1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trên cơ sở nền tảng chủ nghóa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, cùng với việc nhận thức sâu sắc xu thế và yêu cầu chung của
thời đại, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương thực hiện chính
sách đối ngoại rộng mở, “đa dạng hóa”ù, “đa phương hoá”, “sẵn
sàng làm bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng
đồng quốc tế”.
Liên hiệp châu Âu
(*)
(European Union – EU) là một thực thể
liên minh khu vực lớn, rất cần tới sự hợp tác của các nước châu Á
nói chung, Việt Nam nói riêng.
Việt Nam quan hệ hợp tác toàn diện với EU trở thành nhu cầu
tất yếu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – EU
thời kỳ 1990-2004 không chỉ mang ý nghóa khoa học, mà còn đáp
ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong chính sách đối ngoại của Việt
Nam. Từ kết quả nghiên cứu cho phép chúng ta rút ra những bài
học kinh nghiệm, thấy được những khó khăn, cản trở trong quá khứ,
để có những giải pháp đúng, chủ trương chính sách phù hợp nhằm
phát huy thành tựu, thúc đẩy quan hệ hợp tác có hiệu quả hơn trong
hiện tại và tương lai.
Mặt khác, từ trước đến nay, việc nghiên cứu mối quan hệ này
của các nhà nghiên cứu lòch sử Việt Nam còn rất ít, đặc biệt là
quan hệ Việt Nam - EU trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ
XX, đầu thế kỷ XXI. Những công trình nghiên cứu chỉ mới dừng lại
ở mặt này hay mặt khác của mối quan hệ, mà chưa đi sâu, cập nhật
một cách toàn diện và có hệ thống. Chúng ta cần phải tiếp cận các
triển” (Transition in Central and Eastern Europe: Implications for
3
3
EU-LDC Relations, 1996) của Arie Kuyvenhoven, Olga
Memedovic và Nico van der Windt, “Trung, Đông Âu trên con
đường tới Liên minh châu Âu” (Central and Eastern Europe on its
Way to European Union, 1999) của Raymond Courbis và
Wladyslaw Welfe, “Đẩy lùi biên giới: Liên minh châu Âu và
Trung, Đông Âu” (Pushing back the Boundaries: The European
Union and Central and Eastern Europe, 1999) của Mike Mannin,
“Mở rộng Liên minh châu Âu sang phía Đông và cuộc khủng
hoảng chuyển giao của Nga” (The EU Eastern Enlargement and
the Russian Transformation Crisis, 1999) của Paul J.J Welfens,
“Xlôvenia: Chuyển đổi kinh tế và tiếp cận Liên minh châu Âu”
(Slovenia: Economic Transformation and EU Accession, 1999) của
World Bank, “Sự mở rộng của Liên minh châu Âu: Những vấn đề
và chiến lược” (The Enlargement of the European Union: Issues
and Strategies, 1999) của Vitoria Curzon Price, Alice Landau và
Richard G. Whitma, “Liên minh châu Âu: Cấu trúc và cơ chế”
(The European Union: Structure and Process, 2000) của Clive
Archer, “Kinh tế chính trò trong cạnh tranh ở châu Âu mở rộng”
(The Political Economy of Competitiveness in an Enlarged Europe,
2001) của Julie Pellegrin, “Mở rộng sang hướng Đông của Liên
minh châu Âu” (The Eastern Enlargement of the EU, 2001) của
Marek Dabrowski và Jacek Rostowski, “Đàm phán về châu Âu
mới: Liên minh châu Âu và Đông Âu” (Negotiating the New
Europe: the European Union and Eastern Europe, 2002) của
Dimitris Papadimitriou và “Mở rộng Liên minh châu Âu sang các
nước Trung và Đông Âu: Cạnh tranh thương mại, đòa phương hóa
cả và chúng tôi đã được kế thừa kết quả nghiên cứu của công trình
này như phương pháp tiếp cận vấn đề, những kết quả bước đầu của
5
mối quan hệ EU – Việt Nam như đã được chỉ rõ trong các ghi chú
của luận án. Tuy nhiên công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thò
Kim Dung được hình thành trên cơ sở một luận án tiến só đã bảo vệ
thành công năm 1999, nên có sự khác nhau cơ bản về thời đoạn
nghiên cứu, về chủ thể nghiên cứu, về bối cảnh quốc tế, khu vực
trong giai đoạn nghiên cứu. Luận án thuộc chuyên ngành lòch sử
thế giới nên việc nghiên cứu chủ thể của mối quan hệ là EU. Do đó
tác giả đã giành hẳn một chương để trình bày quá trình hình thành
phát triển của EU và quan hệ của EU với Mỹ, châu Á. Quan hệ
Việt Nam – EU được tác giả trình bày một cách khái quát trên các
lónh vực chính trò, thương mại, đầu tư, hợp tác viện trợ trong thời
gian từ năm 1990 đến năm 1998. Cũng từ góc độ lấy EU là chủ thể
do đó tác giả đã đi sâu phân tích quan hệ của từng nước thành viên
EU với Việt Nam.
3- Sách “Thúc đẩy quan hệ thương mại – đầu tư giữa Liên
Hiệp châu Âu và Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu
thế kỷ XXI”, của tác giả Bùi Huy Khoát (chủ biên), Nhà xuất bản
Khoa học xã hội – 2001. Công trình này đã làm rõ hơn những cơ
hội và thách thức mà sự liên kết kinh tế - tiền tệ của EU đang tạo
ra trước nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh vượt qua ảnh hưởng
tiêu cực của khủng hoảng kinh tế (1997), để tiếp tục thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm đầu thế kỷ
XXI.
4- Sách “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”, được
biên soạn bởi các tác giả Carlo Filippini, Bùi Huy Khoát, Stefan
Hell, Nhà xuất bản Chính trò quốc gia, Hà Nội – 2004. Các bài viết
những nhiệm vụ sau:
7
Thứ nhất, phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực hai thập niên
cuối thế kỷ XX, đầu XXI, để thấy rõ những tác động của thế giới
và khu vực đến sự phát triển quan hệ Việt Nam – EU. Tập trung
làm sáng rõ tiến trình đổi mới tư duy, triển khai đường lối đối ngoại
“đa dạng hoá”, “đa phương hoá” quan hệ quốc tế, của Đảng và
nhà nước Việt Nam
Thứ hai, phục dựng lại tiến trình quan hệ Việt Nam - EU thời
kỳ trước năm 1990, phân tích nguyên nhân của thực trạng ấy. Qua
đó làm rõ những cơ sở nền tảng và quá trình phát triển quan hệ
Việt Nam - EU. trên các lónh vực: chính trò, kinh tế, văn hoá, khoa
học và công nghệ, giáo dục- đào tạo, y tế, du lòch, v.v… trong thời
kỳ thời kỳ 1990 – 2004 và đây là trọng tâm của luận án.
Thứ ba, từ việc nghiên cứu, rút ra bài học kinh nghiệm, dự báo
triển vọng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ
Việt Nam - EU trong thập niên đầu thế kỷ XXI.
4. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam-EU trong sự tác động
của tình hình thế giới và khu vực, sự điều chỉnh chiến lược, sách
lược, biện pháp cụ thể trong chính sách đối ngoại của Đảng cộng
sản Việt Nam và Chiến lược mới hướng về châu Á, Đông Nam Á
trong đó có Việt Nam của EU. Luận án xem xét mối quan hệ này
dưới góc độ Việt Nam với tư cách là chủ thể của mối quan hệ và
chủ thể của đối tượng nghiên cứu, EU được xem xét như một khối
liên kết chứ không nghiên cứu riêng rẽ theo từng nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi thời gian, giới hạn đề tài này bắt đầu từ năm 1990
9
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở lý luận của luận án
Luận án dựa trên nền tảng lý luận chủ nghóa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng
sản Việt Nam về quan hệ quốc tế. Trọng tâm là dựa vào chủ nghóa
duy vật lòch sử để giải quyết các vấn đề mang tính lý luận đặt ra
trong quá trình thực hiện đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin,
luận án kết hợp sử dụng phương pháp lòch sử và phương pháp logic,
các phương pháp chuyên ngành, liên ngành.
Dựa vào phương pháp lòch sử, luận án dựng lại toàn bộ quá
trình lòch sử quan hệ Việt Nam – EU qua những sự kiện, dấu mốc
và các giai đoạn phát triển đa dạng của mối quan hệ dưới tác động
của tình hình thế giới, khu vực, và sự phát triển, đổi mới chính sách
đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam, làm nổi bật tính lòch sử
của luận án.
Trên cơ sở của bức tranh lòch sử toàn cảnh, phương pháp logic
vạch ra bản chất của mối quan hệ Việt Nam – EU, một biểu hiện
sinh động cho phương châm đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá
quan hệ quốc tế của Đảng và nhà nước Việt Nam. Rút ra những
đặc điểm, chiều hướng phát triển của mối quan hệ Việt Nam – EU,
đảm bảo tính khoa học của luận án.
Luận án nghiên cứu lòch sử mối quan hệ Việt Nam – EU nên
Nghiên cứu sinh đã vận dụng các phương pháp của các khoa học có
liên quan như phương pháp nghiên cứu kinh tế . Đặc biệt là những
liên quan đến đề tài như tạp chí Nghiên cứu châu Âu, tạp chí
Nghiên cứu quốc tế, tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới…