T
T
R
R
ệ
ệ
ễ
ễ
ỉ
ỉ
N
N
G
Gẹ
ẹ
A
A
ẽ
ẽ
I
IH
H
O
O
A
AS
S
ệ
ệP
P
H
H
A
A
ẽ
ẽ
M
M
ẽ
ẽ
C
CH
H
I
I
E
E
N
N:
:
t
t
e
e
õ
õ
n
n:
:N
N
g
g
u
u
y
y
e
e
ó
ó
n
n
ỷ
ỷ
o
o
M
M
a
a
ừ
ừs
s
o
o
ỏ
ỏS
S
V
V
L
L
ụ
ụ
ự
ự
p
p
ủ
ủ
e
e
t
t
a
a
ứ
ứ
i
in
n
g
g
h
h
i
i
e
e
N
H
HT
T
R
R
A
A
ẽ
ẽ
N
N
G
GN
N
H
H
A
A
M
M
N
G
GA
A
N
N
H
HK
K
H
H
I
IH
H
O
O
ẽ
ẽ
C
C
U
A
AS
S
I
I
N
N
H
HV
V
I
I
E
E
N
N
G
ệ
ệ
ế
ếT
T
R
R
ệ
ệ
ễ
ễ
ỉ
ỉ
N
N
G
Gẹ
ẹ
A
A
ẽ
ẽ
I
E
N
NH
H
ệ
ệ
ễ
ễ
N
N
G
GD
D
A
A
N
N
ú
H
H
u
u
y
y
ứ
ứ
n
n
h
hC
C
o
o
õ
õ
n
n
g
g
A
A
n
nG
G
i
i
a
a
n
n
g
g
,
,
LỜI CẢM ƠN
===================== Qua thời gian tiến hành nghiên cứu (từ 01/04/2004 đến 30/06/2004), được sự quan
tâm, hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong HĐKH & ĐT Trường Đại Học An Giang,
tôi đã nắm vững được những tiêu chuẩn, các khâu, quy cách tiến hành điều tra, nghiên
cứu và từng bước đi đến hoàn thành bài viết của mình. Xin chân thành cảm ơn sự ưu ái,
mọi điều kiện thuận lợi mà nhà trường đã tạo cho tôi trong thời gian vừa qua.
Bên cạnh đó, xin gửi lời cảm ơn đến Thư Viện Tỉnh An Giang và Thư Viện
Trường ĐHAG đã dành sự ưu tiên đặc biệt trong việc cho mượn thêm sách và gia hạn
thêm thời gian tạo cho tôi nhiều thuận lợi hơn trong việc tham khảo, nghiên cứu tài liệu
minh họa cho đề tài.
Tiếp đến, xin cho tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Huỳnh Công Lộc, người
giáo viên hướng dẫn tận tâm, nhiệt tình. Nhờ vào sự hỗ trợ, giúp đỡ, đóng góp ý kiến của
thầy mà tôi chỉnh sửa kòp thời những thiếu sót, có được nhiều ý tưởng, hiểu sâu sắc thêm
nhiều vấn đề liên quan trong việc nghiên cứu của mình.
Sau cùng, xin cảm ơn tất cả các bạn sinh viên ở ba tập thể lớp 2D, 3D1, 3D2 của
trường ĐHAG đã nhiệt tình tham gia và đóng góp ý kiến trong bảng câu hỏi điều tra
phục vụ cho việc lấy số liệu và nắm tình hình học Tiếng Pháp của đề tài nghiên cứu.
Một lần nữa, xin gửi lời cảm ơn chân tình nhất đến tất cả những sự giúp đỡ, hỗ trợ
2.3 Danh từ 20
2.4 Tính từ 21
2.5 Tính từ sở hữu 30
2.6 Trạng từ 31
2.7 “C’est” hay “Il est” 32
3. Nhận xét và bài học kinh nghiệm 33
3/ Phần III : Kết luận 36
4/ Tài liệu tham khảo 38
5/ Phần phụ lục 39
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1/
Lý do chọn đề tài:
Ngày nay không thể phủ nhận sự thật là đất nước ta đang ngày càng phát
triển để theo kòp tốc độ vũ bão của sự bùng nổ khoa học công nghệ cùng xu thế
“toàn cầu hóa” của thế giới. Hoà cùng nhòp độ nhanh chóng của “hội nhập”, của
“toàn cầu hóa”ù, sự lónh hội ngoại ngữ đóng vai trò cực kì quan trọng bởi qua giao
tiếp, giao lưu, hợp tác dễ dàng, thuận lợi nhờ vào vốn ngôn ngữ phong phú, chúng ta
mới có cơ hội tiếp thu, học hỏi những tinh hoa, tiến bộ của các nước bạn rồi dựa vào
điều kiện thực tế của nước nhà mà chọn lọc, ứng dụng, phối hợp sao cho phát huy
được hiệu quả cao nhất. Đó là lý do giải thích tại sao chúng ta mở các trung tâm
ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hoa, Nhật, Hàn… khắp nơi trong cả nước và ở các trường
- Quan sát, tìm hiểu, phân tích thực trạng học Tiếng Pháp của sinh viên ĐHAG để
nắm nguyên nhân, những yếu tố liên quan, ảnh hưởng, làm phát sinh sự nhầm lẫn
ngôn ngữ này với Tiếng Anh.
- Trên cơ sở nắm bắt được những thông tin cần thiết trên, nghiên cứu, suy nghó, đề
xuất những phương pháp, thủ thuật hữu hiệu khắc phục tình trạng nhầm lẫn (như tìm
những điểm giống hay chỉ tương tự, những điểm hơi khác nhau hay trái ngược hoàn
toàn… ) từ đó vươn tới mục tiêu chinh phục, lónh hội nhiều ngôn ngữ ở trình độ ngày
càng cao, nâng cao kỹ năng giao tiếp đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội.
3/
Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể: + Các giáo viên giảng dạy Tiếng Pháp của trường ĐHAG
+ Các sinh viên thuộc các khoá 2 và 3 của khối ngoại ngữ, chuyên
ngành Anh văn trường ĐHAG
- Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng nhầm lẫn với Tiếng Anh khi học Tiếng
Pháp của sinh viên khối ngoại ngữ trường Đại Học An Giang.
4/
Giả thuyết khoa học:
Thông qua việc tìm hiểu tình trạng nhầm lẫn với Tiếng Anh khi học Tiếng Pháp
của sinh viên khối ngoại ngữ trường Đại Học An Giang, trên cơ sở từng bước đi sâu
vào các mặt, các lónh vực như: cách phát âm, cách viết từ vựng, cách chia động từ,
tính từ theo giống, theo ngôi… của Tiếng Pháp đồng thời so sánh với Tiếng Anh ta
sẽ nắm được nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng làm phát sinh vấn đề nghiên
cứu hay nói cụ thể hơn đó là những lầm lẫn, sai sót thường gặp giữa hai ngôn ngữ.
Qua đó có nền tảng vững chắc chỉ dẫn ta tìm ra con đường, những nét riêng biệt,
những thủ thuật phân biệt giúp sinh viên ghi nhớ, ứng dụng, khắc phục một cách
hiệu quả hơn, đạt chất lượng cao hơn khi học Tiếng Pháp nói riêng đặc biệt là làm
phong phú thêm vốn ngôn ngữ của “những người chủ tương lai” của đất nước nói
chung.
5/
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Thông qua các tiết dạy Tiếng Pháp ở lớp, quan sát, lắng nghe, ghi nhận các
nhầm lẫn gặp phải của sinh viên trong chương trình học và những lỗi sai thường mà
giáo viên lưu ý cho lớp.
+ Lắng nghe, ghi nhận những lời khuyên, thủ thuật, giải pháp khắc phục của giáo
viên, sau đó ghi nhận vào tập.
- Phương pháp điều tra giáo dục:
+ Thiết lập bảng câu hỏi điều tra (nội dung câu hỏi xoáy vào những nhầm lẫn, sai
sót thường mắc phải của sinh viên khi học Tiếng Pháp, cách học của sinh viên, cách
giảng dạy của giáo viên ở lớp… để qua phần giải đáp rút ra được nguyên nhân,
những nhân tố ảnh hưởng, khiếm khuyết trong dạy-học đúc kết thành giải pháp khắc
phục).
+ Tiến hành phân phát cho 105 sinh viên ở các lớp ngoại ngữ thuộc các khoá học
trường ĐHAG đã được học Tiếng Pháp (2D, 3D1, 3D2).
+ Thu thập, xử lý số liệu và sử dụng vào nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn:
Thông qua các phương pháp trên cộng với việc thăm dò, hỏi ý kiến của thầy cô
giảng dạy chuyên môn, sau đó tổng hợp thành những kinh nghiệm (hiện tượng nhầm
lẫn chủ yếu do những nguyên nhân nào?, cách khắc phục ra sao?…) nhằm đạt được
mục đích nghiên cứu.
3
PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I/
Cơ sở lý luận:
này để người học rút kinh nghiệm hoặc tránh mắc phải.
Do vậy, từ những điểm còn hạn chế đó đã tạo động lực thôi thúc tôi nghiên cứu
đề tài này dựa trên chương trình học của sinh viên khối ngoại ngữ trường ĐHAG
nhằm giúp sinh viên có cái nhìn thật rõ về đặc điểm của từng ngôn ngữ, qua đó đạt
chất lượng cao hơn trong học tập.
2. Một số lý thuyết cần nắm vững:
Để học tốt, đặc biệt là lónh hội ngoại ngữ đạt chất lượng cao đòi hỏi bản thân
chúng ta phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn như: siêng năng học tập, có tinh thần tiếp
4
thu học hỏi, không ngại khó khăn… Bên cạnh đó, không thể không kể đến một số
yếu tố hết sức quan trọng là: khả năng tư duy, trí nhớ, sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo
trong học tập để thôi thúc, phát huy sự thông minh, tính sáng tạo, nhạy bén ở người
học. Thật vậy, để đạt đến đỉnh cao lónh hội nói chung và cụ thể ở đây là tránh được
những sai sót, nhầm lẫn khi học hai ngôn ngữ Anh và Pháp cùng lúc, người học cần
bước đầu nắm vững các khái niệm, đặc điểm, điều kiện, các quá trình hình thành cơ
bản của tư duy, trí nhớ, kỹ năng, kỹ xảo… cũng như về sự nhầm lẫn Anh-Pháp và
những lời giải đáp cho những câu hỏi xoay quanh vấn đề này như sau:
• Tư duy và các đặc điểm của tư duy (trích dẫn tài liệu Tâm Lý học đại cương
do Lê Thanh Hùng biên soạn):
a) Đònh nghóa:
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta
chưa biết.
b) Đặc điểm của tư duy:
- Hoàn cảnh có vấn đề là đối tượng của tư duy.
- Tư duy sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện.
- Tư duy phản ánh khái quát sự vật, hiện tượng.
- Tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp.
- Ghi nhớ có chủ đònh: theo mục đích từ trước, có sự cố gắng cũng như
những thủ thuật và phương pháp ghi nhớ xác đònh.
+ Ghi nhớ máy móc: dựa trên sự lặp đi lặp lại nhiều lần (tài liệu) một
cách đơn giản.
+ Ghi nhớ ý nghóa: dựa trên sự thông hiểu nội dung tài liệu. Loại ghi
nhớ này gắn liền với tư duy con người.
- Học thuộc lòng và thuật nhớ:
+ Học thuộc lòng là sự kết hợp ghi nhớ ý nghóa với ghi nhớ máy móc
dựa trên sự thông hiểu tài liệu.
+ Thuật nhớ: ghi nhớ có chủ đònh bằng cách tạo ra mối liên hệ bề
ngoài để ghi nhớ.
c.2
Quá trình gìn giữ: là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã hình
thành được trên vỏ não trong quá trình ghi nhớ.
c.3
Quá trình nhận lại và nhớ lại:
- Nhận lại: là sự nhớ lại một đối tượng nào đó trong điều kiện tri giác
lại đối tượng đó.
- Nhớ lại: là sự tái hiện lại sự vật, hiện tượng trong óc khi không gặp lại
chúng.
c.4
Quên và cách chống quên:
- Quên: là biểu hiện không nhận lại hay nhớ lại được hoặc nhận lại, nhớ
lại sai.
Sự quên thường diễn ra theo các quy luật sau:
+ Thường quên những cái không hoặc ít có quan hệ với đờùi sống của
mình.
+ Có trường hợp quên là sự cần thiết cho cá nhân.
+ Tốc độ quên phụ thuộc:
Khi gặp kích thích mạnh hay kích thích mới lạ.
- Nội dung của bài tập, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hoá rõ ràng hay
bò che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy.
- Tâm thế và thói quen.
- Khả năng khái quát nhìn đối tượng một cách toàn thể.
a.4
Sự hình thành kỹ năng:
Thực chất của sự hình thành kỹ năng là hình thành cho học sinh nắm
vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông
tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với hành động cụ
thể.
Khi hình thành kỹ năng cho học sinh cần chú ý:
- Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải
tìm và mối quan hệ giữa chúng.
- Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài
tập, các đối tượng cùng loại.
- Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các
kiến thức tương ứng.
b) Sự hình thành kỹ xảo:
b.1
Kỹ xảo: là hành động tự động hóa nhờ luyện tập. b.2
Đặc điểm:
7
- Kỹ xảo không bao giờ thực hiện đơn độc, tách rời khỏi hành động có ý
thức phức tạp.
- Mức độ tham gia của ý thức ít, thậm chí có khi cảm thấy không có sự
tham gia của ý thức.
- Không nhất thiết theo dõi bằng mắt, mà kiểm tra bằng cảm giác vận
Chuyển vào một khâu của hành động phức tạp và đạt tiêu chuẩn
nhuần nhuyễn cao.
Chính lúc đó kỹ xảo được hình thành, hành động đã được tự động hóa. • Quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ (trích dẫn tài liệu Tâm lý học
lứa tuổi và tâm lý học sư phạm do Đỗ Văn Thông biên soạn):
8
Dạy học và phát triển trí tuệ có quan hệ chặt chẽ với nhau (dạy học tạo điều
kiện cho trí tuệ phát triển, phát triển trí tuệ dựa trên cơ sở dạy học).
Trong quá trình dạy học có sự biến đổi thường xuyên vốn kinh nghiệm của học
sinh, số lượng và chất lượng của hệ thống tri thức, các năng lực người dẫn đến những
năng lực trí tuệ của học sinh cũng được phát triển bởi vì:
- Trong quá trình nắm tri thức, học sinh phải xây dựng cho mình những hệ
thống hành động trí tuệ sao cho phù hợp với hệ thống tri thức đó. Khi hệ thống hành
động trí tuệ này được củng cố, khái quát tạo thành những kỹ xảo của hoạt động trí
tuệ giúp cho học sinh có khả năng di chuyển rộng rãi và thành thạo các phương pháp
hoạt động trí tuệ từ đối tượng này sang đối tượng khác để nhận thức và cải tạo chúng
được xem như một trong những điều kiện cơ bản của sự phát triển trí tuệ.
- Ngoài ra, trong quá trình nắm tri thức, những mặt khác của năng lực trí tuệ
như: óc quan sát, trí nhớ, tưởng tượng cũng được phát triển. Do đó, việc dạy học là
một trong những con đường cơ bản để giáo dục và phát triển trí tuệ một cách toàn
diện.
- Việc nắm vững tri thức không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực trí
tuệ, mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nhân cách con người như: nhu cầu nhận thức,
hứng thú học tập, động cơ học tập, khát vọng tìm tòi, v.v…
Ngược lại, trí tuệ nói riêng và các chức năng tâm lý khác nói chung được phát
triển lại có ảnh hưởng trở lại đến quá trình dạy học, quá trình lónh hội tri thức. Nhờ
quá trình phát triển các năng lực trí tuệ, ở học sinh đã nảy sinh những khả năng mới
giúp các em nắm kiến thức tốt hơn, đảm bảo chất lượng cao của việc học tập.
Thường bắt nguồn từ sự nắm chưa vững, chưa thể phân biệt rõ ràng những
nét có lúc khác biệt hoàn toàn có lúc lại tương tự, tương đồng giữa hai ngôn ngữ
cùng hệ La Tinh này dẫn đến việc lẫn lộn, áp dụng những quy luật, ngữ pháp… của
ngôn ngữ này vào ngôn ngữ khác gây ra sự sai lệch, không đúng đắn trong việc học
và sử dụng ngoại ngữ.
• Những dạng nhầm lẫn thường gặp giữa Tiếng Anh và Tiếng Pháp:
Do cùng ngữ hệ La Tinh nên giữa hai ngôn ngữ này có những nét giống,
tương tự nhau có thể nhận thấy rất rõ nhưng bên cạnh đó chúng có những đặc trưng
riêng mà nếu không tìm hiểu, phân biệt rõ ràng chúng ta sẽ dễ mắc những sai lầm
có lúc nhỏ nhặt nhưng có lúc lại nghiêm trọng phụ thuộc vào mức độ khác nhau giữa
chúng (khác biệt vài điểm hay khác biệt hoàn toàn…). Ở đây, trong bài nghiên cứu
này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số nhầm lẫn phổ biến về các vấn đề sau: cách phát
âm, danh từ, tính từ, động từ, tính từ sở hữu, trạng từ, “c’est” hay “il est”.
Khi lónh hội hai ngôn ngữ này cùng lúc, người học không thể tránh khỏi những
thắc mắc, trăn trở. Sau đây là hai câu hỏi phổ biến cùng lời giải đáp (được chọn lọc
từ quyển Tự học và sử dụng ngoại ngữ của Nguyễn Duy Côn) sẽ giúp ta có thể hiểu
rõ hơn mối liên quan giữa hai ngôn ngữ rất dễ nhầm lẫn này:
• Tại sao Tiếng Anh và Tiếng Pháp lại có nhiều từ viết giống nhau?
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu sơ lược nguồn gốc của Tiếng Anh và
Tiếng Pháp. Chúng đều thuộc họ các ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European family). Tuy
nhiên, Tiếng Anh lại thuộc nhánh các ngôn ngữ Giecman (Germanic languages)
gồm các tiếng Bắc Âu, Đức, Hà Lan…, còn Tiếng Pháp lại thuộc nhánh Roman
(Romance languages) gồm các tiếng dẫn xuất từ tiếng La tinh dân gian thời đế chế
La Mã như Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani… Về lòch sử, năm 1066, người
Norman ở Pháp xâm chiếm Anh và đưa Tiếng Pháp vào Anh, nhập với tiếng gốc
Anglo-Saxons (gốc thổ âm Giecman) dần dần tạo thành tiếng Anh. Về đòa lý, nước
Anh chỉ cách nước Pháp bằng eo biển Manche. Vì vậy, quan hệ Anh, Pháp rất gần
pháp khắc phục để sinh viên không nản.
- Vạch cho người học một kế hoạch thời gian, tư vấn về tài liệu tối thiểu cần
có, căn cứ vào khả năng tiếp thu ngoại ngữ của họ.
II/
Kết quả khảo sát:
1)
Đặc điểm tình hình trường ĐHAG:
1.1 Tình hình chung
- Ban Giám Hiệu và các phòng ban phối hợp chặt chẽ, hoạt động hiệu quả.
- Trường có quy mô lớp học, giảng đường rộng rãi, đủ tiện nghi phục vụ
hiệu quả cho việc học.
11
- Trường có thư viện điện tử hiện đại hỗ trợ đắc lực cho việc học của sinh
viên.
- Đội ngũ giảng viên đông đảo, nhiệt tình, giàu kinh nghiệm.
- Ngoài các giờ học chính khoá, các khối, khoa, trường còn tổ chức các
hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao lành mạnh cho sinh viên vui chơi, giải trí…
1.2 Tình hình cụ thể
*
Những thuận lợi và khó khăn liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
- Thuận lợi:
+ Giáo viên giảng dạy Tiếng Pháp có chuyên môn cao, giàu kinh
nghiệm.
+ Tất cả các sinh viên khối ngoại ngữ đều được học Tiếng Pháp trong
chương trình đào tạo (hiện nay là các sinh viên thuộc các lớp 1D1, 1D2, 1D3, 2D,
3D1, 3D2).
+ Nội dung giảng dạy là bộ giáo trình Tiếng Pháp Le Nouveau Sans
Frontières 1 (Le NSF 1) đảm bảo việc học ngôn ngữ cho sinh viên vì có nhiều bài
- Từ vựng của cả hai ngôn ngữ đều cấu thành bởi hệ thống 26 chữ cái
thuộc ngữ hệ La tinh : A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U,
V, W, X, Y, Z
- Có những từ giống nhau cả hình thức và ngữ nghóa (important: quan
trọng, football: bóng đá…) hoặc tương tự nhau dẫn tới việc khi tiếp xúc các từ mới
Tiếng Pháp lần đầu, sinh viên chuyên ngành Anh văn vẫn có thể đoán được chính
xác nghóa của chúng (actor (A) / acteur (P): diễn viên, professor (A) / professeur
(P): giáo sư, blue (A) / bleu (P): màu xanh da trời…).
- Tiếng Anh và Tiếng Pháp có nhiều âm tương tự (như âm[∂] trong
recevoir (P) và strawberry(A)…)
2.1.2 Khác:
- Cách phiên âm các kí tự trong bảng chữ cái khác nhau.
Ví dụ : - Tiếng Anh : A [ei], B [bi ] , C [si] …
- Tiếng Pháp : A [a] , B [be], C [se] …
- Mặc dầu có cùng số lượng chữ cái nhưng số lượng âm trong Tiếng
Anh và Tiếng Pháp khác nhau:
Ở Tiếng Anh, có 44 âm chia thành :
Vowels (nguyên âm) : i: , i,
ª,
∗, e, ∂,:,
C
:,
ỉ,٨,
⎯, ◊
, I
∂,e
I,
ς,
0, Ω, Φ, ϒ, .
Consonants (phụ âm) : p, b, t, d, , d¦, k, g, f, v, θ, ð,s,z,∫,
yêu cầu nhưng
demander (P) [d(
∂)mãde]:
xin,
thỉnh cầu.
- Có những âm Tiếng Anh không tồn tại trong Tiếng Pháp và ngược
lại, trong khi đó một số âm Tiếng Pháp có chứa một số nguyên âm và phụ âm lại
13
khác với âm Tiếng Anh có chứa cùng nguyên âm và phụ âm (chẳng hạn, không có
âm [h] trong Tiếng Pháp, ch trong Tiếng Pháp giống âm [∫] Tiếng Anh).
Ngoài ra, trong Tiếng Pháp có những phụ âm được phát âm khác đi khi nguyên
âm đi kèm theo sau thay đổi (trích Tiếng Pháp hướng dẫn tự học của nhóm biên
dòch Nhân Văn):
c khi đứng trước các nguyên âm e, i, y thì phát âm [s] như: ce,
merci…) nhưng khi đứng trước các nguyên âm o, a, u thì phát âm [k] như: café,
compétent.
g khi đứng trước các nguyên âm e, i, y thì phát âm [¦] như:
garage nhưng khi đứng trước các nguyên âm a, o, u thì phát âm [g] như : garage.
gn được phát âm [л]như: renseignement.
ll khi thì được phát âm [j] như: travailler, khi thì phát âm [l]
như: ville.
qu được phát âm [k] như : que, quelle, musique.
x khi đứng trước phụ âm thì phát âm [ks] như: excellent nhưng
khi đứng trước nguyên âm thì phát âm [gz] như: examen.
- Trong Tiếng Anh, việc nối phụ âm kết thúc một từ với nguyên
âm bắt đầu từ theo sau có hiện hữu nhưng không bắt buộc và thường xảy ra khi giao
tiếp ở tốc độ nhanh trong ngôn ngữ thường ngày (rapid colloquial speech). Ví dụ: I
like him [laik’im].
- f thành v. Ví dụ: neuf ans
2.1.3 Sự nhầm lẫn :
Do không nắm số lượng và cách đọc các âm của từng ngôn ngữ (có sự
khác biệt rất rõ) dẫn đến việc phát âm sai mà phổ biến nhất, thường gặp nhất là
dùng cách phiên âm Tiếng Anh để phát âm các từ Tiếng Pháp (chiếm số lượng
63,8%) (câu 4).
Ví dụ : apartment (TA) [
∂’p⎯tm∂nt]
Tiếng Pháp có từ appartement, sinh viên phát âm[
∂’p⎯tm∂nt] q
uen thuộc theo
Tiếng Anh thay vì phải đọc [apa
R
t
∂
mã].
2.1.4 Thực trạng và giải pháp khắc phục :
- Thứ nhất, do sinh viên còn dành ít sự đầu tư cũng như chưa có phương
pháp học tích cực môn Tiếng Pháp (35,3% không có tự điển Tiếng Pháp (câu 5), chỉ
19% xem lại bài học ngay ở nhà sau buổi học chính thức còn phần đông còn lại ôn
bài trước ngày có tiết học tới hoặc trước kiểm tra, các kì thi… (câu 33)) nên kết quả
là việc nhầm lẫn xảy ra khá thường xuyên. Từ đây hướng khắc phục hiệu quả cho
sinh viên là:
+ cần xem lại bài ở nhà ngay trong ngày hôm đó vì nếu ôn lại trong
ngày thì những thông tin này sẽ khắc sâu vào tâm trí và ở giờ học chính thức kế tiếp
ta sẽ dễ dàng tiếp thu bài học.
+ cần trang bò thêm các sách, tài liệu về Tiếng Pháp (có liên quan
hoặc mở rộng thêm chương trình học ở lớp) sau đó so sánh với những kiến thức đã có
] a dài
[e] e kín
[ε] e mở
[ i] i ngắn hay dài
[
C
] o mở
[o] o kín
[u] ou
[y] u
[œ] eu mở
[ø] eu kín
[∂ ] e câm
lac
moi, moyen, moelle
bas, pâte, paille, douceâtre
froid, poêle
été, chanter, pays, je chantai,
oedème, oenologie, oedipe
eu,
oeu, oe(i)
eu, ẻ, oeu
e
Nguyên âm thuộc về
mũi
(voyelles nasales)
[ã] a mũ an, champ, en, emballé,
paon, taon, faon
an, am, en, em
aon
16