tiểu luận mối QUAN hệ NHÂN QUẢ GIỮA sự PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN và TĂNG TRƯỞNG KINH tế - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI
MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ
GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Mộng Tuyết
Lớp: Tài chính doanh nghiệp 01 – K23
Nhóm thực hiện: Nhóm 3
TP. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2014
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
DANH SÁCH NHÓM 3
STT MSHV Họ tên
1 7701230289 Lê Thị Huyền Anh
2 7701230493 Lê Văn Hiển
3 7701230533 Thái Thị Cẩm Hợp
4 7701230744 Huỳnh Thanh Nhân
5 7701230835 Hoàng Xuân Quý
Nhóm 3 – TC01 – K23
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
Mục lục
Lời mở đầu 1
Phần 1:Tóm tắt nội dung cơ bản của bài nghiên cứu 2
1.4.1Dữ liệu 12
1.4.2Kiểm định mối quan hệ nhân quả 12
Phần 2:Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam 18
2.1.Dữ liệu và các biến 18
2.2.Phương pháp nghiên cứu 19

đưa ra một số mô hình để làm rõ mối quan hệ này, dựa trên bài nghiên cứu “Stock
market development and economic growth:

the causal linkage”, Guglielmo Maria
Caporale, Peter G. A Howells, và Alaa M. Soliman (2004).
Bài viết gồm 2 phần:
Phần 1: Tóm tắt nội dung cơ bản của bài nghiên cứu.
Phần 2: Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam.
Nhóm 3 – TC01 – K23 1
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
Phần 1: Tóm tắt nội dung cơ bản của bài nghiên cứu
Bài viết đề cập đến vấn đề: Liệu sự phát triển của thị trường chứng khoán có phải
là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế? Để trả lời cho câu hỏi trên, bài viết xem
xét các mối liên hệ nhân quả giữa sự phát triển của thị trường chứng khoán, sự phát
triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Lập luận của bài nghiên cứu cho rằng tự do hóa
tài chính sẽ dẫn đến tiết kiệm hoặc đầu tư hoặc tăng trưởng, hoặc sự phát triển của
trung gian tài chính sẽ dẫn đến sự tăng trưởng, tuy nhiên nếu kết luận này được rút ra
từ kết quả của kiểm định quan hệ nhân quả hai biến thì có thể không hợp lệ, do có thể
bỏ qua biến quan trọng. Do đó, phần thực nghiệm của bài nghiên cứu này lựa chọn áp
dụng phương pháp phân tích kỹ thuật được phát triển gần đây bởi Toda và Yamamoto
(1995) để kiểm tra quan hệ nhân quả trong VAR, và nhấn mạnh nguy cơ loại trừ các
biến không phù hợp. Các bằng chứng thu thập từ mẫu bao gồm 7 quốc gia cho thấy
rằng thị trường chứng khoán phát triển tốt có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài
hạn. Nó ủng hộ lý thuyết cho rằng thị trường chứng khoán hoạt động tốt có thể thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách cung cấp phương tiện cho sự tăng trưởng thông qua
tích lũy vốn nhanh hơn và thông qua phân bổ nguồn lực tốt hơn.
1.1. Giới thiệu – Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Gurley và Shaw (1955) là những người đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ giữa thị
trường tài chính và hoạt động kinh tế. Họ cho rằng một trong những sự khác biệt giữa
các nước phát triển và đang phát triển là hệ thống tài chính của các nước phát triển thì

King và Levine (1993) sử dụng các thước đo khác nhau về sự phát triển ngân hàng
tại một số nước, đã cho thấy rằng phát triển ngành ngân hàng có thể thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn. Boyd và Prescott (1986) và Stiglitz (1985) đã lập luận
rằng sự phát triển lĩnh vực ngân hàng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì các ngân hàng tốt hơn so với thị trường chứng khoán
trong việc phân bổ nguồn lực. Arestis et al. (2001) cho thấy trong khi các ngân hàng và
thị trường chứng khoán đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng, tác
động của sự ngành ngân hàng vào tăng trưởng kinh tế trong dài hạn là cao hơn nhiều so
với thị trường chứng khoán.
Nhóm 3 – TC01 – K23 3
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
1.1.2 Các nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của thị trường chứng khoán đối với
tăng trưởng kinh tế
Gần đây, sự quan tâm dần chuyển hướng sang các thị trường chứng khoán và tác
động của thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế. Sự phát triển thị trường
chứng khoán đã trở thành chủ đề nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm chuyên sâu (xem
Demirguc-Kunt và Levine (1995), Levine và Zervos (1993, 1995, 1998)). Về nguyên
tắc, thị trường chứng khoán phát triển tốt sẽ làm tăng tiết kiệm và hiệu quả phân bổ vốn
đầu tư, dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế. Thị trường chứng khoán đóng góp vào việc huy
động tiết kiệm trong nước bằng cách tăng cường tập hợp các công cụ tài chính sẵn có
để đa dạng hóa danh mục đầu tư. Khi làm như vậy, nó sẽ cung cấp một nguồn vốn đầu
tư quan trọng với chi phí tương đối thấp (Dailami và Aktin (1990)).
Trong một thị trường chứng khoán phát triển tốt, sở hữu cổ phần giúp cá nhân có
một tài sản tương đối thanh khoản để chia sẻ rủi ro khi đầu tư vào các dự án đầy hứa
hẹn. Thị trường chứng khoán giúp các nhà đầu tư đối phó với rủi ro thanh khoản bằng
cách cho phép những người đang gặp vấn đề trong thanh khoản bán cổ phần của họ cho
nhà đầu tư khác (những người không bị cú sốc thanh khoản). Kết quả là tiền vốn không
bị rút khỏi các công ty để đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn.
Hơn nữa, thị trường chứng khoán đóng một vai trò quan trọng trong việc phân bổ
vốn cho khu vực doanh nghiệp nên sẽ có tác động thực sự đến toàn thể nền kinh tế. Vay

Nhóm 3 – TC01 – K23 5
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
1.2. Phát triển tài chính, thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế
Việc phân bổ nguồn vốn hiệu quả nhất được thực hiện bằng cách tự do hóa thị
trường tài chính và để thị trường phân bổ nguồn vốn. Nhưng nếu thị trường tài chính
chỉ bao gồm các ngân hàng, thị trường sẽ không đạt được phân bổ vốn hiệu quả do
thiếu nguồn vốn vay khi thông tin bất cân xứng. Vì vậy, việc phát triển thị trường
chứng khoán là cần thiết để đạt được sự phân bổ vốn hiệu quả hoàn toàn nếu chính
phủ tự do hóa tài chính.
Lập luận ở đây là nếu tăng trưởng kinh tế là một hàm của phát triển thị trường
chứng khoán và phát triển tài chính cũng là một hàm của phát triển thị trường chứng
khoán, khi đó ít nhất sẽ có một giả thuyết hợp lý cho rằng thị trường chứng khoán gây
ra cả phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, với những tác động có thể được tóm
tắt như sau.
Cho x và y biểu thị tương ứng cho phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế và
giả định rằng kiểm định hai biến trước đây chỉ ra một số mối quan hệ nhân quả giữa
chúng. Bây giờ hãy tưởng tượng một biến thứ ba w (GDP cho thời điểm này) đã bị loại
bỏ khỏi mô hình nhưng có thể có quan hệ nhân quả với x và y trong nhiều trường hợp.
Nếu w không gây ra x hoặc y, không có vấn đề gì và những suy luận rút ra trước đó là
hợp lệ. Tuy nhiên, khó khăn bắt đầu nếu w gây ra x hoặc y, hoặc cả hai (xem Caporale
và Pittis (1997). Trong những trường hợp này, thì:
• Nếu w ảnh hưởng đến cả x và y, suy luận về quan hệ nhân quả giữa x và y là
không có giá trị trong cả hai hướng;
• Nếu w chỉ ảnh hưởng đến x (hoặc y), suy luận về quan hệ nhân quả là có giá trị
theo một hướng, y gây ra x (hoặc x gây ra y).
Mô hình này có thể được sử dụng để phân tích các mối liên hệ nhân quả giữa phát
triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, và thị trường chứng khoán (như là biến tiềm năng
bị bỏ sót, w). Nghiên cứu của Levine và Zervos (1993), Atje và Jovanovic (1993),
Levine và Zervos (1998), Rousseau và Wachtel (2000) và Beck và Levine (2003) cho
thấy rằng sự phát triển thị trường chứng khoán có tương quan mạnh mẽ với tốc độ tăng

thể, họ xây dựng trung bình năm năm để lọc những biến động mang tính chu kỳ, và sử
dụng ba phiên bản ước lượng bảng hệ thống khác nhau được phát triển bởi Arellano và
Bover (1995), đã được chứng minh là có một hiệu suất cao cả về tính nhất quán và
hiệu quả. Tuy nhiên, tất cả ba phiên bản vẫn còn phát sinh một số vấn đề. Đặc biệt,
ước lượng một bước yêu cầu các sai số có phương sai không đổi, điều này không phải
Nhóm 3 – TC01 – K23 7
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
là một giả định phù hợp với thực nghiệm (empirically supported assumption); các ước
lượng hai bước dựa trên sai số chuẩn có phương sai thay đổi (heteroscedasticity-
consistent standard errors), nhưng hiệu suất mẫu hữu hạn (finite sample performance)
của nó có khả năng bị ảnh hưởng bởi “over-fitting”, với các giá trị tới hạn thực nghiệm
của kiểm định thống kê tương ứng là rất khác nhau so với giá trị tiệm cận; cuối cùng,
ước lượng thay đổi (modified estimator) được giới thiệu bởi Calderon và cộng sự
(2000) làm giảm các vấn đề trên, nhưng ngụ ý sự mất mát của một quan sát. Do đó,
không phải là hoàn toàn bất ngờ khi các kết quả thực nghiệm của các ước lượng này
không phải là luôn luôn nhất quán. Theo đó, Beck và Levine (2003) không thể xác
định những đóng góp độc lập của thị trường chứng khoán và các ngân hàng đối với
tăng trưởng kinh tế, mặc dù phân tích của họ thật sự cho thấy sự phát triển tài chính
nói chung là có lợi cho tăng trưởng.
Cuối cùng, Bekaert và cộng sự (2003) sử dụng ước lượng biến công cụ để làm
giảm OLS gộp với các giả định đơn giản hóa trên ma trận trọng số. Họ tập trung vào tự
do hóa tài chính và kết luận rằng tự do hóa thị trường cổ phiếu dẫn đến một sự gia tăng
một phần trăm trong tăng trưởng kinh tế thực hàng năm trong khoảng thời gian năm
năm với nhiều đại diện tiêu biểu của các nước phát triển và mới nổi. Tuy nhiên, một
lần nữa có một số khó khăn về mặt kinh tế lượng phát sinh từ cách tiếp cận dữ liệu
bảng của họ. Ví dụ, kết quả phụ thuộc đến mức độ nào trên ma trận trọng số, định
nghĩa thích hợp ma trận là không giống nhau nếu một giả định phương sai thay đổi
giữa các quốc gia và thời gian, phương sai thay đổi nhóm, chồng chéo quan sát,v.v.
Ngoài ra, việc lựa chọn khoảng thời gian, và sai lệch biến bị bỏ qua (omitted variable
bias) (xem Mankiw (1995)) có thể ảnh hưởng đến kết quả của họ. Thậm chí quan trọng

tính hoặc phi tuyến tính được thực hiện trên hệ số ma trận K đầu tiên như sau:
Xem xét các VAR sau
Z
t
= Φ + Φt + Π
1
Z
t

1
+ + Π
k
Z
t

k
+ E
t
, t = 1, KT (1)
Khi E
t
~ N (0,Ω)
Giả thuyết kinh tế có thể được thể hiện (diễn tả) như là những hạn chế về các hệ số
của mô hình như sau:
H
0
: f (
π
) = 0 (2)
Khi

+ Φ
ˆ
1
t + Π
ˆ
1
Z
t

1
+ + Π
ˆ
k
Z
t

k
+ Π
ˆ
k
+
1
Z
t

k

1
+ Π
ˆ

t
+ Ψ
ˆ
y
t
+ E
ˆ
t (4)
Khi
Φ
ˆ = [
Φ
ˆ
0
,
Φ
ˆ
1
]
τ
t
= [1, t]
x
t
= [Z
t


1
, , Z

n
]
Ψ
ˆ
=

ˆ
k+1
,…, Π
ˆ
p
]
Hoặc, trong ký hiệu ma trận thông thường:
Z

= Φ
ˆ
T + P
ˆ
X

+ Ψ
ˆ
Y

+ E
ˆ

(4
a)

}F (
φ
ˆ
)

]

1
f (
φ
ˆ
) (5)
Khi
Σ
ˆ
E
= T
-1
Ê’Ê, = Q
τ −
Q
τ
Y(Y’Q
τ
Y)
-1
Y’ Q
τ
và Q
τ

Đào Nha. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm những nước có mẫu quan sát hàng quý liên
tục xuất hiện ít nhất 15 lần. Mẫu điều tra sẽ nằm trong giai đoạn 1977-1988. Đối với
sự phát triển của thị trường chứng khoán, chúng ta sẽ sử dụng 2 tiêu chuẩn đó là tỷ lệ
vốn hóa thị trường (bằng tổng giá trị cổ phần được niêm yết chia cho GDP) và tỷ lệ giá
trị giao dịch (bằng tổng giá trị cổ phần được giao dịch trên thị trường chứng khoán
chia cho GDP). Tỷ số giữa tiền gửi ngân hàng và GDP danh nghĩa và tỷ lệ khoản vay
dành cho khu vực tư nhân trên GDP danh nghĩa được xem là đại diện cho sự phát triển
của ngân hàng. Khi phân tích dữ liệu chéo, chúng ta thường sử dụng GDP làm thước
đo sự phát triển của nền kinh tế. Theo Demetriades và Hussein (1996), GDP được
dùng để đo lường đồng tiền nội địa. Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, GDP không
nhằm so sánh sự phát triển của các nước mà cho thấy xu hướng phát triển qua thời
gian của các nước. Nguồn dữ liệu cho biến sự phát triển thị trường chứng khoán lấy từ
Dữ liệu các thị trường mới nổi (Emerging Market Data Base (1998)) và các biến phát
triển tài chính được lấy từ số liệu thống kê quốc tế của IMF.
1.4.2 Kiểm định mối quan hệ nhân quả
Theo Toda và Yamamoto (1995), bước đầu tiên là xác định VAR, bắt đầu bằng
việc ước tính VAR, sau đó xét độ trễ tại một thời điểm. Phương pháp AIC và SIC
được sử dụng trong việc lựa chon chiều dài độ trễ của VAR. Hơn nữa, kiểm định sai
số được thực hiện cho tương quan chuỗi, trạng thái thường và cấu trúc ARCH trong sự
chênh lệch của VAR. Kết quả được báo cáo trong Bảng 2 (Phụ lục). Kiểm định
nghiệm đơn vị cho thấy chuỗi dữ liệu gọi là tích hợp bậc 1, do đó dẫn đến khuynh
hướng ngẫu nhiên.
Bước kế tiếp sẽ tăng giá trị VAR bằng việc tăng tích hợp bậc cao nhất của dữ liệu.
Trong trường hợp này, biến này được coi như là tích hợp bậc I. Vì thế, khi tăng VAR
của 2 biến thông qua độ trễ và kiểm định bởi giới hạn bằng 0 và không có mối quan hệ
nhân quả cho các tham số của VAR ban đầu bằng việc thực hiện kiểm định Wald tại
ma trận hệ số K. Kết quả từ kiểm định mô hình 2 biến cho thấy không có mối quan hệ
Nhóm 3 – TC01 – K23 12
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
nhân quả trên sự liên kết giữa thu nhập thực và các chuỗi dữ liệu tài chính, cụ thể là

Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
các mối quan hệ nhân quả giữa tiền gửi ngân hàng và tăng trưởng kinh tế, tiền gửi
ngân hàng có tác động quan hệ nhân quả đến tăng trưởng kinh tế ở 3/6 trường hợp (Hy
Lạp, Hàn Quốc, và Bồ Đào Nha), trong khi có 3/6 trường hợp tăng trưởng kinh tế có
tác động nhân quả đến tiền gửi ngân hàng (Hàn Quốc, Malaysia, và Philippines). Kiểm
tra Wald trong mô hình 3 biến cũng phát hiện mối quan hệ nhân quả từ vốn hóa thị
trường đến tăng trưởng kinh tế trong 4 trường hợp (Chile, Hy Lạp, Malaysia, và
Philippines).
Chuyển sang nhóm các biến đại diện cho phát triển thị trường chứng khoán thứ
hai, giá trị tỷ lệ giao dịch, kiểm tra quan hệ nhân quả cho thấy nó có tác động nhân quả
đến tăng trưởng kinh tế trong 5 trường hợp ở mức ý nghĩa 5% (Italia, Hy Lạp, Hàn
Quốc, Malaysia, và Philippines). Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành kiểm định Wald để
kiểm tra giả thuyết không có quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và phát triển
thị trường chứng khoán. Mối quan hệ nhân quả giữa vốn hóa thị trường với cả tiền gửi
ngân hàng và tín dụng trong nước chỉ được tìm thấy trong 1/7 trường hợp (Malaysia).
Mối quan hệ nhân quả giữa giá trị giao dịch với cả tiền gửi ngân hàng và tín dụng
trong nước dường như chỉ tồn tại ở Argentina, nơi mà giá trị giao dịch dường như ảnh
hưởng đến tín dụng trong nước tại mức ý nghĩa 5%.
Vì vậy, cho thấy một mối tương quan mạnh mẽ giữa phát triển thị trường chứng
khoán được đo bằng giá trị cổ phiếu tỷ lệ giao dịch (tức là, thanh khoản thị trường) và
tăng trưởng kinh tế. Kết quả này ủng hộ những phát hiện của Levine và Zervos (1998)
và Rousseau và Wachtel (2000) rằng có một mối quan hệ đáng kể giữa phát triển thị
trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế. Không giống như các nghiên cứu của
Levine và Zervos (1998), đóng góp của tác giả cho thấy rằng có tồn tại một mối quan
hệ nhân quả giữa hai biến, cụ thể là phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng
kinh tế.
Nhóm 3 – TC01 – K23 14
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
Mô hình ước tính trong VAR hai biến là:
Mô hình ước tính trong VAR hai biến là:

dụng trong nước gây ra tăng trưởng kinh tế vẫn giữa nguyên trong mô hình ba biến
trong trường hợp của Hy Lạp, Hàn Quốc và Philippines (mặc dù không phải của Chile,
và Bồ Đào Nha). Tương tự như vậy, kết quả mô hình hai biến mà tăng trưởng tác động
đến tín dụng ngân hàng cũng được xác nhận bởi mô hình ba biến trong trường hợp của
Chile, Hàn Quốc, Malaysia, và Philippines.
Liên quan đến quan hệ nhân quả giữa tiền gửi ngân hàng và tăng trưởng kinh tế,
các kiểm định quan hệ nhân quả hai biến cho thấy tiền gửi ngân hàng tác động nhân
quả đến tăng trưởng chỉ có 2 trường hợp (Hàn Quốc, và Bồ Đào Nha). Trong khi ở mô
hình ba biến, quan hệ nhân quả này được phát hiện thêm trong trường hợp của Hy Lạp
và Philippines.
1.5. Kết luận
Bài viết nghiên cứu vai trò quan trọng của phát triển thị trường chứng khoán trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tác giả đã lập luận rằng các nghiên cứu
trước đây không xem phát triển thị trường chứng khoán như là một biến độc lập nên có
thể đưa ra kết quả sai lệch, do việc bỏ sót một biến có liên quan trong mô hình quan hệ
nhân quả (xem Caporale và Pittis (1997)).
Để nhấn mạnh sự khác biệt trong kết quả mà có thể do có 1 biến bị bỏ qua trước
đây, đầu tiên, tác giả thực hiện các kiểm định quan hệ nhân quả trong mô hình hai
biến, tìm kiếm các mối quan hệ nhân quả giữa các biến đại diện cho phát triển tài
chính (tín dụng trong nước và tỷ lệ tiền gửi ngân hàng) và kinh tế tăng trưởng. Trên cơ
sở này, tác giả tìm thấy ít bằng chứng về quan hệ nhân quả. Giữa tín dụng trong nước
và tăng trưởng kinh tế, tác giả tìm thấy bằng chứng của quan hệ nhân quả chỉ có ở 2/7
nước; khi thử nghiệm cho quan hệ nhân quả giữa tiền gửi ngân hàng và tăng trưởng
Nhóm 3 – TC01 – K23 16
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
kinh tế, tác giả tìm thấy bằng chứng cho 3 quốc gia. Đây là bằng chứng ủng hộ cho giả
thuyết rằng có một mối quan hệ nhân quả giữa tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Nhưng lo ngại những phát hiện này có thể bị sai lệch do sự bỏ sót biến quan trọng
nên tác giả đã kiểm định quan hệ nhân quả trong một mô hình 3 biến, giữa phát triển
tài chính, phát triển thị trường chứng khoán, và tăng trưởng kinh tế. Tình hình đã thay

LNGDP: thể hiện cho chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu lấy số liệu GDP
thực (tính theo giá so sánh 1994) để loại bỏ ảnh hưởng của yếu tố lạm phát.
LNVNINDEX: thể hiện tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán. Trong
suốt giai đoạn nghiên cứu, chỉ số VN-INDEX đợt 3 mỗi ngày sẽ được thu thập và
dùng để tính VN-INDEX trung bình quý như sau:
VN-INDEX hàng quý =
Trong đó: n là số ngày có giao dịch trong quý
Nhóm 3 – TC01 – K23 18
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình từ hồi quy véctơ để kiểm định mối quan hệ nhân quả
giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế. Mô hình VAR xem xét mối quan
hệ giữa các chuỗi thời gian khác nhau. Mô hình thực nghiệm theo VAR cho nghiên
cứu này như sau:
LNGDPt=βi*LNGDPt-i+βj*LNINDEXt-i+εtεt
Khi nghiên cứu các dữ liệu theo chuỗi thời gian, việc kiểm tra tính dừng hay
không dừng của chuỗi dữ liệu thời gian là cần thiết. Chúng ta phải kiểm định tính dừng
của chuỗi dữ liệu thời gian vì nếu tiến hành hồi quy một chuỗi không dừng lên một
chuỗi khác có thể gây ra hiện tượng hồi quy giả. Nghiên cứu sử dụng kiểm định ADF,
Phillip-Peron và KPSS để kiểm định tính dừng. Tuy nhiên, nếu tổ hợp tuyến tính giữa
các chuỗi không dừng là một chuỗi dừng thì hồi quy là hồi quy thực và các chuỗi thời
gian không dừng đó được cho là đồng liên kết. Nói cách khác, nếu phần dư trong mô
hình giữa các chuỗi thời gian không dừng là một chuỗi dừng, thì kết quả hồi quy là
thực và thể hiện mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình. Bài
nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liên kết dựa trên phương pháp VAR của Johansen
Juselius (1990).
Kiểm định nhân quả Granger được tiến hành để nghiên cứu chiều hướng tác động
giữa các biến: X tác động một chiều lên Y, Y tác động một chiều lên X hay cả 2 đều
có tác động qua lại lẫn nhau. Phương pháp của Granger dựa trên nguyên tắc nếu biến
X gây ra biến Y thì một tỷ lệ giá trị Y tại thời điểm nghiên cứu phải được giải thích

ADF ADF PP PP
(chặn)
(chặn và
xu hướng) (chặn)
(chặn và xu
hướng)
Chuỗi
gốc
LNGDP
-1.733109 -1.145571 -3.889626* -21.35452*
LNVNINDEX
-3.024662** -2.697328 -1.935932 -1.570635
Sai phân
bậc 1
LNGDP
-1.416085 -2.146664 -36.82980* -3596831*
LNVNINDEX
-4.621524* -4.786727* -4.620037* -4.754740*
Nguồn: Tổng hợp kết quả truy xuất từ Eviews
Ghi chú: *, ** thể hiện có khả năng bác bỏ giả thuyết H
O
ở mức ý nghĩa lần lượt là
1%, 5%.
Ta thấy cả hai kiểm định ADF và PP đều cho ra kết quả rằng biến LNVNINDEX
không dừng ở chuỗi gốc mà dừng ở sai phân bậc một ở mức ý nghĩa 1%. Đối với biến
LNGDP, kết quả kiểm định ADF và PP cho kết quả trái ngược nhau. Để đi đến kết
Nhóm 3 – TC01 – K23 20
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
luận, ta xem xét thêm kết quả kiểm định Kwiatkowski-Philips-Schmidt-Shin (KPSS)
cho biến LNGDP.

5 145.6134 13.03753* 2.50e-06* -7.271375* -6.283730* -6.934560*
6 148.2382 3.242444 2.80e-06 -7.190483 -6.023266 -6.792429
*Độ trễ được chọn theo mẫu tiêu chuẩn
Nguồn: Kết quả truy xuất từ phần mềm Eviews
Nhóm 3 – TC01 – K23 21
Tiểu luận Thị trường tài chính GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
Bảng 5: Kết quả Kiểm định đồng liên kết
Mẫu (đã được điều chỉnh): 2004Q3 2012Q4
Số quan sát sau khi điều chỉnh: 34
Chuỗi dữ liệu: LNGDP LNVNINDEX
Khoảng độ trễ (sai phân bậc nhất): 1 to 5
Giả thuyết Giá trị Giá trị Trace Giá trị tới hạn Xác suất p**
Không có đồng liên kết* 0.440222 22.48072 15.49471 0.0038
Có 1 đồng liên kết 0.077790 2.753385 3.841466 0.0970
Kiểm định Trace cho thấy có 1 mối quan hệ đồng liên kết ở 5%
*Bác bỏ giả thuyết ở 5%
** Giá tri p MacKinnon-Haug-Michelis (1999)
Nguồn: Kết quả truy xuất từ phần mềm Eviews
Bảng 5 cho thấy các biến có đồng liên kết và mối quan hệ đồng liên kết này đã loại
bỏ hiện tượng hồi quy không xác thực, đồng thời xác nhận có một mối quan hệ nhân
quả Granger.
Bảng 6: Kết quả kiểm định nhân quả Granger
Kiểm định nhân quả Granger theo từng cặp
Mẫu: 2003Q1 2012Q4
Độ trễ: 5
Giả thuyết H
O
: Số quan sát F-Statistic Prob.
LNVNINDEX does not Granger Cause LNGDP 35 3.48974 0.0216
LNGDP does not Granger Cause LNVNINDEX 0.22039 0.8756


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status