ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ
BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
MÔN: NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ BỨC TRANH VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ CỦA
CÁC DÂN TỘC THUỘC BA NHÓM BA NA, KHƠ ME, KA TU
Giảng viên: Nguyễn Văn Hiệu.
Nhóm 5: Phạm Thị Nga
Vũ Thị Phương Ly
Phạm Nguyệt Minh
Nguyễn Hà Ngân
Nguyễn Thanh Ngà
Nguyễn Nhật Minh
Hà Nội 2013
MỞ ĐẦU
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Ngôn ngữ - văn hóa các dân tộc thiểu số là một khái niệm rất rộng. Nó vừa
có đối tượng là một ngôn ngữ cụ thể, vừa có đối tượng là những vấn đề ngôn ngữ
của cả một vùng lãnh thổ. Và liên quan tới vấn đề ngôn ngữ là vấn đề văn hóa.
1. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ - văn hóa các dân tộc thiểu số là một khái niệm rất rộng. Nó vừa
có đối tượng là một ngôn ngữ cụ thể, vừa có đối tượng là những vấn đề ngôn ngữ
của cả một vùng lãnh thổ. Và liên quan tới vấn đề ngôn ngữ là vấn đề văn hóa.
Nhắc đến ngôn ngữ, người ta có thể dễ dàng hình dung ra nó như một điều
hiển nhiên tồn tại trong đời sống của con ngươi và chẳng có lí do gì phải bận tâm
tìm hiểu xem “ngôn ngữ là gì”.
Tuy nhiên, chính cái “ điều không đáng bận tâm” đó lại là câu một câu hỏi
lớn mà cho tới hiện nay vẫn chưa có một câu trả lời nào thực sự chính xác và toàn
diện. Ở đây, để là rõ khái niệm về ngôn ngữ, chúng tôi có thể dẫn ra một số quan
điểm của một số nhà Ngôn ngữ học như sau:
UNESCO đưa ra, đó là văn hóa là sản phẩm của con người và là cội nguồn trực
tiếp của sự phát triển.
- Văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người
Văn hóa tộc người: văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố về tiếng nói,
chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lí tình
cảm, phong tục, lễ nghi,…khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc người
khác. Văn hóa tộc người là nên tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc người.
3
3
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Một dân tộc bị đồng hóa, tức là bị mất văn hóa riêng thì ý thức của tộc người trước
su gì cũng sẽ bị mai một.
Văn hóa tộc người trước tiên phải kể đến là ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, đặc
biệt là trang phục nữ, tín ngưỡng, lễ nghi, vốn văn hóa dân gian truyền miệng.
Văn hóa của tộc người: văn hóa của tộc người là tổng thể những hiện
tượng văn hóa trong diện mạo hiện tại của tộc người đó, không kể các yếu tố văn
hóa đó có sắc thái về tộc người hay trung tính về tộc thuộc
Theo “ Văn hóa văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam”- Ngô Đức Thịnh-
NXB KHXH 2006
3. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Ngôn ngữ và văn hóa - hai phạm trù tuy không bao giờ là một song lại có
mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau. “Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hóa,
đồng thời cũng là một hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất”. Thông
qua ngôn ngữ, bức tranh về thế giới của một tộc người sẽ được vẽ lên, và qua đó, ta
hiểu rõ hơn về văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng…của tộc người đó. Cũng
đồng thời, qua những trải nghiệm văn hóa xã hội dưới cái nhìn của cộng đồng, tộc
người cũng sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức nhất định, hiểu biết nhất
định về cách mà ngôn ngữ được sử dụng.
Bàn về vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng
tình rằng, khi nói tới ngôn ngữ, chúng ta không thể không xét tới cái nền văn hóa
của chúng tôi về ngôn ngữ và những nét đặc trưng văn hóa của các dân tộc thuộc
ba nhóm ngôn ngữ nằm trong nhánh Môn- Khơ me của họ ngôn ngữ Nam Á là Ba
Na, Khơ Me và Ka Tu.
Thuật ngữ chúng tôi sẽ sử dụng trong bài viết này sẽ là :
- Họ ngôn ngữ (family) dùng để chỉ khái niệm “ một họ ngôn ngữ là một tập
hợp nhiều ngôn ngữ mà giữa chúng có thể xác lập được những nét chung cho phép
giải thích chúng cùng dẫn xuất từ một dạng thức cội nguồn theo những quy luật
nhất định” - Trần Trí Dõi
- Nhánh ngôn ngữ là một bộ phận của họ ngôn ngữ nhất định bao gồm
những ngôn ngữ có những nét giống nhau nhiều hơn những ngôn ngữ thuộc bộ
phận khác hay một nhánh khác trong cùng một họ
- Nhóm ngôn ngữ là những bộ phận ngôn ngữ mỗi nhánh có sự gần gũi nhau
nhiều hơn so với những ngôn ngữ nằm trong nhóm khác của cùng một nhánh.
Có thể trong bài viết của chúng tôi bắt gặp những thuật ngữ như “ngữ hệ”,
“chi”…của các học giả khác nhau.
1.Bức tranh về ngôn ngữ và văn hóa
1.1 Về ngôn ngữ
Số lượng tộc người nói các ngôn ngữ thuộc nhánh Môn- Khơ me bao gồm
21 tộc người, nhiều nhất so với số lượng các tộc người nói các ngôn ngữ thuộc các
nhánh khác trong họ ngôn ngữ Nam Á. “Ngôn ngữ của các tộc thuộc nhóm Môn-
Khơ me có sự thống nhất và gần gũi bởi khối lượng lớn các từ cơ bản, bởi cấu tạo
từ các tiền tố, hậu tố, bởi phương thức cấu tạo từ. Đó là các tộc bản địa ở Việt Nam
6
6
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
và Đông Dương, quen sinh sống ở môi trường cảnh quan đến sườn núi và cao
nguyên, canh tác nương rẫy là chính. Làng là tổ chức xã hội mang tính cộng đồng
cao. Xưa kia xã hội bị phụ thuộc vào các tộc láng giềng, tín ngưỡng đa thần, văn
hóa giữ lại nhiều tàn dư của xã hội nguyên thủy nên mang tính bản địa cao, ít chịu
ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa hay Ấn Độ (trừ Khơ Me)”- (Văn hóa văn hóa
Tiếng Giarai, một ngôn ngữ phổ thông vùng hoàn toàn không xuất hiện trong đời
sống của người Rơ năm. Tuy nhiên thì ra đến phạm vi xã thì tình hình lại có xu
hướng khác, tiếng Giarai được sử dụng nhiều hơn trong các công việc giao dịch
hành chính (Theo Phan Lương Hùng- tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Rơ
năm ở làng Le - tạp chí ngôn ngữ số 262, tháng 3/2011)
1.1.2 Nhóm Ba Na
- Đây là nhóm ngôn ngữ thuộc nhánh Môn- Khơ me có nhiều ngôn ngữ
thành phần nhất ở Việt Nam. Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở nước ta thuộc nhóm
này thì được chia làm hai tiểu nhóm là tiểu nhóm Bana Bắc và tiểu nhóm Ba na
Nam
Tiểu nhóm Ba Na Nam gồm năm ngôn ngữ là tiếng Kơ Ho, tiếng Mnông,
tiếng Xtiêng, tiếng Mạ và tiếng Chơ Ro.
Tiểu nhóm Ba na Bắc gồm sáu ngôn ngữ là tiếng Ba na, tiếng Xơ Đăng, tiếng
Hrê, tiếng Gié- Triêng, tiếng Co và tiếng Brâu
- Hầu hết các ngôn ngữ này đều không có chữ viết cổ, phần lớn chữ viết hiện
có đều được người phương Tây xây dựng trên cơ sở chữ La tinh.
8
8
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
- Việc xác định các thành phần ngôn ngữ cũng như sự phân chia, xác định
phương ngữ của mỗi ngôn ngữ trong nhóm cho tới nay vẫn chưa thực sự được
nghiên cứu, quan tâm, vẫn là một công việc còn bỏ ngỏ.
1.1.3 Nhóm Ka Tu
- Ở về phía Bắc của nhóm ngôn ngữ Ba Na, nhóm Ka Tu ở Việt Nam gồm
có ba ngôn ngữ thành viên, đó là ngôn ngữ của các dân tộc Bru- Vân Kiều, Tà Ôi,
Cơ Tu. Số lượng người nói ngôn ngữ thuộc nhóm Ka Tu ở Việt Nam là vào
khoảng 103 143 người ( 1989) trong đó tiếng Bru- Vân Kiều là ngôn ngữ có
nhiều người nói nhất
- Cũng như nhiều các ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác, các ngôn ngữ thuộc
nhóm này cũng không có chữ viết cổ, chữ viết hiện nay đều được người phương
người sau khi chết cũng là lực lượng siêu nhiên đầy quyền lực và bí ẩn. Ðó là
những đối tượng mà họ thờ cúng để cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn. Một
trong những lực lượng siêu nhiên được người dân thờ cúng nhiều nhất là thần lúa.
Họ cúng thần lúa vào ngày bắt đầu trỉa giống, khi lúa lên đòng, trước ngày tuốt
lúa để cầu mong một mùa rẫy bội thu
+ Người Khơ me
Thờ cúng: Tục hỏa thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp
"Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
10
10
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp, tín ngưỡng dân gian
như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok
ang bok). Ngoài ra, vẫn tồn tại những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo
trong đời sống (theo Làng văn hóa – du lịch các dân tộc Việt Nam-
www.vinaculto.vn)
- Sinh hoạt văn hóa
+ Người Rơ năm: lễ tết được tiến hành theo chu kỳ sản xuất hay chu kỳ đời
người đều có hiến tế các con vật như: gà, lợn hoặc trâu. Ngày lễ lớn nhất thường
được tổ chức sau khi thu hoạch mùa rẫy. Các gia đình trong làng làm lễ mừng kế
tiếp nhau, có thể mỗi ngày một gia đình hay 4-5 ngày một chủ hộ giết lợn, gà, thậm
chí tổ chức đâm trâu mời bà con trong làng tới dự. Sau lễ mừng lúa mới là thời
điểm diễn ra hàng loạt đám cưới của nam nữ thanh niên và lễ bỏ mả cho người đã
chết
Những làn điệu dân ca, những bài hát giao duyên của nam nữ thanh niên,
những câu chuyện kể của người già với bộ nhạc cụ gồm chiêng, trống và các loại
đàn, sáo được làm ra từ nguồn tre, nứa trong rừng là yếu tố chính tạo dựng nên
nền văn nghệ dân gian của cư dân nơi đây.
+ Người Khơ me : Người Khmer có các hình thức cư trú sau: tụ tập thành
các xóm, nền văn nghệ dân gian của cư dân nơi đây.làng (Phum, tróc) hoặc xen kẽ,
12
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
+ Phong tục, tập quán, tín ngưỡng: chế độ mẫu hệ là điều dễ nhận thấy ở
hầu hết các dân tộc trong tiểu nhóm ngôn ngữ này. Người phụ nữ là người có vai
trò quan trọng trong gia đình, trong hôn nhân thì đóng vai trò chủ động, sau khi kết
hôn thì thường người đàn ông sẽ về nhà vợ.
Tuy nhiên thì ở tộc người Chơ Ro thì lại có phần hơi khác. Người Chơ
Ro coi vai trò của người đàn ông và phụ nữ trong gia đình là như nhau.
Các dân tộc đều thờ cúng những vị thần thiên nhiên theo quan điểm
truyền thống của tộc người mình. Các dân tộc đều có nên kinh tế nông nghiệp, dựa
vào thiên nhiên và trong các nghi lễ cúng tế, họ đều lựa chọn những sản phẩm
nông nghiệp để cúng tế thần linh như trâu, bò, lợn, gà, dê và đặc biệt không thể
thiếu được là rượu. Bàn thờ luôn được đặt ở nơi trang trọng nhất và tôn nghiêm
nhất trong nhà
+ Sinh hoạt văn hóa: người dân đều tập trung sinh sống thành một cộng
đồng gọi là làng hoặc là Bon. Đứng đầu là các già làng hay Bon trưởng, là những
người lớn tuổi có uy tín cao trong cộng đồng. Nơi tập trung sinh hoạt của người
dân trong làng, trong Bon thường là nhà Rông.
Các dân tộc đều có những hình thức sinh hoạt văn hóa đa dạng và mang
những nét đặc trưng văn hóa riêng biệt. Các loại trang sức như vòng cổ, hoa tai là
các loại trang sức không thể thiếu.
- Các dân tộc thuộc tiểu nhóm Ba Na Bắc
+ Cư trú: phần lớn dân số thuộc tiểu nhóm này cư trú ở khu vực Tây Nguyên
và Nam Trung Bộ.
Dân số của các dân tộc trong nhóm có sự khác biệt rất lớn, có những dân
tộc có số dân lên tới hàng trăm nghìn người nhưng cũng có dân tộc chỉ có hơn 3
trăm người ( dân tộc Brâu - 397 người)
+ Kiến trúc: Nhà hầu hết là nhà sàn nhưng hiện nay người dân của một số
dân tộc dần chuyển qua làm nhà đất.
13
lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu phát, trỉa và thu hoạch. Đặc biệt lễ thức
trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi
14
14
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau
ốm, khi qua đời… Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm
muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kì tuốt lúa.
+ Dân tộc Tà Ôi: Có rất nhiều lễ cúng, liên quan đến sức khỏe, tài sản, việc
ngăn chặn dịch bệnh, việc làm rẫy, vv Những lễ lớn đều có đâm trâu, tế thần và
trở thành ngày hội trong làng.
Gắn với chu kì canh tác có những lễ thức quan trọng nhằm cúng cầu Thần
Lúa, mong bội thu, no đủ.
Tết cổ truyền vào thời kì nghỉ ngơi sau khi tuốt lúa, trước mùa rẫy mới.
- Sinh hoạt văn hóa: Mỗi làng của đồng bào đều có 1 ngôi nhà chung, là nơi
sinh hoạt văn hóa chung của cả làng. Cũng như các dân tộc khác, đứng đầu mỗi
làng là các già làng, là người có uy tín cao và là người giàu có trong làng
Vốn tục ngữ, ca dao, kho truyện cổ của các dân tộc khá phong phú, nhạc cụ
gồm nhiều loại như tù, cồng chiêng…
Có rất nhiều lễ cúng, liên quan đến sức khỏe, tài sản, việc ngăn chặn dịch
bệnh, việc làm rẫy…
2. Tình hình nghiên cứu các ngôn ngữ và văn hóa của các tộc người
thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ Me, Ba Na, Ka Tu ở Việt Nam.
“Ở nước ta,vấn đề nhạy cảm của ngôn ngữ dân tộc cũng như văn hóa dân tộc
bắt nguồn từ mối quan hệ giữa các dân tộc trong tiến trình lịch sử. Có thể nói Việt
Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ. Ở đây có mặt hầu hết các dân tộc thuộc các
dòng ngôn ngữ ở ở Đông Nam Á”.
“Rất nhiều dân tộc ít người sống xen kẽ với nhau, thậm chí có những nhóm
nhỏ bị tách biệt, có nguy cơ mất tiếng mẹ đẻ nhưng ngôn ngữ của họ lại giữ vai trò
hết sức quan trọng trong việc xác định quan hệ cội nguồn của các nhóm ngôn
16
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Các sách dùng để dạy và học tiếng đã được biên soạn và xuất bản: sách học tiếng
Pakôh- Ta ôi (1986), sách học tiếng Bru - Vân Kiều (1986), sách học tiếng Êđê.
Một số sách miêu tả ngôn ngữ dưới hình thức chuyên khảo đã được xuất bản: ngữ
pháp tiếng Kơ Ho (1985), tiếng Rục (1993), tiếng Ka Tu- cấu tạo từ (1995), tiếng
Ka Tu (1998)”…
Các nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ thuộc ba nhóm này với các ngôn ngữ
thuộc nhóm khác cũng như các ngôn ngữ trong cùng một nhóm cũng đã được tiến
hành so sánh đối chiếu với nhau. Có thể dẫn ra một vài ví dụ cũng như kết quả
nghiên cứu của các học giả như:
- Theo Nguyễn Văn Lợi trong bài viết “các ngôn ngữ nhánh Việt ( Vietic) ở
trung Đông Dương và vấn đề Lịch sử tiếng Việt” tại hội thảo Khoa học “Những
vấn đề ngôn ngữ và văn hóa”, ông không sử dụng thuật ngữ “nhóm” mà thay vào
đó ông gọi là “nhánh”. Cũng trong bài báo cáo này, ông đã dẫn ra quan điểm của
Huffman cho rằng “Việt và Mường có 33% từ chung với các ngôn ngữ Katuic và
Bahnaric”, “tỉ lệ từ chung của Việt, Mường, Rục với các ngôn ngữ Katuic,
Bahnaric, Khmeric cao hơn hẳn tỉ lệ từ chung với ngôn ngữ Phlaungic, Khmuic và
Mangic”. Cũng theo tác giả, “ Rục có 20 - 23% từ chung với nhánh Phlaungic,
Mangic trong khi ngôn ngữ này có 30 - 35% từ chung với các ngôn ngữ nhánh
(nhóm) Katuic và Bahnaric. Như vậy về mặt thống kê từ vựng, nhánh (nhóm) Việt
(Vietic) có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ thuộc chi Môn - Khmer Đông như
nhánh (nhóm) Bahnar và đặc biệt là Katu. Ngoài ra, theo Difloth, giữa nhánh
(nhóm) Việt và nhánh (nhóm) Ka Tu còn chia sẻ một số những cách tân chung
trong quá trình biến đổi ngữ âm. Dựa trên những cơ sở này, ngày càng có nhiều
học giả cho rằng nhánh (nhóm)Việt thuộc chi (nhánh)Môn - Khmer Đông, dòng
Môn- Khmer, ngữ hệ Nam Á. Ngoài ra, Vietic và Katuic có thể bắt nguồn từ một
17
17
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Khơ-Me” của Nguyễn Văn Lợi đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 1- 1973.
+ “Một số đặc điểm tiếng Khơ Me đồng bằng Sông Cửu Long” của Thái
Văn
Chải đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 1986
+ “Hòa mã tiếng Khơ Me- Việt tại đồng bằng sông Cửu Long và sự phát
triển của tiếng Khơ Me Nam Bộ” của Đinh Lư Giang trên tạp chí ngôn ngữ số 267
tháng 8/2011.
Theo những nghiên cứu này, chúng ta có thể chỉ ra một vài đặc điểm về ngữ
âm của tiếng Khơ Me như sau:
Ngữ âm tiếng Khơ Me có xu hướng giản hóa âm tiết yếu (một số dd tiếng
Khơ Me đb Scl, tạp chí nn 1-1977).
Xu hướng giản hóa một số vần và có sự đối lập giữa hữu thanh và vô thanh
trong một số phụ âm ( Thái Văn Chải): về cơ bản tiếng Khơ ME Nam Bộ khá gần
với tiếng Khơ Me ở Cam Pu Chia, chỉ thay đổi về dạng thức ngữ âm (Nguyễn Văn
Lợi, tạp chí nn số 1-1973).
- Về mặt từ vựng: có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu về ngữ âm
tiếng Khơ Me như sau:
19
19
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
+ “Một số đặc điểm tiếng Khơ Me đồng bằng Sông Cửu Long” của Thái
Văn Chải đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 1986.
+ “Hòa mã tiếng Khơ Me- Việt tại đồng bằng sông Cửu Long và sự phát
triển của tiếng Khơ Me Nam Bộ” của Đinh Lư Giang trên tạp chí ngôn ngữ số 267
tháng 8/2011
Theo những nghiên cứu này, chúng ta có thể chỉ ra một vài đặc điểm về từ
vựng như sau:
Từ vựng của ngôn ngữ Khơ Me vay mượn khá nhiều từ tiếng Việt. Có
những từ tiếng Việt mà tiếng Khơ Me cũng có nhưng do tính thời sự của những từ
tiếng Việt này khá mạnh nên người Khơ Me thường dùng nó nhiều hơn là dùng từ
Dạng chữ Khơ Me truyền thống khó viết và khó nhớ hơn dạng chữ La Tinh
hóa. Mặt khác nó lại được ghi lại theo cách phát âm theo đúng chính tả hiện hành
chứ không ghi theo khẩu ngữ, do đó khi đọc lên có vẻ xa lạ với ngôn ngữ thường
ngày. Đó là những nguyên nhân khiến chữ Khơ Me truyền thống khó phổ cập
trong đông đảo quần chúng.
- Vấn đề còn đặt ra:
21
21
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Chữ viết của ngôn ngữ này cần được nghiên cứu kĩ hơn cũng nhưvấn đề phổ
cập chữ viết trong cộng đồng cần được chú trọng quan tâm.
Tiếng Khơ Me đồng bằng SCL cần được nghiên cứu kĩ hơn. Việc cải tiến
chữ viết, biên soạn từ điển và quy phạm ngữ pháp Khơ Me đang là những vấn đề
chủ yếu cần giải quyết.
- Mối quan hệ với các ngôn ngữ khác
Vấn đề xác định các mối quan hệ giữa tiếng Khơ Me và các ngôn ngữ khác
còn đang là vấn đề còn bị bỏ ngỏ.
* Tiếng Rơnăm
Như đã nói, tiếng Rơ năm là ngôn ngữ chưa được nghiên cứu nhiều. Hơn
nữa, số lượng người sử dụng ngôn ngữ này ở Việt Nam rất ít, do đó mà việc tìm
hiểu cũng gặp không ít khó khăn.
Bài viết tìm hiểu về “tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Rơ Năm ở làng
Le” (xã Mo Rai- Sa Thầy- Kon Tum) của Phan Lương Hùng ở tạp chí ngôn ngữ
3/2011 cho chúng ta thấy, trạng thái song ngữ Việt- Rơ năm, Rơ năm- Giarai diễn
ra khá phổ biến, đặc biệt là trạng thái Việt- Rơ năm. Ở trong phạm vi làng thì tiếng
Rơ năm có vị thế rất cao, sau đó mới đến tiếng Việt, tuy nhiên, ra tới phạm vi xã và
xa hơn, nó lại dường như mất vị thế.
Như vậy, còn rất nhiều vấn đề đặt ra đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ này.
Chúng ta chưa có những tri thức cụ thể về vấn đề ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đặc
biệt là làm thế nào để bảo vệ và phát triển ngôn ngữ khi mà ngôn ngữ này chưa có
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Trước đây tiếng này đã được Nguyễn Văn Lợi xếp chung với nhóm Mơ
Năm để tạo thành một ngôn ngữ riêng, nằm trong nhóm Ba na Bắc. Tuy nhiên vẫn
cần có sự nghiên cứu thấu đáo hơn về ngôn ngữ này.
- Tiếng Gié- Triêng: Hiện nay tiếng Giẻ Triêng hay còn gọi là tiếng Gié
vẫn chưa được nghiên cứu nhiều nhưng cũng có vấn đề đang phải tranh luận. Đó là
việc có tác giả tách nhóm P’nong thành một nhóm ngôn ngữ độc lập nhưng cũng
có tác giả cho rằng đó là một phương ngữ của tiếng Giẻ Triêng và do đó ngôn ngữ
này có tới 4 nhóm là Gié, Triêng, Ve và P’nong.
Ngôn ngữ này chưa hề có chữ viết cổ và cũng như một số ngôn ngữ ở
Tây Nguyên, nó đã được người Mỹ làm chữ viết theo mẫu tự La tinh.
- Tiếng Co: Người ta biết đến ngôn ngữ của dân tộc này với tên là tiếng
Cua hay Cùa và có thể bao gồm 2 vùng địa phương là Cùa vùng cao và Cùa vùng
thấp. Tiếng Cùa ( hay Co) vẫn là một đối tượng chưa nhận được sự quan tâm nhiều
của các nhà ngôn ngữ học.
- Tiếng Brâu: là một ngôn ngữ chưa có chữ viết
Là một ngôn ngữ chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều nên những vấn đề
của tiếng Brâu cho tới nay chúng ta có những hiểu biết rất ít
* Các ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Ba na Nam
- Tiếng Kơ Ho: cũng như đã nói, cùng với nỗ lực của Viện ngôn ngữ cùng
tỉnh Lâm Đông, năm 1983 chúng ta đã có cuốn từ điển Việt- Kơ Ho (Tạ Văn
Thông- tên riêng trong tiếng Kơ Ho)
Đây là những nỗ lực đáng trân trọng của các nhà ngôn ngữ cũng như các
nhà quản lí, song còn rất nhiều vấn đề mà chúng ta còn chưa có câu trả lời. Tiếng
24
24
Bài ểu luận giữa kì nhóm 5
Mnông: đã có một số nghiên cứu ngắn về tiếng Mnông như “lược sử cổ tự Phù
Nam- Khơme- Chăm” của Thái văn Chải và “từ vựng tiếng Mnông” của Hoàng
Thị Đường trong cuốn “tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc phía Nam”. Những