Tình hình ruộng đất Việt Nam thời kỳ trung đại - Pdf 27

Tình hình ruộng đất Việt Nam thời kỳ trung đại
LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề ruộng đất từ trước đến nay luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều
công trình khoa học lớn nhỏ khác nhau – nhất là vấn đề ruộng đất thời trung đại.
Tìm hiểu về vấn đề ruộng đất cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu cơ sở của văn
minh dân tộc ta trong lịch sử, bởi lẽ nền kinh tế nước ta cơ bản là sản xuất nông
nghiệp. Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các nguồn tư liệu còn lại cho đến ngày
nay, chúng ta đã có những thành tựu đáng kể, nhờ đó phác hoạ được một bức tranh
khá đầy đủ các mặt về tình hình ruộng đất Việt Nam thời kỳ trung đại.
Trong bức tranh chung toàn cảnh ruộng đất, cái chi phối nhất, chi phối chủ
yếu đến tình trạng ruộng đất phải kể đến các chính sách về ruộng đất mà Nhà nước
phong kiến trung ương ban hành. Với truyền thống Nhà nước tập quyền, các biện
pháp cai trị áp dụng, ban hành có ảnh hưởng rất lớn đến bức tranh ruộng đất.
Bài giảng về Chế độ ruộng đất Việt Nam thời trung đại của thầy tôi, đã gợi
cho tôi ý tưởng tìm hiểu sâu hơn về Chính sách của Nhà nước phong kiến Việt Nam
đối với vấn đề ruộng đất. Cùng lật lại sử sách, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan
toàn diện hơn.
1
NỘI DUNG
Nền tảng kinh tế của nước ta từ thuở cha ông xưa vốn là kinh tế nông nghiệp
mà chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước, gắn liền với nó là vấn đề thuỷ lợi, vấn
đề ruộng đất và các hình thái ruộng đất theo cấp bậc vua chúa, quan lại và thường
dân. Có thể nói, ruộng đất là vấn đề sống còn với nền kinh tế, với toàn xã hội.
Điểm qua từ thời dựng nước, sở hữu công làng xã đã chiếm ưư thế tuyệt đối.
Biểu hiện của nó rõ nhất là ruộng đất thuộc về làng xã, người dân tự cai quản, lao
động và sở hữu ruộng đất. Đại diện cho làng xã là Bồ chính (già làng). Bồ chính
phân chia ruộng đất cho các gia đình với điều kiện họ thuộc vào làng xã,là thành
viên của làng xã và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ được quy định đối với làng xã.
Mức độ phân phối giữa các đơn vị trong làng xã có thể không đồng đều, bởi lúc
này đã xuất hiện sự phân hoá trong công xã, xuất hiện sự tư hữu tư liệu sản xuất
làm của riêng…xuất phát từ thực tế công cụ lao động bằng đồng, sắt ra đời làm

phân hoá xã hội, ảnh hưởng của phong kiến phương Bắc nhưng chưa đóng vai trò
đáng kể.
1. Thời kỳ từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV
Trải hơn một ngàn năm dưới ách đô hộ của các triều đại phương Bắc, đất
nước Âu Lạc của người Việt cổ đã có nhiều đổi thay. Mặc dầu luôn bị kìm hãm, áp
bức nặng nề, nhân dân ta vẫn cố gắng vươn lên. Ruộng đất ngày càng được mở
rộng, nông nghiệp lúa nước từng bước đạt được cải tiến, xã hội cũng bắt đầu có sự
phân hoá sâu sắc. Ở các vùng gần trung tâm chính trị, xuất hiện một số trại chủ, địa
chủ hoặc người Hán, người Hán Việt hoá hoặc tù trưởng địa phương, đồng thời
cũng xuất hiện một tầng lớp nông dân phụ thuộc ở nhiều mức độ khác nhau, mặc
3
dầu phần lớn các làng vẫn giữ được trạng thái cổ truyền của mình với tuyệt đại đa
số nông dân là người tự do.
Bên trên, chế độ đô hộ của các triều đại phương Bắc với những thiết chế,
quan chế, quan chức của nó ngày càng đầy đủ và trở nên khá quen thuộc. Đến thế
kỷ X, khi nước ta giành được độc lập hoàn toàn, phong kiến hoá đã trở thành một
xu thế tất yếu.
Đất nước ta qua các triều Ngô - Đinh – Tiền Lê, nhà nước phong kiến chưa
có chính sách ruộng đất cụ thể. Các triều đại đều cố gắng thực thi quyền sở hữu
ruộng đất Nhà nước, vừa để khẳng định quyền lực, vừa để nắm lấy thần dân thu tô
thuế. Các quan hệ ruộng đất tồn tại thời Bắc thuộc và đầu thế kỷ X vẫn tiếp tục duy
trì theo quan niệm “ đất vua chùa làng ”.
Dưới thời họ Khúc, chính quyền dân tộc đầu tiên đã có thể ban hành chính
sách “quân bình thuế” và “tha bỏ lực dịch” để khẳng định quyền chi phối của mình
đối với toàn bộ ruộng đất trong nước. Ý thức về quyền lực tập trung của Nhà nước
quân chủ dần dẫn đến sự hình thành quan niệm về quyền sở hữu tối cao của Nhà
nước đối với toàn bộ ruộng đất trong nước. Đinh Bộ Lĩnh sau khi lên ngôi hoàng đế
đã phong ấp hay phong hộ nông dân cho các tướng lĩnh có công như Trần Lãm,
Nguyễn Tấn, Phạm Phổ…Đến nhà Tiền Lê cũng thực hiện việc phong ấp cho các
hoàng tử và giao cho họ cai quản các địa phương của mình. Một số quan chức cao

hơn các làng xã - đơn vị kinh tế, hành chính của quốc gia. Việc củng cố quyền
thống trị của Nhà nước Trung ương đối với các làng xã và việc nắm số đinh trong
nước không chỉ liên quan đến yêu cầu chính trị, quân sự. Thông thường các làng cổ
truyền đều có bộ phận ruộng công và dân đinh là những người được hưởng, họ phải
chịu mọi nghĩa vụ, sưu dịch đối với Nhà nước. Sự phát triển của xã hội đòi hỏi Nhà
nước phải nắm được tổng diện tích ruộng đất trong nước. Sử cũ cho ta thông tin về
vấn đề này: Năm 1092 nhà Lý “định số ruộng thu tô mỗi mẫu 3 thăng để cấp lương
cho quân”. Không một nguồn tư liệu đương thời nào nói đến khái niệm “điền bạ”.
5
Mãi đến năm 1398 chủ trương này mới được đặt ra. Vấn đề ở đây là nếu không có
điền bạ thì nhà Trần làm cách nào để nắm được số ruộng đất cụ thể để đánh thuế
theo đúng chế độ, phong thưởng hay ban cấp cho những người có công, cung nữ,
phi tần, hoặc cấp thái ấp cho các vương hầu? Mà thời Trần, làng xã đã phân hoá rất
nhiều, rất nhiều làng không có ruộng công, nhiều làng lại có cả ruộng công, ruộng
tư. Vì vậy cần phải có hình thức nào đó để quản lý số ruộng đất cần thiết. Trong
mộc bài Đa Bối có ghi giới hạn Đông Tây Nam Bắc đã ghi rõ trong địa tô, trong
giấy tờ. Có lẽ đây là một hình thức quản lý ruộng đất đương thời và với nhiều hình
thức thô sơ khác, nhà Trần mới mạnh dạn chủ trương bán ruộng công cho dân mua
làm ruộng tư hoặc làm các việc khác.
Ruộng công làng xã tuy thuộc sở hữu Nhà nước nhưng vẫn do làng xã quản
lý. Nhà nước Trung ương giao cho các làng xã quản lý và lo việc phân chia cày
cấy, thu thuế tô theo đúng lệ. Làng xã có quyền hưởng thụ toàn bộ ruộng đất công
của mình, có quyền phân chia cho các thành viên đến tuổi (18 tuổi) theo cách thức
và tục lệ của mình.
Chúng ta đề cập đến vấn đề ban cấp ruộng đất hộ nông dân. Nhà nước tiến
hành ban cấp bổng lộc cho các quan lại, phong thưởng cho những người có công
bằng làng ấp hay hộ nông dân. Thời Lý, phần lớn các đại thần có công đều được
ban thực ấp. Theo Thần tích địa phương, thái uý Tô Hiến Thành được ban thực ấp
ở An Lão (Bình Lục – Hà Nam Ninh). Có thể thấy ban thực ấp tức là cho hưởng tô
thuế của ấp đó. Hình thức ban thực ấp không thấy sử đời Trần ghi lại, song được thi

cố sở hữu ruộng đất phong kiến tư nhân sinh ra điền trang, thái ấp.
Sang thời Trần, bên cạnh chủ trương phong thưởng bằng ruộng đất, Nhà
nước thi hành chính sách ban cấp thang mộc ấp. Đây là hình thức du nhập từ Trung
Quốc phong kiến, thang mộc ấp là đất của nhà vua ban cho chư hầu để lấy thu nhập
chi phí vào việc “trai giới” khi về chầu. Nó cũng có nghĩa là đất gốc của một thời
đại
7
Các hình thức ban thưởng kiểu thực ấp, thang mộc ấp bằng đơn vị làng, ấp
chỉ phù hợp với thời Lý Trần, khi Nhà nước Trung ương chưa nắm chắc được số
lượng ruộng đất của từng địa phương trong nước và chưa đặt ra cách ban thưởng
bằng ruộng đất. Có khả năng ruộng đất công làng xã thuộc sở hữu Nhà nước chiếm
ưu thế. Việc ban thưởng theo đơn vị làng, ấp, do đó ít ảnh hưởng đến bộ phận
ruộng đất tư hữu của nhân dân.
Một hình thức ban thưởng nữa là thác đao điền. Tài liệu ghi về thác đao điền
sớm nhất là Việt điện u linh (đầu thế kỷ XIV) được Đại Việt sử ký toàn thư chép lại:
“Trong khoảng niên hiệu Thiên Cảm Thánh Vũ (1014 – 1046) theo Thánh Tông đi
đánh ở miền Nam… Khi thắng trận trở về định công, Phụng Hiểu nói: “Thần không
muốn thưởng tước, xin cho đứng trên núi Băng Sơn ném đao lửa đi xa, đao rơi
xuống chỗ nào trong đất công (nguyên văn là quan địa) thì xin ban cho làm sản
nghiệp. Vua nghe theo. Phụng Hiểu lên núi, ném đao xa đến hơn 10 dặm, đao rơi
xuống hương Đa Mi. Vua bèn lấy ruộng ấy ban cho, tha thóc thuế cho ruộng ném
đao ấy. Vì vậy người Châu Ái gọi (ruộng) thưởng công là (ruộng) ném đao””.
Như vậy thời nhà Lý, Nhà nước đã lấy ruộng công làng xã phong thưởng cho
những người có công một cách quy mô. Số ruộng này theo Lý Tế Xuyên và Phan
Huy Chú, được biến thành ruộng tư, nhưng theo các nguồn sử liệu khác thì chỉ là
ruộng thế lộc (nghĩa là Nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu). Đến nhà Trần hình thức
thác đao không còn được đề cập đến nữa.
Đến đời Trần, hình thức phong cấp đáng lưu ý là thái ấp. Thái ấp và điền
trang đều là những ruộng đất của tầng lớp quý tộc quan liêu đời Trần, nhưng tính
chất và đặc điểm lại khác nhau. Thái ấp là ruộng đất do vua ban cấp cho các quý

ruộng vườn hoang mà người khác cày cấy thì tranh nhận lại không quá 1 năm, ai
làm trái bị phạt 80 trượng. Ruộng đã bán đoạn có khế ước thì không được chuộc, ai
trái cũng bị 80 trượng. Tranh nhận ruộng ao mà dùng binh khí đánh tử thương cũng
bị 80 trượng, xử tội đồ và đem ruộng ao trả cho người bị tử thương. Như vậy nhà
9
Lý đã chấp nhận nguyên tắc ruộng chiếm giữ lâu năm thì thành tư hữu, thậm chí
tạo điều kiện cho bọn cường hào, địa chủ địa phương cướp chiếm ruộng vườn bỏ
hoang của nhân dân lao động.
Văn bia Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh có ghi sự kiện tranh chấp
ruộng đất “Năm Tân Mùi (1091) có hai chàng phò ký lang họ Thiều và họ Tô xin
lại khoảnh ruộng đất của tổ tiên là quan bộc xạ Lê Lương. Vua xét lời tâu bèn trả
lại giáp Bối Lý cho thuộc về họ hàng Lê Công. Do đó mùa thu năm ấy, thái uý Lý
Công đến tận nơi, cho chuộc ruộng đất, lập bia đá và chia ruộng công cho hai giáp,
rồi ông lại tới đầm A Lôi, chia một nửa đầmcho giáp Bối Lý, một nửa đầm cho
giáp Viên Đàm ”. Hiện tượng con cháu đòi lại ruộng đất xa xưa của quan bộc xạ Lê
Lương thời Đinh Tiên Hoàng cách đó hơn 100 năm là khẳng định quyền thừa kế
ruộng đất. Đầu năm 1128, Lý Thần Tông “xuống chiếu rằng: phàm dân có ruộng
đất bị sung công cùng là bị tội phải làm điền nhi thì đều được tha cả”. Sau đó để
hạn chế sự kiện tụng và tranh chấp ruộng đất, năm 1135, Lý Thần Tông lại quy
định: “Những người đã bán ruộng ao không được tăng tiền lên mà chuộc lại, làm
trái phải tội ”.
Như vậy mua bán ruộng đất đã là hiện tượng tương đối phổ biến và quy định
của pháp luật khá cụ thể. Nhà nước công khai khẳng định quyền mua bán ruộng đất
của các tầng lớp xã hội. Hình thức kinh doanh và đơn vị canh tác ruộng đất tư hữu
này cũng khó xác định cụ thể. Có thể thấy rằng hình thức bóc lột chủ yếu là tá điền
nộp tô kết hợp kiểu bóc lột lao dịch.
Ở thời Trần, chế độ sở hữu tư nhân phát triển lên một bước cao hơn. Ngay từ
năm 1227, do sự phát triển của việc mua bán và tranh chấp ruộng đất, nhà Trần đã
phải quy định rõ về việc điểm chỉ lên các giấy tờ, văn khế mua bán ruộng đất, của
cải của tư nhân. Sự phát triển mạnh mẽ cuả chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status