CHUYÊN ĐỀ: Tìm hiểu thực trạng sử dụng phân bón trong sản xuất
Nông nghiệp tại địa phương.
Huyện Lương tài- Tỉnh Bắc Ninh
PHẦN 1:ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây
do người dân áp dụng được nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh.
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Viêt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao
nhất thế giới. Mỗi năm nông dân Việt Nam đã sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ
quy chuẩn không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các cơ sở tư nhân và các công
ty TNHH sản xuất, cung ứng.
Nhu cầu phân bón ở Việt Nam hiện nay vào khoảng trên 10 triệu tấn các loại. Trong đó,
Urea khoảng 2 triệu tấn, DAP khoảng 900. 000 tấn, SA 850.000 tấn, Kali 950.000 tấn, phân
Lân trên 1,8 triệu tấn, phân NPK khoảng 3,8 triệu tấn, ngoài ra còn có nhu cầu khoảng 400 –
500.000 tấn phân bón các loại là vi sinh, phân bón lá.
Xuất phát từ thực tế trên và dưới sự giúp đỡ, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS.
Nguyễn Thành Trung, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu tình hình sử dụng phân bón
trong sản xuất Nông nghiệp tại địa phương Huyện Lương Tài - Tỉnh Bắc Ninh.”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
+ Tìm hiểu được thực trạng sử dụng phân bón của người dân trên địa bàn huyện cho các cây
trồng.
+ Hiểu biết được về kĩ thuật sử dụng phân bón của người nông dân trên địa bàn huyện Triệu
Sơn.
+ Căn cứ vào điều kiện tự nhiên cụ thể và tính đặc thù của địa phương để xác định rõ lượng
phân bón cho cây trồng.
1.2.2. Yêu cầu
+ Tìm hiểu được tên và lượng các loại phân bón hiện nay đang sử dụng trên địa bàn huyện
( đối với hai loại cây trồng).
+ Tìm hiểu được tình hình giá của các loại phân bón.
+ Đánh giá được những khó khăn về mặt sử dụng phân bón và đề xuất những biện pháp
chênh lệch đạt 15-16 °C.
Mùa mưa kéo dài từ tháng năm đến tháng mười hàng năm. Lượng mưa trong mùa này chiếm
80% tổng lượng mưa cả năm.
2. Tình hình sử dụng phân bón và tập quán canh tác của nông dân :
2.1 Theo điều tra ở huyện Lương Tài
+Lúa :
Vụ Hè Thu 2012
· 94,3% nông dân chưa sử dụng phân hữu cơ.
· 87,4% nông dân đã sử dụng NPK để bón cho lúa.
· 12.6% nông dân chưa sử dụng phân kali.
Lượng phân vô cơ sử dụng bình quân cho 1 sào lúa là :
* Phân đạm : 5 kg N
* Phân lân : 15 kg P2O5.
* Phân kali : 3kg K2O.
Năng suất bình quân là : 3 tạ/sào
Vụ Mùa 2012
· Nông dân vẫn sử dụng phân vô cơ là chủ yếu.
· 74,2 % nông dân đã sử dụng NPK để bón cho lúa.
· 23,8% nông dân chưa sử dụng phân kali.
Lượng phân vô cơ sử dụng bình quân cho 1sào lúa là :
* Phân đạm : 3 kg N
* Phân lân : 15 kg P2O5.
* Phân kali : 5 kg K2O
Năng suất bình quân là : 2.5 tạ/sào
Chi phí đầu tư phân bón trong canh tác lúa là > 30%
+ lạc
* Phân chuồng :8-10 tấn/ha
* Phân đạm :30-35 kg N/ha
* Phân lân :40-50 kg P
2
+ Ninh Bình : 7.400 – 7.500/kg
- Phân kali
+ CIS (Nông sản) : 7.550 – 7.600 đ/kg
+ CIS ( trắng ) : 7.950 – 8.000 đ/kg
+ Israel ( Miểng ) : 8.000 – 8.050 đ/kg
+ Belarus : 7.650 – 7.700 đ/kg
- Supe Lân
+ Lâm Thao : 2.800 –2.900 đ/kg
+ Lào Cai : 2.800 - 2.850 đ/kg
- SA
+ Trung Quốc hạt mịn : 3.050 đ/kg
+ Nhật Kim cương Nhật : 3.850 đ/kg
- NPK
+ Korea ( 16-16-8 ) : 9.450 đ/kg
2.3.Ứng dụng phụ phẩm khí sinh học làm phân bón cho sản xuất cà rốt ở Lương Tài
Nhiều năm qua phong trào xây dựng công trình khí sinh học bể biogas để đảm bảo vệ sinh
trong chăn nuôi của tỉnh Bắc Ninh đã được người dân nhiệt tình hưởng ứng. Hiện nay trên
địa bàn tỉnh có khoảng hơn 21.000 bể biogas. Vì vậy, nguồn phụ phẩm của các công trình khí
sinh học rất dồi dào nhưng đến nay việc sử dụng nó vào trong sản xuất nông nghiệp còn hạn
chế.Vừa qua, Trạm Khuyến nông huyện Lương Tài kết hợp với văn phòng Khí sinh học tỉnh
Bắc Ninh xây dựng mô hình: “Ứng dụng phụ phẩm khí sinh học làm phân bón cho sản xuất cà
rốt an toàn”. Mô hình bắt đầu được thực hiện từ giữa tháng 10 năm 2013 trên cây cà rốt vụ
Đông ở 4 hộ đã xây dựng bể biogas tại xã Minh Tân, huyện Lương Tài. Các hộ tham gia mô
hình được tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và quy trình sử dụng phụ
phẩm khí sinh học để bón cho cà rốt. Qua hơn 3 tháng thực hiện mô hình thấy bã cặn và nước
xả từ bể Biogas có tác động tích cực vào thành phần cơ giới đất, làm cho đất tơi xốp hơn, tạo
kiện thuận lợi cho củ phát triển. Bón phụ phẩm khí sinh học làm cân đối các chất dinh dưỡng
hơn và phân giải từ từ, giúp cây hấp thụ được nhiều và đầy đủ dinh dưỡng hơn, giúp cây khỏe
mạnh hơn và ít sâu bệnh hơn so với đối chứng. Lượng phân bón hóa học giảm hơn 20% so với
quy trình thông thường. Củ cà rốt trồng có sử dụng phụ phẩm khí sinh học có màu sắc tươi
-Tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất phân bón hữu cơ gia tăng sản lượng để cung ứng cho
sản xuất.
-Chọn lọc phân bón và chất bổ sung đáp ứng được giới hạn cho phép về kim loại nặng, tạp
chất thấp. Để làm được điều này, nông dân cần mua phân bón đòi hỏi phải có bao bì, nhãn
mác, nguồn gốc rõ ràng (phân bón có trong danh mục được phép sản xuất của các công ty có
giấy phép kinh doanh nhà nước).
- Không sử dụng phân bón không nhãn mác, không rõ nguồn gốc hoặc quá hạn sử dụng.
III.Kết Luận
Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng phát triển. nếu
chỉ lấy từ đất thì cây trồng hoàn toàn không đủ chất dinh dưỡng mà phải lấy thêm phần lớn
từ phân bón. Phân bón chính là thức ăn nuôi sống cây trồng.
Việc sử dụng phân bón của huyện Lương Tài đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành
nông nghiệp.Tuy nhiên việc sử dụng phân một cách hợp lí và đúng tiêu chuẩn sẽ góp phần làm
tăng chất dinh dưỡng trong đất và bảo vệ môi trường.