Hoạt động kinh doanh du lịch việt nam thời kỳ hậu sars tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập - Pdf 12

Lời nói đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, hoà vào quá trình hội nhập kinh tế của đất nớc, ngành
du lịch non trẻ của Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu rất đáng khích lệ. Từ năm
1990 trở lại đây du lịch đã có bớc phát triển khá mạnh, đem lại lợi ích kinh tế đáng
kể. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 1990 doanh thu của Du lịch Việt Nam
mới chỉ đạt con số là 2.180 tỷ đồng thì năm 2002 con số này đã là 23.500 tỷ đồng. Du
lịch đã mang lại cho nền kinh tế quốc dân năm 2001 là 1,4 tỷ USD bao gồm các
khoản thu trực tiếp của Tổ chức Du lịch và các ngành có liên quan. So với năm 1990
số du khách quốc tế tăng 9 lần, còn du khách nội địa tăng hơn 10 lần. Với tốc độ phát
triển trung bình hằng năm đạt ở mức hai con số, ngành du lịchViệt Nam dã và sẽ tiếp
tục có những đóng góp quan trọng vào sự tăng trởng kinh tế của đất nớc.
Với những tiềm năng phát triển vô cùng to lớn, thực tế ngành du lịch Việt Nam
đang có những bớc tiến mạnh mẽ và khá hiệu quả: thu nhập từ du lịch không ngừng
tăng lên, Việt Nam đang ngày càng đợc biết đến rộng rãi và đang đợc xem là một
điểm đến an toàn và thân thiện. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, hoạt động
kinh doanh du lịch của Việt Nam vẫn cha thực sự phát triển tơng xứng với tiềm năng
sẵn có. Vẫn còn đó những hạn chế và trở ngại: vấn đề thiếu vốn đầu t, công tác quy
hoạch cha đạt tới sự đồng bộ và tính dài hạn, đội ngũ nhân lực du lịch còn thiếu và
yếu, cha chú trọng đúng mức tới vấn đề phát triển du lịch bền vững... Để du lịch Việt
Nam thực sự phát triển và hội nhập, một đòi hỏi tất yếu đặt ra là phải tìm cách khắc
phục một cách có hiệu quả mọi trở ngại nói trên, đồng thời phải khai thác bền vững
những thế mạnh vốn có. Mặt khác, vào tháng 3/2003 vừa qua, dịch bệnh đờng hô hấp
cấp SARS bùng phát đã gây ra những ảnh hởng nghiêm trọng đối với hoạt động kinh
doanh du lịch không chỉ của Việt Nam mà của cả thế giới. Cho tới thời điểm này
(11/2003) Việt Nam cũng nh nhiều nớc khác vẫn đang đang phải nỗ lực phục hồi lại
hoạt động kinh doanh du lịch của nớc mình. Qua đại dịch SARS chắc chắn đã đặt ra
cho ngành du lịch Việt Nam thêm những vấn đề mới, đòi hỏi phải có sự nhìn nhận
thấu đáo và toàn diện hơn để tiếp tục phát triển đạt hiệu quả theo hớng hội nhập.
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam
thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển

của ngành.
Chơng III : Các giải pháp và kiến nghị để du lịch Việt Nam tiếp tục phát
2
triển theo xu hớng hội nhập. Đề xuất một số giải pháp cho sự phát triển của du lịch
Việt Nam trong thời gian tới trên cơ sở hệ thống những quan điểm, định hớng và mục
tiêu phát triển du lịch của Đảng và chiến lợc phát triển của ngành đến năm 2010.
Do hạn chế về kiến thức, thời gian cũng nh nguồn tài liệu nên khoá luận không
thể tránh khỏi thiếu sót. Mong nhận đợc sự góp ý của các thấy cô giáo và các bạn sinh
viên để khoá luận đợc hoàn thiện hơn.

Chơng I
Tổng quan về hoạt động du lịch
I. Khái niệm và vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nớc
3
1. Khái niệm cơ bản về du lịch
1.1. Du lịch là gì?
Từ lâu du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiện tợng quan trọng trong đời
sống của con ngời. Đến nay, du lịch không còn là một hiện tợng riêng lẻ, đặc quyền
của cá nhân hay một nhóm ngời nào đó, mà du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội
phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con
ngời. Tuy nhiên, khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu do đợc tiếp cận bằng nhiều
cách khác nhau. Sau đây là một số khái niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ
biến.
1.1.1. Tiếp cận du lịch dới góc độ nhu cầu của con ngời
Thứ nhất, du lịch là một hiện tợng: Trớc thế kỷ XIX đến tận đầu thế kỷ XX du
lịch hầu nh vẫn đợc coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và ngời ta chỉ coi
đây nh là một hiện tợng cá biệt trong đời sống kinh tế xã hội. Trong thời kỳ này, ngời
ta coi du lịch nh một hiện tợng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và
nhận thức cuả con ngời. Đó là hiện tợng con ngời rời khỏi nơi c trú thờng xuyên để

trở về trong khoảng vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng.
- Chuyến đi với nhiều mục đích song không vì mục đích định c hoặc tìm kiếm
việc làm tại nơi viếng thăm.
Với các cách tiếp cận nói trên, bản chất của du lịch chủ yếu mới chỉ đợc giải
thích dới góc độ là một hiện tợng, một hoạt động thuộc nhu cầu của khách du lịch.
Thứ ba, du lịch dới góc độ là khách du lịch: Một quan niệm khác xem xét khái
niệm và bản chất của du lịch dới góc độ ngời đi du lịch. Theo cách tiếp cận này, nhà
kinh tế học ngời Anh Ogilvie đã đa ra khái niệm khách du lịch là tất cả những ngời
thoả mãn hai điều kiện: rời khỏi nơi ở thờng xuyên trong một khoảng thời gian dới
một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó. Khái
niệm này cha hoàn chỉnh vì nó cha làm rõ đợc mục đích của ngời đi du lịch và qua đó
để phân biệt đợc với những ngời cũng rời khỏi nơi c trú của mình nhng lại không phải
là khách du lịch.
Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Rome (1963) thống nhất quan niệm về
khách du lịch ở hai phạm vi quốc tế và nội địa, sau này đợc Tổ chức du lịch thế giới
(World Tourism Organisation - WTO) chính thức thừa nhận.
(1). Khách du lịch quốc tế (international tourism): Là một ngời lu trú ít nhất
một đêm nhng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thờng trú với
nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để đợc trả lơng ở nơi đến.
5
(2). Khách du lịch nội địa (Domestic tourism): Là một ngời đang sống trong
một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi c trú th-
ờng xuyên trong quốc gia đó, trong thời gian ít nhất 24 giờ nhng không quá một năm
với các mục đích có thể là giải trí, công vụ, hội họp, thăm gia đình ngoài hoạt động
làm việc để lĩnh lơng ở nơi đến.
Quán triệt quan niệm của Tổ chức du lịch thế giới, trong Pháp lệnh Du lịch của
Việt Nam có quy định: Khách du lịch quốc tế là ngời nớc ngoài, ngời Việt Nam ở n-
ớc ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, ngời nớc ngoài c trú tại Việt
Nam ra nớc ngoài du lịch và khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và ngời n-
ớc ngoài c trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

(2). Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch: Các nhà kinh
doanh coi du lịch là một cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp các hàng
hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trờng khách du lịch.
(3). Chính quyền sở tại: Những ngời lãnh đạo chính quyền địa phơng nhìn nhận
du lịch nh một nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển vọngvề thu
nhập từ các hoạt động kinh doanh cho dân địa phơng, ngoại tệ thu đợc từ khách quốc
tế và tiền thuế thu đợc cho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
(4). Dân c địa phơng: Dân c địa phơng thờng coi du lịch là một nhân tố tạo ra
việc làm và giao lu văn hoá. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là hiệu quả
của sự giao lu giữa số lợng lớn khách du lịch quốc tế và dân c địa phơng. Hiệu quả
này có thể vừa có lợi và vừa có hại.
Nh vậy, để phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện các hoạt động, các mối
quan hệ của du lịch, theo cách tiếp cận này, du lịch đợc hiểu là tổng hợp các hiện tợng
và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh
doanh, chính quyền và cộng đồng dân c địa phơng trong quá trình thu hút và tiếp đón
khách du lịch.
Với cách tiếp cận này, khách du lịch là nhân vật trung tâm làm nảy sinh các
hoạt động và các mối quan hệ để trên cơ sở đó thoả mãn mục đích của các chủ thể
tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ đó.
Tóm lại: Du lịch là quá trình hoạt động, di chuyển của con ngời rời khỏi nơi c
trú của mình để đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là để đợc thẩm nhận những
giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác với nơi họ ở và có thể với một số
mục đích khác, nhng không phải nhằm mục đích sinh lợi. Xuất phát từ tính chất
7
phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch, nên du lịch là một khái niệm có
nhiều cách tiếp cận khác nhau. Song hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng,
khái niệm du lịch luôn phải chuyển tải đợc 3 nội dung:
- Cách thức sử dụng thời gian rỗi bên ngoài nơi c trú thờng xuyên.
- Dạng chuyển c đặc biệt.
- Là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực phi sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu tinh

ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh
tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân.
- Hoạt động du lịch làm biến đổi cân bằng thu chi ngoại tệ của đất nớc. Du
khách vào mang theo ngoại tệ làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc mà họ
đến. Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch tác động mạnh mẽ đến quan hệ
hàng hoá - tiền tệ, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế
kém tăng trởng hơn, kích thích tăng trởng kinh tế ở vùng sâu, vùng xa...
- Du lịch thu hút sử dụng lao động xã hội. Du lịch tạo ra nhiều việc làm cho ng-
ời lao động. Bên cạnh đó, ngành du lịch còn tạo ra các nguồn thu làm lợi cho c dân
địa phơng nhờ việc phát triển các hoạt động kinh tế. Các khoản thuế thu từ kinh doanh
du lịch do khách du lịch đóng góp giúp chính quyền địa phơng chi tiêu cho giáo dục,
y tế và các dịch vụ khác. Tiền do khách chi tiêu ở các nhà hàng, khách sạn góp phần
chi trả lơng cho công nhân và các công việc khác. Ngoài ra, khách còn bỏ tiền mua
các hàng hoá dịch vụ, đây chính là hình thức xuất khẩu tại chỗ đem lại lợi ích kinh tế
rất tốt cho đất nớc.
- Du lịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ đợc nhiều mặt hàng, không phải qua nhiều
khâu nên tiết kiệm đợc lao động, hạ giá thành sản phẩm. Ngời tiêu dùng mua hàng
hoá với giá thấp, ngời sản xuất bán đợc giá cao so với chi phí, điều này có tác dụng
kích thích sản xuất và tiêu dùng. Cũng do xuất khẩu tại chỗ nên có thể xuất đợc
những mặt hàng tơi sống khó bảo quản mà lại ít rủi ro nh: hoa, rau quả tơi, thực
phẩm... Nhiều mặt hàng phục vụ khách tiêu thụ tại chỗ nên không cần đóng gói, vận
chuyển, bảo quản phức tạp, tốn kém.
- Du lịch còn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tuyên truyền,
quảng bá hình ảnh của đất nớc ra thế giới bên ngoài. Những ấn tợng về đất nớc,
phong cảnh thiên nhiên, phong tục tập quán, nghệ thuật ẩm thực, con ngời... tại nơi
đến sẽ theo chân các du khách ra với thế giới, giới thiệu một cách tích cực về hình
ảnh của đất nớc, từ đó lại kích thích bộ phận khách du lịch quốc tế tiềm năng đến với
9
đất nớc. Du lịch phát triển sẽ còn góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nớc trên
trờng quốc tế, trợ giúp đắc lực cho quá trình hội nhập quốc tế. Có thể nói, du lịch

quan lại phát triển mạnh. Các khu vực có giá trị chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ nh
các suối nớc khoáng, các bãi biển, các địa danh thiên nhiên đã thu hút đông đảo
khách du lịch. Bên cạnh đó là các hoạt động buôn bán của các thơng gia phát triển
nhanh, việc buôn bán không chỉ diễn ra trong nớc mà còn mở rộng ra các nớc xung
quanh. Điều đó đã thúc đẩy du lịch công vụ phát triển. Tuy nhiên, các hoạt động du
lịch dó cũng chỉ tập trung vào giới thợng lu và thơng gia. Các hoạt động phục vụ nghỉ
ngơi, ăn uống, vui chơi đáp ứng nhu cầu cho các đối tợng thơng gia, các tín đồ, giới
thợng lu cũng hình thành và phát triển rõ hơn. Du lịch lúc này đã không còn là một cơ
hội kinh doanh nữa mà nó đã bắt đầu định hình với t cách là một ngành kinh tế -
ngành du lịch. Tuy nhiên, hoạt động du lịch và kinh doanh cũng chỉ phát triển ở một
số nớc có nền kinh tế phát triển nh Anh, Pháp, Thuỵ Sỹ và Đức.
Tiếp theo là thời kỳ cận đại (từ những năm 40 của thế kỷ XVII đến chiến tranh
thế giới lần thứ nhất) hiện tợng du lịch đã xuất hiện rộng rãi hơn. Song du khách vẫn
tập trung vào các đối tợng nh trớc là những nhà t bản giàu có, giới quý tộc trong xã
hội. Hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch trong thời kỳ này cũng chỉ tập trung ở
một số nớc t bản có nền kinh tế phát triển.
Sang thời kỳ hiện đại, sự phát triển của công nghiệp và những phát minh về
khoa học đã tạo tiền đề cho du lịch phát triển nhanh chóng. Đó là sự xuất hiện xe lửa,
ô tô, đặc biệt sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai với sự phát minh ra máy bay thân
rộng với các đờng bay quốc tế đợc thiết lập và hệ thống đờng xá thuận tiện đã cho
phép du lịch trở thành nhu cầu quan trọng đối với con ngời.
Xem xét du lịch với t cách là một ngành kinh tế thì nó mới thực sự xuất hiện từ
giữa thế kỷ XIX. Năm 1841, Thomas Cook ngời Anh tổ chức chuyến đi đông ngời
đầu tiên đi du lịch trong nớc và sau đó ra nớc ngoài đánh dấu sự ra đời của hoạt động
kinh doanh lữ hành. Sau đó, Thomas Cook thành lập công ty lữ hành, năm 1865 ông
tiếp tục mở rộng các tuyến du lịch đến Mỹ và từ Mỹ sang châu Âu, tiếp theo là ở nớc
Nga và các nớc Châu Âu khác, sau này lan rộng khắp các châu lục. Đối với kinh
doanh khách sạn, vào những năm 1880 các nớc nh Pháp, Thuỵ Sỹ, áo có hoạt động
kinh doanh khách sạn hiện đại rất phát triển. Cùng với quá trình phát triển xã hội hay
nói cách khác, các tiền đề và điều kiện để ngành du lịch phát triển đợc củng cố, tăng

(%)
Thị phần (%)
2010 2020 1995-2020 1995 2020
Thế giới 565,4 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100
Châu Phi 20,2 47,0 77,3 5,5 3,6 5,0
Châu Mỹ 108,9 190,4 282,3 3,9 19,3 18,1
ĐA-TBD 81,4 195,2 397,2 6,5 14,4 25,4
Châu Âu 338,4 527,3 717,0 3,0 59,8 45,9
Trung Đông 12,4 35,9 68,5 7,1 2,2 4,4
Nam á
4,2 10,6 18,8 6,2 0,7 1,2
Nội vùng 464,1 790,9 1.183,3 3,8 82,1 75,8
12
Đờng dài 101,3 215,5 377,9 5,4 17,9 24,2
Nguồn: Tổ chức Du lịch thế giới (WTO)
Theo nghiên cứu của WTO có tên Du lịch: Tầm nhìn 2020 (xem bảng 1), số
lợng khách du lịch quốc tế trên toàn cầu năm 2010 dự báo sẽ đạt hơn 1 tỷ lợt khách và
đạt 1,561 tỷ lợt vào năm 2020. Tốc độ phát triển chung cho cả giai đoạn 1995-2020 là
4,1%/năm. Một trong các nét chính của việc tăng trởng số lợng khách du lịch quốc tế
là có sự thay đổi tỷ lệ giữa khách du lịch nội vùng và khách du lịch từ châu lục khách
đến. Năm 1995 tỷ lệ này là 82:18, dự báo năm 2020 tỷ lệ này sẽ là 76:24. Châu Âu
vẫn sẽ là thị trờng gửi khách lớn nhất, chiếm 50% tổng số khách du lịch quốc tế toàn
cầu. Khách từ vùng Đông á - Thái Bình Dơng sẽ tăng nhanh làm cho vùng này trở
thành thị trờng gửi khách lớn thứ hai trên thế giới. Thị trờng khách có sự di chuyển,
trớc đây Châu Âu là thị trờng đón khách chính có tốc độ tăng tởng cao, còn hiện nay
đang diễn ra sự chuyển khách từ Châu Âu sang Châu á. Khách du lịch đến Châu á -
Thái Bình Dơng ngày một tăng, đặc biệt là đến thị trờng du lịch ASEAN. Một số nớc
nh Thái Lan, Singapore và Nam Phi có tố độ phát triển du lịch nhanh, tuy nhiên các n-
ớc này vẫn cha lọt đợc vào danh sách 10 nớc đứng đầu thế giới.
Tơng lai phát triển của du lịch thế giới bị ảnh hởng bởi các xu hớng phát triển

chọn chuyến đi thích hợp và dễ dàng hơn. CD-ROM đợc sử dụng rộng rãi vì chứa
đựng nhiều lợng thông tin và tiết kiệm thời gian tra cứu hơn so với sách hớng dẫn.
Việc đặt chỗ qua mạng Internet sẽ tăng mạnh trong vòng 10-15 năm tới.
(4). Nhu cầu về du lịch tăng lên dới một hình thức khác
Tốc độ tăng số lợng kỳ nghỉ nhanh chóng hơn tốc độ tăng số ngời đi nghỉ, một
ngời có thể có nhiều kỳ nghỉ trong một năm hơn. Số kỳ nghỉ tăng sẽ đẩy cầu du lịch
tăng và điều này sẽ làm cung du lịch phát triển, thị trờng du lịch đợc mở rộng, xây
dựng nhiều điểm du lịch và chơng tình du lịch thích hợp cho từng loại kỳ nghỉ. Ví dụ
đối với kỳ nghỉ chính có thể thiết kế các chơng trình du lịch dài ngày và ở nơi xa xôi,
còn đối với các kỳ nghỉ phụ và nghỉ lễ thì lại có các chơng trình du lịch ngắn ngày và
gần...
Các xu hớng phát triển và sự thay đổi nêu trên về nhu cầu du lịch của khách sẽ
dẫn đến sự phát triển nổi trội của một số loại hình du lịch trong tơng lai nh :
- Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái đợc hiểu nh là một kiểu du lịch có trách nhiệm trong việc bảo
vệ môi trờng thiên nhiên và sự duy trì cuộc sống tốt đẹp cho dân địa phơng. Du lịch
14
sinh thái rất phù hợp với một nhòm nhỏ khách du lịch có mục đích nghiên cứu
nghiêm túc về tự nhiên và cũng phù hợp với những đoàn lớn muốn kết hợp chuyến đi
nghỉ với thăm quan thởng thức những khu bảo tồn thiên nhiên. Một phần tiền do
khach du lịch mang lại đợc tái đầu t để bảo vệ và giữ gìn nguồn tài nguyên thiên
nhiên.
- Du lịch văn hoá
Du lịch văn hóa cũng có nhiều hình thức và mức độ khác nhau, một số ít ngời
có động cơ đi học, nghiên cứu văn học, lịch sử, khảo cổ, nghiên cứu chuyên
ngành...Còn đa số khách khác là muốn nâng cao hiểu biết, kết hợp chuyến đi nghỉ với
việc tìm hiểu văn hóa địa phơng. Cũng nh du lịch sinh thái một phần tiền do khach du
lịch mang lại đợc tái đầu t để bảo vệ và giữ gìn các di sản văn hoá. Các vùng thu hút
nhiều khách du lịch văn hoá là Châu Âu, Trung Đông và Châu á.
- Du lịch chuyên đề

ASEAN, ngời ta hình dung ra ngay một vùng nhiệt đới với những bãi biển đẹp, những
cánh rừng nhiệt đới nguyên sinh rập rạm với cuộc sống thiên nhiên hoang dã phong
phú và độc đáo; một vùng đất với những cung điện, đền đài cổ kính, trang nghiêm
lộng lẫy, những lễ hội truyền thống tng bừng, rực rỡ mang đậm phong cách á Đông,
những truyền thuyết dân gian đầy tình ngời, những ngời dân vui vẻ, cởi mở và hiếu
khách, những món ăn đặc sản thú vị...
Với vị trí địa lý bán đảo và quần đảo, các nớc ASEAN có đờng bờ biển dài với
nhiều bãi cát đẹp có thể sử dụng vào mục đích tắm biển, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí.
Các bãi biển ở đây nằm trên các đảo và bán đảo nên gần các bãi biển hầu hết đều có
núi và những khu rừng nhiệt đới với nhiều loài động thực vật làm phong phú thêm các
loại hình du lịch, tăng tính hấp dẫn của các khu du lịch ở đây: du khách đến đây nghỉ
ngơi tắm biển có thể kết hợp tham quan, tìm hiểu các khu rừng nhiệt đới, thám hiểm
các vùng núi... Nằm ở vùng khí hậu nóng ẩm nên biển ở đây thờng có các giải san hô
phát triển mạnh. Nớc biển ở các đảo san hô ấm và có độ trong suốt rất cao có thể phát
triển loại hình du lịch lặn biển phục vụ cho mục đích tham quan, giải trí và nghiên
cứu khoa học... Một số khu du lịch biển đã trở thành trung tâm du lịch lớn nhất của
một vùng hay một nớc nh Sentosa là trung tâm du lịch lớn nhất của Singapore; đảo
Bali (Indonesia) đợc mệnh danh là Thiên đờng Châu á; Langcagi là trung tâm du
lịch lớn nhất của Malaysia; đảo Similan của Thái Lan đợc xếp là một trong 10 điểm
16
du lịch đẹp nhất thế giới; Vịnh Hạ Long của Việt Nam đợc UNESCO công nhận là Di
sản thiên nhiên thế giới...
Một thế mạnh nữa của du lịch ASEAN là du lịch núi. Ngoài sự hấp dẫn chung
bởi khí hậu mát mẻ trong lành, mỗi một điểm du lịch lại có những nét đặc trng để hấp
dẫn du khách. Đến Sa Pa là đến với thác Bạc, cầu Mây, động Thuỷ Cung, Cổng Trời.
Mae Hong Son thì lại đợc gọi bằng những cái tên rất đẹp nh: đất ba mùa sơng mù, đất
của hoa Bua Tong và đất nớc của những thiếu nữ xinh đẹp. Những khu nghỉ núi
Putao, Machanbaw, Sumbrabum ở cực Bắc Myanmar có những đỉnh núi tuyết phủ và
ở vài nơi còn có thể trợt tuyết - môn thể thao chỉ có ở vùng ôn đới. Hệ thống núi lửa
tập trung ở Indonesia cũng là những địa chỉ hấp dẫn đối với các du khách, đặc biệt là

điểm cũng rất nổi tiếng ở Việt Nam đó là Vịnh Hạ Long. Vờn quốc gia Ujungkulon là
nơi duy nhất còn giữ đợc khoảng 50 con cuối cùng của loài tê giác một sừng Java, ở
đây còn nhiều loài động thực vật quý hiếm khác; Vờn quốc gia Komodo nổi tiếng với
loại thằn lằn khổng lồ gọi là Rồng Komodo; Vịnh Hạ Long có vẻ đẹp tự nhiên kỳ ảo
với một quần thể hơn 3.000 hòn đảo nhỏ đợc gọi tên theo trí tởng tợng của ngời dân
nh hòn Con Cóc, hòn Con Voi, hòn Gà Chọi, hòn Mái Nhà...và có nhiều hang động
đẹp mà tên gọi gắn liền với các truyền thuyết nh hang Đầu Gỗ, hang Trinh Nữ, hang
Sửng Sốt, động Thiên Cung...
1.1.2. Về nhân văn
Tất cả các nớc ASEAN đều có bề dày lịch sử đợc thế giới biết đến với những
nền văn hoá giầu bản sắc thể hiện qua rất nhiều di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc còn
gìn giữ đợc đến ngày nay. Hầu hết các di sản văn hoá thế giới của khu vực ASEAN là
các kinh đô của của các triều đại phong kiến có phong cách kiến trúc và nghệ thuật cổ
nh Angkor, Huế, Ayutthaya, Sukhothai, Luang Phra Bang và Pagan. Chẳng hạn,
Angkor là kinh đô cổ của Campuchia, gồm một chuỗi cung điện nguy nga tráng lệ đ-
ợc xây dựng trên diện tích gần 200 km
2
dới thời đại Angkor, thời kỳ huy hoàng nhất
của dân tộc Khme. Angkor có nghệ thuật chạm khắc đá ít nơi nào trên thế giới bì kịp.
Chung quanh Angkor là cả một hệ thống kênh đào và hồ nớc tạo nên một kết cấu tổng
thể đẹp mắt. Quần thể kiến trúc tuyệt vời Angkor có thể đợc xem nh là kỳ quan thứ 8
của thế giới...
Những di sản văn hoá còn lại của ASEAN là các công trình kiến trúc cổ nh
đền thờ Borobudur (công trình tởng niệm của Phật giáo) đợc coi là một trong những
công trình nghệ thuật kiến trúc vĩ đại nhất không chỉ của Inđônêsia và thế giới Phật
18
giáo mà còn của cả nhân loại; khu đền Prambanan với bộ sử thi Ramayana bằng đá,
Chùa vàng ở Myanmar là một quần thẻ kiến trúc với hàng chục ngôi tháp, điện thờ
Phật, tháp chuông, cột cờ trong đó toàn bộ bề mặt tháp chính đợc phủ bằng vàng và đá
quý; Phố cổ Hội An với những khu phố vẫn còn giữu nguyên đợc các kiến trúc cổ và

Chí Minh... là những trung tâm văn hoá, kinh tế và du lịch cuả các nớc với những
thắng cảnh đẹp, với những khu vui chơi giải trí có các loại hình phong phú và đa
dạng, với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch hiện đại... là những nơi
hàng năm thu hút một lợng khách rất lớn tới thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giả trí.
1.2. Đặc điểm thị trờng du lịch ASEAN
Thị trờng du lịch ASEAN là thị trờng du lịch mới nổi so với các thị trờng du
lịch truyền thống khác nh thị trờng Châu Âu, Châu Mỹ. Trớc đây, thị trờng du lịch
ASEAN cha đợc thế giới chú ý đến nhiều nhng hiện nay ASEAN đang đợc coi là một
trong những điển hình về phát triển và khai thác tốt hoạt dộng du lịch quốc tế.
Thị trờng du lịch ASEAN đợc coi là khu vực thị trờng du lịch năng động nhất
thế giới. Cùng với các thành tựu kinh tế, du lịch ASEAN đã đạt đợc những kết quả
đáng kể, góp phần đa ASEAN thành một trung tâm du lịch của Châu á và thế giới.
Hầu hết các nớc thành viên ASEAN đều tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch, coi du
lịch là ngành kinh tế quan trọng, xếp vào hàng thứ hai hoặc thứ ba trong nền kinh tế
quốc dân. Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippines và Singapore đã trở thành những
điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Tốc độ tăng tr-
ởng của thị trờng du lịch ASEAN nhanh khoảng 10%/năm trong khi thị trờng du lịch
thế giới chỉ đạt trung bình khoảng 2%/năm.
Thị trờng du lịch ASEAN có sự hài hoà giữa 3 yếu tố : chính sách nhà nớc,
quản lý phát triển và cộng đồng dân c. Có thể nói các nớc ASEAN đã theo đuổi một
chính sách nhất quán nhằm khuyến khích phát triển du lịch. Những chính sách nhất
quán đó thể hiện trên những khía cạnh sau:
- Bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, trân
trọng những giá trị văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Giáo dục và phổ
cập nhận thức xã hội về du lịch, chú trọng quyền lợi để khuyến khích sự tham gia của
cộng đồng vào các hoạt động du lịch. Chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên du lịch,
nâng cao chất lợng của các dịch vụ du lịch.
20
- Tập trung đầu t hợp lý cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật
cũng nh chú trọng, khuyến khích phát triển du lịch và xúc tiến quảng bá du lịch. đặc

pháp thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ du lịch nh áp dụng thuế xuất cảnh cao hơn
thuế nhập cảnh và phải thực hiện nhiều thủ tục trớc khi đợc cấp hộ chiếu và visa xuất
cảnh nhằm khuyến khích khách quốc tế đến thăm quan du lịch và hạn chế dân c trong
nớc đi du lịch nớc ngoài, qua đó duy trì đợc mức thặng d trong cán cân thanh toán
quốc tế về du lịch.
Nói đến thị trờng du lịch ASEAN là nói đến sự thống nhất trong đa dạng. Sản
phẩm du lịch của ASEAN có nhiều nét tơng đồng, tuy nhiên ở mỗi nớc các sản phẩm
du lịch đều đã có sự biến đổi cho phù hợp với phong tục tập quán cũng nh các thăng
trầm trong lịch sử của mỗi nớc. Nhờ nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và
độc đáo cộng thêm sự năng động, sáng tạo, thông minh và khéo léo của những nhà tổ
chức trong việc sắp xếp và khai thác nên hệ thống sản phẩm du lịch ở các nớc ASEAN
rất đặc sắc và có sức thu hút mạnh mẽ. Các nhà tổ chức đã chú trọng việc khai thác
một cách triệt để các thế mạnh, các nét độc đáo của khu vực nhằm tạo ra những sản
phẩm du lịch mang phong cách riêng biệt. Ngoài ra họ cũng chú trọng đến việc đầu t
cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng, cơ cở vật chất kỹ thuật phục vụ du
lịch... làm phong phú thêm các loại hình sản phẩm du lịch, đáp ứng đợc nhu cầu ngày
càng đa dạng của du khách thuộc nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp, quốc tịch. Điều này đã
thu hút đợc nhiều khách du lịch quốc tế đến với ASEAN và cũng tạo nên dòng khách
du lịch trong nội bộ khu vực.
Khách đến du lịch ASEAN chủ yếu để thởng thức các tài nguyên thiên nhiên
còn hoang sơ và các nét văn hoá riêng biệt đặc sắc của khu vực. Ngoài ra thị trờng du
lịch ASEAN cũng rất thành công trong việc kích thích tiêu dùng của khách du lịch
nhờ có hệ thống sản phẩm phong phú, tơng đối chất lợng và giá rẻ, đặc biệt là các mặt
hàng thủ công mỹ nghệ.
Một trong những điểm nổi bật mà hầu hết các nớc ASEAN đã thực hiện là việc
tổ chức Năm du lịch riêng của mình nh: (Thái Lan là nớc đầu tiên tổ chức Năm du
lịch vào năm 1987. Sau đó tổ chức chơng trình Amazing Thailand năm 1998,
1999, 2000..., Philippines phát động Lễ hội Philippines và chiến lợc thu hút ngời
Philippines thế hệ thứ 3, thứ 4 đang ở nớc ngoài Tìm về cội nguồn, Inđônêsia khởi
xớng Năm du lịch Indonesia năm 1991 và lấy thập kỷ 90 làm Thập kỷ du lịch

chú trọng khai thác các tiềm năng du lịch trong nớc (đặc biệt là các tiềm
năng tự nhiên và văn hoá).
23
- Mạnh dạn đầu t vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông liên lạc, vận
tải, khách sạn, khu giải trí theo tiêu chuẩn quốc tế.
- Xây dựng những sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng và hấp dẫn lôi cuốn
du khách.
- Chú trọng đẩy mạnh công tác xúc tiến tuyên truyền, quảng bá về du lịch,
xem đó là một phần trong chiến lợc tổng thể kinh doanh du lịch.
- Xây dựng đợc một đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viến làm việc có trình
độ cao cho lĩnh vực du lịch.
- Phát triển du lịch đi đôi với việc tăng cờng bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên, môi trờng xã hội của du lịch.
Chơng II
Tiềm năng du lịch Việt Nam và thực trạng
của ngành du lịch sau dịch bệnh SARS
I. Tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam
Đất nớc Việt Nam với diện tích 363.000 km
2
nằm án ngữ ở cửa ngõ bán đảo
Đông Dơng, là một đầu mối giao thơng quan trọng trong khu vực Châu á - Thái Bình
Dơng đang phát triển hết sức sôi động. Là một nớc nằm ở khu vực khí hậu cận nhiệt
đới, Việt Nam đã đợc thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh quan tự nhiên tuyệt đẹp và đa
dạng về giá trị sinh thái tự nhiên. Trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng nớc và giữ nớc,
con ngời Việt Nam qua bao thế hệ đã dày công xây dựng nên một nền văn hoá đặc
sắc, đa dạng và mang những nét bản sắc riêng có. Việt Nam hiện cũng đang đợc xem
là một đất nớc của những di sản với sự hiện diện của 6 di sản thiên nhiên và văn hoá
đợc Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) công
nhận là Di sản thế giới, bao gồm Vịnh Hạ Long, Vờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,
Cố đô Huế, Đô thị cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Nhã nhạc cung đình Huế (di sản

phố nghỉ mát lý tởng trong sơng với những rừng thông, thác nớc và rực rỡ hoa tơi, đợc
đắm mình trong âm hởng trầm hùng, tha thiết của tiếng đàn Trng và cồng chiêng Tây
Nguyên.
Ngoài những điểm nghỉ mát vùng núi, Việt Nam còn có những khu quốc gia
nổi tiếng với với những bộ su tập phong phú về các loại động thực vật nhiệt đới nh
rừng quốc gia Cúc Phơng, Vờn quốc gia Cát Bà, khu bảo tồn quốc gia Pù Mát, rừng
quốc gia Côn Đảo.... Khu vực phía Nam còn tập trung những vùng tràm chim và sân
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status