Thực trạng và giải pháp phát triển đường chức nghiệp của cán bộ cô ng chức nữ tại quận 12 - Pdf 27

Trưởng đoàn: TS. Đào Đăng Kiên GVHD:Th.S Mai Nguyên Thanh
SVTH: Nguyễn Thò Như Lai 1

LỜI NÓI ĐẦU

Công cuộc đổi mới đất nước đang bước sang một giai đoạn phát triển mới
với những thời cơ và thách thức mới. Cùng với quá trình đẩy mạnh các giải
pháp đổi mới cải cách kinh tế theo mô hình kinh tế thò trường đònh hướng xã hội
chủ nghóa, bộ máy quản lý nhà nước cũng đang từng bước đổi mới, hoàn thiện,
tạo sự tương khích với đổi mới kinh tế. Trong tiến trình cải cách hành chính
trong sạch, vững mạnh, thì vai trò của nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng.
Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của công cuộc cải cách hành
chính là xây dựng, đào tạo, rèn luyện một đội ngũ CBCC có đầy đủ phẩm chất
chính trò, năng lực chuyên môn, có tài, có đức để vận hành hiệu quả bộ máy
nhà nước, đủ sức đưa sự nghiệp đổi mới đất nước lên những tầm cao mới, thành
tựu mới. Một tổ chức có chiến lược phát triển, cơ cấu tổ chức tốt đến đâu nhưng
chưa có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực hợp lý thì cũng không thể đạt
được mục tiêu mong muốn.
Phát triển chức nghiệp là một nội trong những nội dung quan trọng của
chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tổ chức nói chung và của CQHCNN
nói riêng. Xác đònh chức nghiệp của một cá nhân, cho phép cá nhân và tổ chức
nhìn thấy một bức tranh toàn diện về con ĐCN. Về phía tổ chức, cho phép họ
có thể khai thác tối đa tiềm năng nguồn nhân lực; về phía người lao động, giúp
họ có một chiến lược phát triển ĐCN một cách khoa học nhằm phát huy hết khả
năng và nâng cao năng lực của mình.
Việc mở rộng sự tham gia của phụ nữ vào công tác quản lý nói chung, và
trong công vụ nói riêng, là yêu cầu khách quan xuất phát từ yêu cầu đặt điểm
giới tính, những biến động về giới của lực lượng lao động xã hội, đồng thời
cũng là một phương thức giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự phụ thuộc và nâng
cao vai trò của họ trong xã hội. Xuất phát từ những khác biệt về giới còn tồn tại
trong xã hội Việt Nam, con đường chức nghiệp của CBCC nữ có những giai
Trưởng đoàn: TS. Đào Đăng Kiên GVHD:Th.S Mai Nguyên Thanh
SVTH: Nguyễn Thò Như Lai 3

TỔNG QUAN VỀ QUẬN 12

I. Lòch sử hình thành:
Quận 12 được thành lập từ ngày 01/4/1997 theo NĐ số 03/NĐ-CP của
Chính phủ ban hành ngày 06/01/1997 trên cơ sở toàn bộ diện tích các xã Thạnh
Lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhất và một
phần xã Tân Chánh Hiệp; một phần xã Trung Mỹ Tây thuộc huyện Hóc Môn
trước đây. Tổng diện tích đất tự nhiên 5.274,89 ha, dân số hiện nay 390.493
(tính đến 4/2009).
Đòa giới hành chính quận như sau:
- Phía Đông giáp: huyện Thuận An – tỉnh Bình Dương, quận Thủ Đức –
TP. HCM
- Phía Tây giáp: huyện Hóc Môn và quận Bình Tân – TP. HCM
- Phía Nam giáp: quận Bình Thạnh, quận GòVấp, quận Tân Bình, quận
Tân Phú và quận Bình Tân – TP. HCM
- Phía Bắc giáp: huyện Hóc Môn – TP. HCM
Hiện nay, quận 12 gồm 11 phường:
1. Tân Chánh Hiệp
2. Trung Mỹ Tây

theo bản đồ quy hoạch chung của quận thuộc đất công viên cây xanh, nhìn
chung quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 quận 12 là đã phủ kín.
Công tác quản lý nhà nước trên các lónh vực tài nguyên và môi trường
ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho dân ngày càng nhiều và tốt hơn, tạo điều
kiện cho người dân thực hiện các quyền hợp pháp của mình và chấp hành tốt
pháp luật. Công tác lập quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất được hoàn thiện tạo
thuận lợi cho nhà đầu tư an tâm đầu tư góp phần thúc đẩy sự phát triển của
quận. Công tác bảo vệ môi trường ngày càng được củng cố góp phần giảm
thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng dân cư.
1.4. Những năm gần đây, trên đòa bàn quận triển khai thực hiện nhiều
dự án xây dựng nên công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã được quận
quan tâm đẩy mạnh. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái đònh cư
dần đi vào nề nếp. Cơ bản đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Đến nay đã hoàn thành 29 dự án, trong đó đã di dời, giải toả khoảng 3759 hộ
dân, trong đó có 3116 hộ giải toả 01 phần và đất nông nghiệp, khoảng 643 hộ
nông dân giải toả trắng; đang triển khai thực hiện 38 dự án.
Công tác tái đònh cư được đẩy mạnh theo CT số 32/2006/CT-UB của
UBND thành phố, đấn nay quận 12 đã bố trí tái đònh cư cho 485 hộ; trong đó có
464 hộ được bố trí bằng 472 nền đất; 20 hộ được bố trí 20 hộ chung cư; 01 hộ
nhận tiền tự lo chỗ ở mới.
1.5. Lónh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm có nhiều nỗ lực góp phần
chăm lo đời sống vật chất, tinh thần trong nhân dân, việc xã hội hóa được quan
tâm đẩy mạnh.
Quận 12 đã hoàn thành tiêu chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở
trước thời gian 01 năm, được thành phố công nhận hoàn thành công tác phổ cập
giáo dục bậc trung học trên đòa bàn quận năm 2005 tại QĐ số 2785/QĐ-UBND
ngày 19/6/2006.
Trung tâm y tế quận được xây dựng khang trang và đưa vào hoạt động,

chậm so với yêu cầu. Quá trình thực hiện một số dự án phải điều chỉnh nhiều
lần do công tác khảo sát tư vấn chưa tốt. Công tác khảo sát đòa chất cũng bất
cập, các tuyến đường quá hạn sử dụng phải chòu mật độ lưu thông lớn làm cho
công trình xuống cấp nhanh. Một số dự án có những phát sinh ngoài dự toán
thiết kế dẫn đến chậm quyết toán...Việc thực hiện các dự án còn chưa có sự
phối hợp thống nhất, xuyên suốt giữa các phòng, ban, ngành, đoàn thể quận và
UBND các phường từ giai đoạn chuẩn bò đầu tư, công bố chủ trương thực hiện
dự án đến giải toả mặt bằng, xác đònh đơn giá bồi thường và giá bố trí tái đònh
cư.
2.3. Công tác điều chỉnh quy hoạch xây dựng đô thò và lập quy hoạch -
kế hoạch sử dụng đất thực hiện chậm so với yêu cầu phát triển của xã hội.
Công tác môi trường chưa theo kòp tốc độ đô thò hoá dẫn đền tình trạng ô nhiễm
môi trường và khiếu nại về môi trường.
Trưởng đoàn: TS. Đào Đăng Kiên GVHD:Th.S Mai Nguyên Thanh
2.4. Tình trạng vi phạm xây dựng nhà ở không phép, sai phép vẫn còn
xảy ra và diễn biến phức tạp, tìng trạng mua bán lấn chiếm lề đường và các chợ
tự phát làm mất trật tự an toàn giao thông. Việc kiểm tra xử lý vi phạm còn gặp
nhiều khó khăn do lực lượng còn thiếu và yếu, ý thức chấp hành pháp luật của
một bộ phận người dân còn thấp.
2.5. Công tác bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng hiện nay còn
chậm, chưa đáp ứng kòp thời tiến độ các dự án trọng điểm cũng như nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội trên đòa bàn quận.
2.6. Nếp sống văn minh đô thò của một bộ phận dân cư còn thấp nên
vệ sinh môi trường không được bảo đảm, việc chiếm dụng lòng lề đường để
mua bán chưa giải quyết được ở một số phường.
2.7. Trên đòa bàn vẫn còn tiềm ẩn nhiều phức tạp như khiếu kiện, đình
lãng trong công nhân. Công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm về ma tuý, mại
dâm tuy quyết liệt thực hiện nhưng tệ nạn xã hội vẫn lén lút hoạt động.
2.8. Trong xây dựng chính quyền: tính chủ động trong công việc của
các ngành, các phòng ban, đơn vò chưa cao, việc phối hợp còn hạn chế dẫn đến

III. Tổng quan về Phòng Nội vụ quận 12
1. Vò trí và chức năng
1.1. Vò trí
Phòng Nội vụ quận là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND quận.
Phòng Nội vụ quận có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng,
chòu sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện về tổ chức, biên chế và
công tác của UBND quận; đồng thời chòu sự hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về
chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Nội vụ.
1.2. Chức năng
Phòng Nội vụ quận có chức năng tham mưu, giúp UBND quận thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về các lónh vực: tổ chức, biên chế các cơ quan
hành chính, sự nghiệp nhà nước; cải cách hành chính; chính quyền đòa phương;
đòa giới hành chính; CBCC, viên chức nhà nước; CBCC phường; hội, tổ chức phi
chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua khen thưởng.
2. Nhiệm vụ và quyền hạn
2.1. Trình UBND các văn bản hướng dẫn về công tác nội vụ trên đòa
bàn và tổ chức triển khai thực hiện theo quy đònh.
2.2. Trình UBND quận ban hành QĐ, CT; quy hoạch, kế hoạch dài
hạn, năm năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các
nhiệm vụ thuộc lónh vực quản lý nhà nước được giao.
2.3. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế
hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật về các lónh vực thuộc phạm vi quản lý được giao.
2.4. Về tổ chức, bộ máy:
- Tham mưu giúp UBND quận quy đònh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức các cơ quan chuyên môn quận theo hướng dẫn của UBND thành phố;
- Trình UBND quận quyết đònh hoặc để UBND quận trình với cấp có
thẩm quyền quyết đònh thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND quận;
- Xây dựng đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức sự nghiệp

- Tham mưu giúp UBND quận trong việc tuyển dụng, sử dụng, điều động,
bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, đánh giá; thực hiện chính sách về đào tạo, bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức quản lý đối với CBCC, viên chức;
- Thực hiện việc tuyển dụng, quản lý công chức phường và thực hiện
chính sách đối với CBCC và cán bộ không chuyên trách phường theo phân cấp.
2.9. Về cải cách hành chính:
- Giúp UBND quận triển khai, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn
quận và UBND phường thực hiện công tác cải cách hành chính ở quận;
- Tham mưu, giúp UBND quận về chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cải
cách hành chính trên đòa bàn quận;
Trưởng đoàn: TS. Đào Đăng Kiên GVHD:Th.S Mai Nguyên Thanh
- Tổng hợp công tác cải cách hành chính báo cáo UBND quận và thành
phố.
2.10. Giúp UBND quận thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt
động của hội, tổ chức phi chính phủ trên đòa bàn quận.
2.11. Về công tác văn thư, lưu trữ:
- Hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan, đơn vò trên đòa bàn quận chấp hành
chế độ, quy đònh của pháp luật về công tác văn thư, lưu trữ;
- Hướng dẫn, kiển tra chuyên môn, nghiệp vụ về thu thập, bảo vệ, bảo
quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ đối với cơ quan, đơn vò trên đòa bàn
quận và lưu trữ quận.
2.12. Về công tác tôn giáo:
- Giúp UBND quận chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các
chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về tôn giáo và công
tác tôn giáo trên đòa bàn;
- Chủ trì, phối hợp các cơ quan chuyên môn quận để thực hiện nhiệm vụ
quản lý nhà nước về tôn giáo trên đòa bàn theo phân cấp của UBND thành phố
và theo quy đònh của pháp luật.
3. Cơ cấu tổ chức phòng:


Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN – CƠ SỞ PHÁP LÝ

A- CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Một số khái niệm
1. Khái niệm cán bộ, công chức
CBCC theo quy đònh của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 được sửa
đổi, bổ sung năm 2000 và năm 2003 là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao
gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trò, tổ chức chính trò - xã hội ở trung ương; ở tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương; ở huyện, quận, thò xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong tổ chức chính trò, tổ chức chính trò - xã hội ở trung ương,
cấp tỉnh, cấp huyện;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc
giao giữ một công vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan nhà nước ở trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc
giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vò sự nghiệp của Nhà nước, tổ
chức chính trò, tổ chức chính trò - xã hội;
- Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong cơ quan đơn vò thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là só quan, hạ só quan chuyên nghiệp;
- Những người được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ
chức chính trò - xã hội;
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc UBND cấp xã.
Ngoài ra, có thể hiểu CBCC theo Luật Cán bộ, công chức (được Quốc hội

năng quản lý nhà nước.
2.2. Đặc điểm đặc thù
- Các CQHCNN được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính
nhà nước, nghóa là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành. Hoạt động
chấp hành và điều hành là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Hiến pháp,
Luật, Pháp lệnh và để thực hiện pháp luật.
- Hoạt động của các CQHCNN mang tính thường xuyên, liên tục và tương
đối ổn đònh, là cấu nối trực tiếp nhất đưa đường lối chính sách, pháp luật vào
cuộc sống.
- CQHCNN là hệ thống rất phức tạp, có số lượng đông đảo nhất, có mối liên
hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương tới đòa phương,
Trưởng đoàn: TS. Đào Đăng Kiên GVHD:Th.S Mai Nguyên Thanh
cơ sở, chòu sự lãnh đạo, chỉ đạo của một trung tâm thống nhất là Chính phủ –
CQHCNN cao nhất.
- CQHCNN đều trực tiếp hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà
nước, chòu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của cơ quan quyền lực nhà nước ở
cấp tương ứng và chòu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực
đó.
- Hoạt đông của CQHCNN khác với hoạt động của cơ quan quyền lực, hoạt
động kiểm sát của Viện kiểm sát và hoạt động xét xử của Toà án. Hoạt động
của CQHCNN là đối tượng giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước, của
Toà án thông qua hoạt động xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia
đình, lao động, kinh tế và hành chính. Các CQHCNN có nghóa vụ, trách nhiệm
xem xét và trả lời các yêu cầu, kiến nghò, kháng nghò của Toà án trong những
trường hợp nhất đònh và trong thời hạn do luật đònh. Ngược lại, các văn bản
pháp luật của CQHCNN có thể là căn cứ pháp lý để Viện kiểm sát và Toà án
thực hiện hoạt động kiểm sát và xét xử. Một văn bản pháp luật của CQHCNN
trực tiếp điều chỉnh một số vấn đề tổ chức nội bộ của Viện kiểm sát và Toà án.
Các CQHCNN có đối tượng quản lý rộng lớn đó là những cơ quan, tổ chức,
xí nghiệp trực thuộc, nhưng Toà án và Viện kiểm sát không có những đối tượng

A B C

Thời gian công tác
Đường chức nghiệp trong hệ thống chức nghiệp
- Tuỳ thuộc vào trình độ học vấn để xác đònh vò trí xuất phát (A,B,C).
- Tùy vào chuyên môn để xác đònh ngành (điều này cũng có tính tương đối,
đa số học Luật đều được tuyển vào bộ máy hành chính nhà nước).
- ĐCN thường bò các mô hình chức nghiệp, quy chế, luật ràng buộc.
3.2.2. ĐCN trong trường hợp công vụ theo việc làm
Phát triển chức nghiệp đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự cố gắng học tập và
rèn luyện. Bởi theo mô hình việc làm, người lao động phải thường xuyên quan
tâm đến công việc để bản thân không lạc hậu so với thế giới công việc đang
thay đổi do sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ. Ngoài ra, người
lao động muốn tìm kiếm cho mình những công việc hấp dẫn hơn, lương cao hơn
và do đó phải tự học tập nhiều hơn so với ĐCN “sống lâu lên lão làng”. Mô
hình việc làm tạo ra một không khí học tập âm thầm, cạnh tranh nhằm tìm kiếm
những đề nghò mới.
Khả năng thuyên chuyển, thay đổi ngành, ngạch của công chức thường bò
ràng buộc bởi hệ thống các quy chế. Công chức chỉ có thể thuyên chuyển khi từ
một vò trí ở cơ quan sang cơ quan khác trong cùng một loại ngành, ngạch. Nếu
thay đổi ngành, thường phải thông qua kỳ thi chuyển ngạch. Công chức tự mình
có thể khai thác các chính sách của nhà nước để có thể chuyển ngạch thông qua
kỳ thi tuyển hoặc đi học tập bồi dưỡng kiến thức chuyên môn. Một công chức ở
ngạch cán sự, muốn chuyển lên ngạch chuyên viên, điều bắt buộc phải có bằng

những người con, người chồng vô cùng yêu quý. Phụ nữ không chỉ chiến đấu
anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc
hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp hơn, đàng hoàng hơn.
Trong bối cảnh xã hội ngày nay có nhiều cơ hội tốt đẹp, không ít phụ nữ
đã phấn đấu vươn lên, vượt khó trau dồi, rèn luyện cho mình những hành trang
mới sánh bước cùng cộng đồng khu vực và thế giới. Phụ nữ đang ngày càng chủ
động tự tin trong lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học, năng động mạnh dạn
trong kinh tế thò trường. Có thể nói rằng phụ nữ Việt Nam ngày càng được
trưởng thành về mọi mặt.
Phụ nữ thường thực hiện cùng một lúc nhiều vai trò:
1.1. Phụ nữ với vai trò sản xuất
Hiện nay phụ nữ chiếm 51,6% (2007) lực lượng lao động trong sản xuất
nông -lâm - ngư nghiệp. Cùng với nam giới, phụ nữ đã giữ vai trò quan trọng
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng kim ngạch xuất khẩu. Ở nông thôn
Trưởng đoàn: TS. Đào Đăng Kiên GVHD:Th.S Mai Nguyên Thanh
trước những diễn biến phức tạp của thời tiết, dòch bệnh, giá cả, áp lực cạnh
tranh...phụ nữ nông dân vẫn chủ động đầu tư sản xuất, học tập, áp dụng những
nghiên cứu khoa học để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng ngành
nghề, tăng sản phẩm có giá trò kinh tế cho tiêu dùng, xuất khẩu, góp phần phát
triển nông thôn, làm giàu cho gia đình và đất nước.
Những năm sau đổi mới, công nghiệp là ngành mũi nhọn, là bộ mặt của
nền kinh tế mới Việt Nam. Từ khi mới ra đời công nghiệp được coi là lónh vực
đặc quyền cho nam giới nhưng ngày nay, sự góp mặt của phụ nữ ngày càng
nhiều trong công nghiệp không chỉ cao về số lượng mà còn cao về chất lượng
đã dần thay đổi các đònh kiến trên vấn đề này. Chẳng hạn phụ nữ chiếm
36,69% trong công nghiệp, xây dựng.
Phụ nữ cũng là lực lượng đông đảo trong ngành chế biến, dệt may, giày
da, tiểu thủ công nghiệp. Họ chiếm tới 53,98% lao động trong các doanh nghiệp
(2006), 30% chủ doanh nghiệp (2007). Các doanh ngiệp do phụ nữ làm chủ sản
xuất hoạt động rất có hiệu quả, góp phần không nhỏ trong việc tạo việc làm

1.3. Phụ nữ với vai trò lãnh đạo, quản lý
Sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước như
là một tác nhân mới quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội. Hiện
nay, phụ nữ lãnh đạo, quản lý có mặt trên rất nhiều lónh vực: chính trò, kinh tế,
văn hoá, khoa học, xã hội. Nét nổi bật là tỷ lệ nam nữ tham gia các cấp lãnh
đạo đã biến đổi theo hướng ngày một cân bằng hơn. Cụ thể:

TỶ LỆ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI CÁC
KHỐ THEO GIỚI TÍNH(%)
0
20
40
60
80
100
Khố IX KhốX KhốXI KhốXII
nữ
nam

Nước ta được đánh giá là có số nữ đại biểu cao trong Quốc hội khoá XI,
đứng đầu Châ Á, đứng thứ hai trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (sau
New Zealand) và xếp thứ 9/135 các nước trên thế giới.
Tại Quốc hội khoá XII mặc dù tỷ lệ nữ (25,8%) chưa đạt so với chỉ tiêu
đề ra (30%) nhưng chất lược đã cao hơn các khoá trước. Cụ thể, đã có 91,34%
đại biểu có trình độ đại học trở lên (khoá XI có 88,98%), trong đó trên đại học
là 34,28%, đại học là 59,06% và chỉ có 8,66% đại biểu có trình độ dưới đại học.
Theo đánh giá của Văn phòng Quốc hội, việc tham gia xây dựng pháp luật,
chính sách và đóng góp ý kiến, toạ đàm với cử tri của các nữ đại biểu Quốc hội
ngày càng có chất lượng. Tỷ lệ nữ giới là đại biểu Quốc hội khoá XII của Việt
Nam cao hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan:

quốc gia phụ thuộc nhiều vào việc giải quyết vấn đề phụ nữ và đòa vò xã hội
của người phụ nữ trong xã hội. Trong mọi trường hợp, phụ luôn tỏ ra năng lực
của giới mình. Việc lôi cuốn phụ nữ tham gia vào quá trình quản lý đất nước,
quản lý xã hội là rất cần thiết, là yêu cầu khách quan của một xã hội văn minh
và phát triển.
Theo Lênin, công cuộc giải phóng phụ nữ là vấn đề hết sức khó khăn và
phức tạp. Thực hiện công cuộc giải phóng phụ nữ, tăng cường sự tham gia của
người dân trong đó có phụ nữ vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội chính là để
phát huy vai trò, vò thế của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Ở
những thời điểm bước ngoặc của cách mạng Nga, Lênin luôn chú ý đến công
tác tổ chức bộ máy và con người trong đó có cán bộ nữ, giai cấp vô sản muốn
chiến thắng giai cấp tư sản thì phải đào tạo lấy những “nhà chính trò giai cấp
thực sự của mình”.
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ
Nói đến phụ nữ là nói phần nửa của xã hội. Muốn có nhiều sức lao động
để sản xuất thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ. Trong sự nghiệp cách
Trưởng đoàn: TS. Đào Đăng Kiên GVHD:Th.S Mai Nguyên Thanh
mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, nếu không
giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghóa xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghóa
xã hội chỉ một nửa. Chủ tòch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhà nhân văn
chủ nghóa vó đại, Người rất xem trọng vai trò của người phụ nữ: “Cách mạng
Nga thành công mau như thế là nhờ đàn bà con gái giúp vào. An nam cách mạng
cũng phải có nữ tham gia mới thành công”. Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 20
ngày thành lập HLHPN Việt Nam (19-10-1996), Chủ tòch Hồ Chí Minh đã nhắc
đến truyền thống đầy tự hào của người phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ
nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghóa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay
mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần
xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ
rất hùng hồn: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Nhân dân ta rất biết ơn bà mẹ

vươn lên của chò em phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết
thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách
mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn
lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.
Muốn xoá bỏ tình trạng bất bình đẳng và muốn được giải phóng triệt để thì:
“Tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm người làm chủ đất nước, tức
là phải hăng hái thi đua, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng
nhà nước, xây dựng chủ nghóa xã hội”. Người khuyến khích chòu khó học tập:
“Mọi người Việt Nam phải hiểu biết hết quyền lợi của mình, bổn phận của
mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước
nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Phụ nữ lại càng cần phải
học, đã lâu chò em bò kìm hãm. Đây là lúc chò em phải cố gắng để kòp nam giới,
để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”. Người
còn khuyên giới nữ phải tự đấu tranh với bản thân mình, tự mình phải biết tôn
trọng mình mới làm nên mọi việc. Người nói: “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần
làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xoá bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải
phát triển chí khí tự cường, tự lập”.
Người rất quan tâm đến đội ngũ cán bộ nữ. Khi bàn đến công tác của cán
bộ nữ hoặc lúc đi thăm các cơ sở, người luôn quan tâm đến số lượng, tỷ lệ đại
biểu nữ và ân cần mời chò em lên hàng ghế đầu, động viên chò em phát biểu ý
kiến. Thấy cán bộ nữ trưởng thành, Người động viên khuyến khích kòp thời. Ở
đòa phương nào, ngành nào chưa quan tâm chú ý đến chò em phụ nữ, có những
tư tưởng hẹp hòi đối với phụ nữ, không đánh giá đúng khả năng của phụ nữ,
Người phê phán: “Cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót. Các đồng chí phụ trách
lớp học chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ. Đây cũng là thiếu sót
chung ở trong Đảng. Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ
hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là sai”. Theo Người, đã là con người - cán bộ
ai cũng có chỗ hay chỗ dở… đòi hỏi nhà lãnh đạo phải nắm vững đặc điểm tâm
lý, tình cảm, phong cách, văn hóa con người Việt Nam và cán bộ nói riêng để
sử dụng đúng việc, đúng người. Người cho rằng, phải đào tạo những cán bộ có

khả năng cách mạng của phụ nữ: “Lực lượng phụ nữ là một lực lượng rất trọng
yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào cuộc đấu tranh cách
mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được” (Trích NQ Trung ương toàn thể
Hội nghò). Và trong Cương lónh chính trò đầu tiên, Đảng ta đã đề ra chính sách
nhất quán, sự quan tâm đặc biệt nhằm thực hiện nam nữ bình đẳng, tạo điều
kiện khuyến khích để phụ nữ tham gia mọi lónh vực phát triển đất nước. Tư
tưởng “nam nữ bình quyền” cũng là một trong những nhiệm vụ cốt yếu của
Cương lónh cách mạng Việt nam và nêu rõ giải phóng phụ nữ phải gắn liền với
giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Xác đònh giải phóng phụ nữ là một
trong những mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực
tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước.
CT số 44/TC-TW ngày 07-6-1984 của Ban Bí thư trung ương Đảng về
một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ đã khẳng đònh công lao đóng
góp của phụ nữ trong ba cuộc cách mạng, sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ

Trích đoạn Chính sách Công tác tuyển dụng Phối hợp hoạt động giữa các phòng, ban có liên quan.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status