sang dạng hợp chất hydrua
thể khí nhờ phản ứng với Hydrogen mới sinh do Natri borrohydrid (NaBH
4
) hoặc
Thiếc clorid (SnCl
2
) tác dụng với Acid hydrocloric. Hợp chất hydrua này được thổi
liên tục bằng khí Argon dẫn vào buồng nguyên tử hoá. Dựng năng lượng nhiệt của
ngọn lửa đèn khí đốt cháy một hỗn hợp khí để nguyên tử hóa hợp chất hydrua đó,
tạo ra các nguyên tử tự do của nguyên tố phân tích cho phép đo phổ AAS.
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
15
Khoá luận tốt nghiệp
Các phản ứng tạo hợp chất hydrrua:
Se(IV) + NaBH
4
+ H
+
→SeH
4
→Se
(k)
.
Se(VI) + NaBH
4

hh
< E
nth
thì:
Mẫu sẽ: Bị nguyên tử hóa, hóa hơi → sinh ra nguyên tử tự do
Nguyên tử tự do + (vh) → phổ AAS
3.2. Quá trình phụ:
Gồm có:
- Sự ion hóa của chất phân tích
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
16
Khoá luận tốt nghiệp
- Sự phát xạ của chất phân tích
- Sự sinh phổ nền.
- Tạo hợp chất bền nhiệt, chủ yếu dạng MeO (AlO, CaO, MgO,…)
Các quá trình phụ này xảy ra:
+ Đồng thời với quá trình chính.
+ Tuỳ thuộc vào thành phần chất mẫu.
+ Tuỳ thuộc vào điều kiện của ngọn lửa nguyên tử hóa mẫu.
4. Phân tích định lượng bằng HVG-AAS
Trong HVG-AAS hay dựng 1 trong 2 phương pháp là: Phương pháp đường chuẩn,
phương pháp thêm tiêu chuẩn. Việc dựng phương pháp nào trong 2 phương pháp
đó tuỳ thuộc vào loại mẫu phân tích và hàm lượng chất phân tích.
Do phương pháp đường chuẩn có ưu điểm là có thể phân tích hàng loạt mẫu của
cùng một đối tượng, có độ chính xác cao, tốc độ phân tích nhanh, tính kinh tế cao.
Tuy nhiên khi thành phần mẫu phân tích phức tạp, việc pha dung dịch chuẩn để
phù hợp với mẫu phân tích về thành phần nền, thành phần hóa học và vật lý dễ
mắc sai số lớn. Trong trường hợp này để loại trừ ảnh hưởng của nền, người ta dựng
phương pháp thêm tiêu chuẩn.
Hàm lượng Selen trong mẫu được tính như sau:

mẫu
: Hàm lượng Selen trong mẫu thử (ng/g).
m
chuẩn
: Lượng chuẩn thêm vào (ng).
m
cân
: Khối lượng cân của mẫu thêm vào (gam).
Sử dụng toán thống kê để khảo sát các thông số của phép đo:
Giá tr trung bình ị
x
=
n
1

=
n
i
i
x
1
(2.3)
Độ lệch chuẩn: SD=
( )
1
1
2




Khoá luận tốt nghiệp
- Dung dịch chuẩn trung gian 10 ppm: Dựng pipet bầu 1ml hút chính xác
1ml Selen từ dung dịch chuẩn gốc 1000ppm vào bình định mức 100ml, định mức
tới vạch bằng dung dịch HNO
3
2% và lắc kỹ, sử dụng trong 1 tháng.
- Dung dịch chuẩn làm việc 100 ppb: Dựng pipet bầu 1ml hút chính xác 1ml
Selen từ dung dịch Selen chuẩn trung gian 10 ppm trên vào bình định mức 100ml,
định mức tới vạch bằng dung dịch HNO
3
2% và lắc kỹ, sử dụng trong 1 tuần.
• Các loại hóa chất khác:
- Acid nitric đậm đặc (HNO
3
) 65%.
- Acid clohydric (HCl) 37%.
- Hydrogen peroxyd (H
2
O
2
) 30%.
- Nước cất 2 lần.
- Dung dịch Natri tetrahydroborate 0,4% (NaBH
4
): Hồ tan 2,0g NaBH
4
trong
nước cất và sau đó thêm 2,5g NaOH rồi pha loãng đến 500ml bằng nước cất. Sau
đó đem rung siêu âm trong bể rung siêu âm trong thời gian 1 giờ.
- Dung dịch acid clohydric 5M: Lấy 212,5ml HCl 37% cho vào bình định

Quá trình rửa dụng cụ được tiến hành như sau:
- Rửa nhiều lần dưới vòi nước.
- Tráng 3 lần bằng acid loãng HNO
3
2%.
- Sau cùng tráng lại bằng nước cất 2 lần.
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
20
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BÀN LUẬN
1. Tối ưu hóa các điều kiện xác định Selen bằng HVG-AAS
1.1. Chọn các điều kiện đo.
Để chọn được điều kiện tối ưu cho phép đo tôi tiến hành nghiên cứu, lựa
chọn nồng độ của HCl, NaBH
4
.
Chọn nồng độ acid clohydric
Để chọn được nồng độ acid clohydric thích hợp cho phản ứng tạo dẫn xuất hydrua
của Selen, tôi tiến hành pha các dung dịch HCl có nồng độ lần lượt là: 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7N làm môi trường phản ứng. Đo độ hấp thụ của dung dịch chuẩn Selen
15ng/ml. Kết quả khảo sát trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Khảo sát nồng độ HCl.
HCl (N) 1 2 3 4 5 6 7
Độ hấp thụ 0,0059 0,0632 0,0653 0,0679 0,0685 0,0680 0,0658
Vậy nồng độ HCl thích hợp là 5N.
Chọn nồng độ Natri borohydrat.
Để có phản ứng tạo dẫn xuất hydrua của Selen. Tôi tiến hành pha các dung dịch
NaBH
4
có các nồng độ như sau: 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,6; 0,7%. Đo độ hấp thụ của

2. Thẩm định phương pháp
2.1. Xác định khoảng tuyến tính
Pha 7 điểm chuẩn có nồng độ từ 0 đến 20 ppp trong môi trường acid clohydric
(1+1) theo tỷ lệ 1:5 so với thể tích định mức.
Các điểm chuẩn có nồng độ như sau: 0, 1, 2, 5,10, 15, 20 ppp.
Tiến hành đo độ hấp thụ của dãy dung dịch chuẩn Selen đã pha bằng HVG-
AAS, mỗi phép đo lặp lại 3 lần, kết quả trung bình được thể hiện ở bảng 3.3. Lập
đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa nồng độ hấp thụ và nồng độ dãy chuẩn.

Bảng 3.3: Nồng độ và độ hấp thụ của nguyên tố Selen
Nồng độ (ppb) Abs
0 0,0023
1 0,0074
2 0,0115
5 0,0254
10 0,0480
15 0,0680
20 0,0727
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
22
Khoá luận tốt nghiệp
Từ đó ta có:
Qua đồ thị trên ta thấy khoảng tuyến tính của phép đo nằm trong khoảng 0
đến 15ng/ml.
Xây dựng đường chuẩn từ 0 đến 15ng/ml ta có đồ thị sau:
2.2. Xác định giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng
Tiến hành đo độ hấp thụ của dung dịch chuẩn có nồng độ thấp nhất 1ppb, đo
7 lần. Sau đó tính LOD và LOQ theo công thức ta có kết quả sau:
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
23

2
= 0,9992
2.3.Tiến hành đo
Khởi động máy tính, bật hốt, mở van khí acetylen và khí argon. Mở máy
nén khí. Sau đó vào phần mềm đặt các thông số như trên, bật đèn, để ổn định đèn
30 phút, đánh lửa, để ổn định ngọn lửa 5-10 phút. Dẫn dung dịch HCl 5M và dung
dịch NaBH
4
0,4% (tốc độ 2-3ml/phút) và dung dịch phân tích (tốc độ 5-6ml/phút)
vào bình phản ứng, để 5-7 phút. Tiến hành đo độ hấp thụ của dung dịch chuẩn để
được đường chuẩn Selen, sau đó tiến hành đo mẫu dựa trên đường chuẩn đã lập.
Từ kết quả đọc trên máy ta tính được hàm lượng Selen có trong mẫu theo công
thức (2.1).
3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phép đo
Nguyễn Thị Huyền Lớp CB701
24
Khoá luận tốt nghiệp
Phép đo HVG-AAS có nhiều yếu tố ảnh hưởng như đã nêu ở mục 3.3
chương 1. Do điều kiện trang thiết bị và thời gian không cho phép, tôi chỉ tiến hành
khảo sát sự ảnh hưởng của 2 yếu tố quan trọng nhất là nồng độ HNO
3
và nồng độ
Arsen trong mẫu.
Để thực hiện, tôi tiến hành thêm lần lượt một lượng nhất định các dung dịch
HNO
3
và dung dịch Arsen có nồng độ khác nhau vào dung dịch chuẩn Selen có
nồng độ 10 ppb rồi đo độ hấp thụ. Kết quả được trình bày ở bảng 3.5 và 3.6
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của nồng độ acid nitric
Stt Nồng độ acid nitric thêm vào (%) Độ hấp thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status