Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điểm nhìn của Ngô Tất Tố trong tác phẩm “Tắt đèn”
LỜI NÓI ĐẦU
Hơn hai nghìn năm trước Trang Tử đã có một triết lí rất hay về biển cả:
“Biển cả là nơi mà tất cả các nguồn nước trên thế gian này đều ra đi từ đó,
nhưng nó không vơi, và nó cũng là nơi đón nhận tất cả các nguồn nước nhưng
nó không đầy”. Văn học cũng như những nguồn nước đều đi ra từ biển cả cuộc
đời. Và hàng ngày, tiếng sóng thuỷ triều vẫn âm vang chuyên chở ấy có bao giờ
ngừng nghỉ, cũng như mảnh đất hiện thực có bao giờ vơi đi khi người nghệ sĩ
đến đó để chở nắng, chở gió cuộc đời và tưới mát muôn cây. Ngô Tất Tố cũng
như bao người nghệ sĩ khác, tâm hồn ông, nỗi đau, niềm vui sướng khổ của ông
luôn gắn chặt với mỗi cảnh đời, mỗi con người để từ đó kết tinh lại thành những
trang văn tài hoa, nhức nhối.
Người Nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng mỗi khi đặt bút để sáng tạo
những tác phẩm nghệ thuật đều hi vọng gửi gắm vào “đứa con tinh thần” của
mình những xúc cảm suy ngẫm về cuộc đời, về con người mỗi một điểm nhìn
của tác giả ở mỗi một phương diện khác nhau đều hướng tới cái đích chung đó.
Song không phải các tác phẩm được các tác giả sáng tác trong thời điểm giống
nhau đều có điểm nhìn như nhau. Điều đó đã làm nên phong cách riêng của mỗi
một nhà văn.
Với Ngô Tất Tố, hoàn cảnh xuất thân và điều kiện xã hội đã giúp ông tái
tạo lại bức tranh hiện thực của xã hội thực dân phong kiến một cách trung thực
nhất. Đọc “Tắt đèn” của ông, chúng ta như đau những nỗi đau của nhân vật.
Điều quan trọng hơn là trong điểm nhìn của Ngô Tất Tố độc giả đã thấy sức
sống của con người Việt Nam trong xã hội cũ, không chịu khuất phục trước thế
lực phong kiến tàn tạo. Với ý nghĩa đó chúng tôi xin chọn tác phẩm “Tắt đèn” để
khảo sát cho đề tài này với nội dung “Điểm nhìn của Ngô Tất Tố trong tác
phẩm “Tắt đèn””.
Bố cục bài viết gồm:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 1: Điểm nhìn và ý nghĩa của nó ở phương diện lý thuyết.
- Chào anh ạ!
- Em chào anh ạ!
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(So với lời chào tiếng Anh, tiếng Pháp, định vị thời gian được nhấn mạnh
thể hiện điểm nhìn chia cắt thời gian khác người Việt).
Mỗi biểu đạt thể hiện một điểm nhìn: Vị thế được xá định với người nói,
thái độ của bản thân với người nghe v.v… Ngoài ra phải tính đến ngữ điệu, và
một số yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm như ánh mắt, vẻ mặt, cử chỉ, điệu bộ v.v…
để suy ra thái độ chân thật hay giả dối, nghiêm túc hay giễu cợt v.v… Từ tiêu
điểm thông tin và tiêu điểm biểu cảm gắn với chủ thể giao tiếp, người nhận qua
thao tác suy ý, nhận ra điểm nhìn của lời nói cụ thể trong tình huống cụ thể.
Như vậy, điểm nhìn của lời nói giao tiếp là toạ độ của hai trục: lời nói
hiển nghô và hành vi giao tiếp và do thao tác suy ý người nhận có thể tiếp nhận
được.
Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp có gì khác với điểm nhìn trong một văn
bản tự sự (truyện ngắng, tiểu thuyết) v.v…
2.2. Điểm nhìn trong truyện
Điểm nhìn hay gọi đầy đủ hơn là “điểm nhìn nghệ thuật” trong truyện có
điểm giống với điểm nhìn trong lời nói giao tiếp. Bởi vì, bất cứ một hành động
ngôn ngữ nào, dù nói một câu hay viết hàng trăm nghìn cầu đều là những hành
động giao tiếp bằng ngôn ngữ và mỗi hành động giao tiếp đều chứa đựng một
hay một số điểm nhìn nhất định.
Những điểm khác nhau cơ bản giữa lời nói tự nhiên trong giao tiếp với lời
nói trong văn bản là chức năng và câu trúc của chúng.
Chức năng của lời nói giao tiếp là giao tiếp hội thoại, giao tiếp trực tiếp,
gắn với một tình huống hội thoại cụ thể với một đối tượng cụ thể. Vì vậy, nó
phải phục tùng các quy tắc, các phương châm hội thoai, trong khi lời nói trong
văn bản phải phục tùng các qui tắc cấu tạo văn bản, nó phải đặt trong tổ chức
văn bản bảo đảm tính mục đích, tính mạc lạc, tính hệ thống toàn vẹn của văn
bản. Do đó, mọi lời nói trong văn bản đều phải được cấu trúc lại, hệ thống hoá
của hệ thống” (hệ thống tư tưởng, phong cách…), chúng tôi nhằm nói đến cái ý
thức vốn có khả năng sinh ra cấu trúc đồng dạng và do đó có thể cải tạo lại được
trong khi tiếp nhận văn bản.
Hệ thống nghệ thuật được tạo nên như là sự phân tầng của các quan hệ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chính khái niệm “có nghĩa” muốn nói đến sự tồn tại của một mối liên hệ tin tức,
tức là một sự kiện có tính khuynh hướng xác định. Do chỗ mô hình nghệ thuật
trong hình thức chung nhất của nó tái tạo hình ảnh thé giới theo một ý thức nhất
định, tức là mô hình hoá quan hệ của cá nhân và thế giới (trường hợp cá biệt -
quan hệ của cá nhân nhận thức và thế giới được nhận thức) cho nên sự định
hướng sẽ mang tính chất chủ thể - khách thể.
Một yếu tố cấu trúc nghệ thuật tồn tại như một khả năng trong cấu trúc
ngôn ngữ, và rộng hơn, trong ý thức cấu trúc con người. Do vậy có thể mô tả
lịch sử tiến triển nghệ thuật của nhân loại căn cứ theo một trong số những yếu tố
đó, chẳng hạn lịch sử ẩn dụ, lịch sử nhịp điuêụ hoặc lịch sử thể loại này hay
khác. Nếu chúng ta nắm được đầy đủ những mô tả kiểu như vậy thì khi quy
chung về các chùm quan hệ, chúng ta có thể có được bức tranh phát triển của
nghệ thuật. Thế nhưng hiếm có yếu tố nào lại liên quan trực tiếp đến việc xây
dựng bức tranh thế giới như “điểm nhìn nghệ thuật”. Nó liên quan trực tiếp đến
các vấn đề trong những hệ thốg mô hìh hoá thứ cấp như vị thế của người sáng
tạo văn bản, vấn đề tính chân thực, vấn đề cá tính.
“Điểm nhìn” cấp cho văn bản sự định hướng nhất định về chủ thể của nó
(điều này đặc biệt rõ ràng trong lời nói trực tiếp). Nhưng mỗi văn bản lại thuộc
về một cấu trúc ngoại văn bản mà cấp độ trừu tượng hoá cao nhất của nó có thể
xác định như “loại hình thế giới quan” “bức tranh thế giới” hoặc “mô hìh văn
hoá” (ranh giới rạch ròi giữa cái khái niệm đó trong trường hợp này không quan
trọng).
Nhưng ở mỗi một mô hình văn học lại có sự định hướng của nó biểu hiện
trong một thang bậc nhất định những giá trị: chân thực và giả tạo, cao quý và
thấp kém. Nếu hình dung “bức tranh thế giới” của một nền văn hoá cụ thể như là
chỉ hiện ra với chúg ta qua sự trung gian của những điều người ta kể với ta về
nó: trò chuyện, bà học, sách báo v.v…”, đơn vị cơ bản của truyện kể ấy có thể
gọi là một “thông báo” hay một “tin tức”… Nhưng sự hiểu biết của chúng ta về
thế giới thườg sai lệch vì tin tức tam sao thất bản và đủ thứ nguyên nhân khác,
kể cả trí nhớ hạn hẹp của mỗi người, khiến nỗi “có biết bao nhiêu ảo ảnh giữa
chúng ta và thế giới, giữa chúng ta và những người khác, giữa chúng ta và bản
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thân chúng ta!”. Các ảo ảnh ấy chẳng bao giờ hết. Chẳng bao giờ có thể vạch ra
ranh giới dứt khoát giữa cái thực và cái tưởng tượng. Cách duy nhất để nói sự
thật, để đi tìm sự thật là “đối chiếu không mệt mỏi, một cách có phương pháp
những gì chúng ta thường kể với những gì chúng ta thấy, chúng ta nghe, với
những thông tin chúng ta nhận được, nghĩa là làm việc trên truyện kể”, và “tiểu
thuyết là nơi tốt nhất cho một công việc như thế”.
Tiểu thuyết là một hình thức đặc biệt của truyện kể, điều đó cũng dễ thấy.
Trong tiểu thuyết có ai kể , kể về ai và kể cho ai, vì dù nói gì thì nói, con người
vẫn chiếm vị trí trung tâm của tiểu thuyết, và tiểu thuyết viết ra là để cho người
khác đọc; trên đai thế tạo thành cái thế tam giác; người kể chuyện - nhân vật -
độc giả. Nói đến người kể chuyện, là nói tới điểm nhìn được xác định trong hệ
đa phương, không gian, thời gian, tâm lý, tạo thành góc nhìn. Người kể chuyện
là ai, kể chuyện người khác hay kể chuyện chính bản thân mình, khoảng cách về
không gian từ nơi sự việc xảy ra đến chỗ đứng của người kể chuyện cũng như
độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi sự việc được kể lại vẫn thường
được các nhà tiểu thuyết quan tâm từ lâu.
Một dạng phổ biến của tiểu thuyết truyền thống là người kể chuyện giấu
mặt (người trần thuật), coi như đứng ở một vị trí nào đấy trong không gian, thời
gian,bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra trọng vẹn và thuật lại
với chúng ta. Chuyện được kể ở ngôi thứ ba số ít. Dù nhân vật người kể chuyện
không xuất hiện, ta không biết tên tuổi, mặt mũi, tư cách ra sao, nhưng ngầm
hiểu trước sau vẫn một người ấy. Đó là loại tiểu thuyết một điểm nhìn.
Trong tiểu thuyết không thiếu gì những lúc các nhân vật đối thoại với
quá trình diễn biến tư tưởng của Ngô Tất Tố có lúc đã in dấu vết của những tư
tưởng Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Hồ Thích, đã chịu ảnh hưởng của Lư
Thoa (Rou sseau), Mạnh - Đức - Tư - Cưu (Montes quieu) . Nhưng điều cần chú
ý là ông đã thẳng thắn chỉ trích phong trào “Âu hoá, vui vẻ trẻ trung cũng như
đã vạch mặt trái cái kiểu “đánh bại Tây” bịp bợm của Phạm Quỳnh, Nguyễn
Văn Vĩnh.
Trong không khí của thời kỳ mặt trận dân tộc, ông đã tìm đọc tác phẩm
của Lỗ Tấn, Qúch Mạt Nhược, Gorki và cuối cùng ông đã tìm đến những sách
báo của Đảng, của Chủ nghĩa Mác-Lênin - Trong những môn đệ của Khổng
Mạnh, nhiều người ngơ ngác tụt lại phía sau nhưng Ngô Tất Tố đã phấn đấu
vượt lên phía trước, đuổ kịp thế hệ trẻ và trở thành một trong những người tiến
bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa.
Ngô Tất Tố sinh 1893 tại Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là huyện Đông Anh
ngoại thành Hà Nội. Ông mất ngày 20-04-1954 tại Yên Thế Bắc Giang chỉ ít
tuần lễ trước khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Sự nghiệp văn
học của Ngô Tất Tố khởi đầu bằng tác phẩm dịch Cẩm Hương Đình (1923) và
khép lại với vở chèo 10 cảnh Nữ chiến sĩ Bùi Thị Thác (1951). Ba mươi năm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cầm bút miệt mài, say mê bằng tài năng và tâm huyết trên nhiều tư cách: Nhà
tiểu thuyết, phóng sự, nhà báo, nhà khảo cứu, dịch thuật… Ngô Tất Tố đã kể lại
một sự nghiệp văn chương đồ sộ và đa dạng từ tiểu thuyết, phóng sự truyện ký
lịch sử đến khảo luận nghiên cứu, những công trình dịch thuật và hàng trăm bài
tiểu phẩm báo chí.
Điều đáng quý hơn là Ngô Tất Tố và sự nghiệp văn chương của ông vẫn
sống mãi “sống khoẻ mạnh và sắc sảo trong văn học ta”. Như sinh thời nhà văn
Nguyễn Tuân đánh giá về ông. Vượt lên sự phôi pha vốn như một quy luật sàng
lọc tự nhiên, sòng phẳng và nghiêm ngặt của thời gian. Khối trước tác khổng lồ,
đa dạng của Ngô Tất Tố càng ngày càng hiện hình lừng lững, càng lấp lánh vẻ
đẹp của một tài năng, một tấm lòng, một nhân cách lớn, và càng có giá trị tự
thân khẳng định vị trí đầy vinh dự của Ngô Tất Tố trong dòng văn học hiện thực
Phụng, Ngô Tất Tố hơn bất cứ nhà văn nào cùng thời, là người có “đủ tư cách”,
“đủ thẩm quyền” để viết và đã là người viết ra thật cảm động những trang sách
“đáng khóc, đáng cười” về cảnh sống cơ cực ở thôn quê và của người dân quê
thời thực dân phong kiến.
Thôn quê Việt Nam dưới ngòi bút của Ngô Tất Tố không như bọn thực
dân bưng bít và một lũ nhà văn tư sản tô điểm. Trong những luỹ tre xanh gầy và
gai góc kia, chiều chiều khói thổi cơm nhoi lên những mái tranh xám, tản ra
những cánh động lặng lẽ, không phải là những cảnh thơ mộng mà sự thật là
những người mẹ gần chết đói, con thơ nằm bên vẫn còn kéo dài vú ra nhay, là
những người cha ốm nhìn hấp hối trong những bếp đầu rau chỉ còn trolạnh và
những mảnh nồi vỡ, bao nhiêu áo cơm và hơi sức của bao nhiều người làm ăn
lấm lưỡi đều bị sưu cao thuế nặng lột hết, lột hết.
Và những nóc đình mái cong, ngói rêu có những cây gạo mọc vút lên hoa
đỏ rực trời, không phải chỉ có văng vẳng tiếng trống chèo và dập dìu bài Lưu
thuỷ về giêng, hai, ba, đình đám! Ở đây cả một bọn quan lại và cường hào cạnh
tranh nhau, tranh từng miếng phao câu, từng ngón tay xôi, cờ bạc, rượu chè, cô
đầu, chia nhau chấm nút cấu xé ruộng đất và sưu thuế, cưỡi trên những sống
lưng gần ngã gục của nông dân nô dịch…
Ngòi bút rắn chắc của Ngô Tất Tố đã không e dè đưa lên những sự thật
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ấy. Người nông dân giãy lên trên những dòng chữ của Ngô Tất Tố, chưa ánh lên
sức đấu tranh, những sự thống khổ của họ đem phơi ra đã được một phần nào
thật, thật trên cái đen tối của chế độ tàn bạo và ruỗng nát lúc bấy giờ. Bên cạnh
đó, những sự đè nén, lừa bịp và ăn gian nói dối của bọn thực dân và lũ bồi bút
của chúng ngày càng tàn tệ, trâng tráo. Cuộc chiến tranh thứ 2 vừa nổ, Pháp ở
Đông Dương liền quy ngay gối, mở cửa cho quan phiệt Nhật vào. Hai tầng áp
bức bóc lột và khủng bố lấy dân chúng. Văn hoá trong tay hai bọn ăn cướp nọ
càng khốc hại. Chúng nó cố kéo con người trở lại với tất cả những gì là thoái bộ,
dìm cho con người cắm đầu mê muội không thể nào cất nhìn lên, trông về tương
lai. Cái mạnh, cái sắc của Ngô Tất Tố là ở chỗ dám nhìn thẳng vào sự thật, căm
tim mình”, trái tim chỉ thuộc về đất nước mà ông hết lòng yêu thương, chỉ thuộc
về nhân dân mà ông thiết tha gắn bó. Chính đó là cái lõi để tạo nên tài năng lớn,
đa dạng nơi ông trong nhiều tư cách: Một cây bút tiểu thuyết, phóng sự xuất sắc,
một nhà báo “cự phách”, “có biệt tài”, một nhà khảo cứu, dịch thuật giàu tâm
huyết và bao trùm là tư cách một nhà văn hoál ớn. Chính đó cũg là cái lõi tạo
nên giá trị đặc sắc riêng trong di sản văn hoá đồ sộ của Ngô Tất Tố, là cơ sở
chắc chắn để khẳng định vị tri vững vàng của ông trong nền văn học dân tộc.
2. Tiểu thuyết “Tắt đèn”
Ngô Tất Tố là một nhà văn có nhiều thuận lợi để viết về nông thôn, một
cái vốn Nho học vững chắc và một sự hiểu biết sâu sắc về nông thôn và nông
dân Việt Nam. “Tắt đèn” ngay từ lúc mới ra đời đã được dư luận hoan nghênh
nhiệt liệt. Vũ Trọng Phụng một nhà tiểu thuyết có tên tuổi lúc bấy giờ đã ca
ngợi: ““Tắt đèn” một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn toàn phụng sự dân
quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy mà lại của một tác
giả đã được cái may hơn nhiều nhà văn khác là đã được sống nhiều ở nơi thôn
quê (…) đọc quyển “Tắt đèn” này, những độc giả khó tính cũng sẽ phải chịu
rằng óc quan sát của Ngô Tất Tố về những cảnh làm ruộng, thu thuế, chè chén,
xôi thịt, ức hiếp, bán vợ đợ con của đám dân quê quả là một thứ óc quan sát rất
tinh tường, rất chu đáo”. Các báo chí cách mạng ở Sài Gòn cũng cho rằng viết
về cuộc đời của nông dân sau lũy tre xanh thì “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố “đã
thành công một cách vẻ vang hết sức”. Nhà văn đã mang đến một cách nhìn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mới, có màu sắc “duy vật biện chứng”, một cách miêu tả và biểu hiện mới trong
nghệ thuật so với những tác phẩm đã viết về nông thôn đương thời.
Tác phẩm xuất sắc nhất của Ngô Tất Tố và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất
về nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, không thể không đề cập
đến Tắt đèn: “Một cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội… hoàn toàn phụng sự dân
quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy”, theo đánh giá
của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố viết Tắt đèn năm 1937, ít lâu sau khi tác phẩm
Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình ra đời, trong ảnh hưởng của phong
Tuân) ở nông thôn, Tắt đèn đồng thời là bản án đanh thép kết tội bọn quan lại
thống trị yhà hiếp, đục khoét người nông dân. Nhưng không chỉ thấu hiểu, sẻ
chia nỗi thống khổ không cùng với người lao động nghèo trong cuộc sống lầm
lụi, bị giày vò, đạy đoạ, Ngô Tất Tố còn phát hiện ở họ những tình cảm đẹp đẽ,
nhân ái, cao thượng và bản lĩnh kiên cường bất khuất, “Trên cái tối giời, tối đất
của đồng lúa ngày xưa”, Ngô Tất Tố đã dựng lên “sừng sững cái chân dung lạc
quan của chị Dậu”, “đã đưa ra, đã dám đưa ra một nhân vật đàn bà nông thôn
khoẻ khoắn, lành mạnh”, tiêu biểu cho hình ảnh khoẻ khoắn, ngời sáng của
người phụ nữ nông dân Việt Nam, một điển hình phụ nữ nông dân xuất sắc nhất
của văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Giá trị nhân văn của tác
phẩm, do vậy càng sâu sắc. Có thể nói, Ngô Tất Tố là người duy nhất trong số
các nhà văn cùng thời có được cái nhìn nhất quán, đầy trân tọng, yêu thương
như vậy đối với người nông dân. Tắt đèn xứng đáng là một “áng văn mới mẻ
nhất về loại văn chương xã hội ngày nay”, “một thiên kiệt tác hoàn toàn phụng
sự dân quê… khiến người đọc phải có những tư tưởng cải tạo xã hội”, một trong
những thành tựu nghệ thuật xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực Việt Nam
trước cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, Tắt đèn đã được dư luận và báo chí
tiến bộ đánh giá cao ở giá trị hiện thực: mô tả “những sự tàn bạo ghê gớm,
những chuyện hà lạm hèn mạt, những cảnh đói nghèo tai hại”; ở nghệ thuật tiểu
thuyết: “không còn là những điều biện giải khô khan của luân lý mà nó đã gắn
liền được vào cái nghệ thuật uyển chuyển của một tiểu thuyết gia”, “Ngô Tất Tố
đã dùng được đắc sách cái phương pháp khách quan, phương pháp rất mới mà
“chỉ nhà văn xã hội theo phương pháp duy vật biện chứng mới có mà có một
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cách đầy đủ”. Một số ý kiến đặc biệt nhấn mạnh đến lập trường, cách nhìn nhận
đúng đắn của Ngô Tất Tố: “Trái với Tự lực văn đoàn khi nói tới quê nhà: một
đằng là chế giễu những ngớ ngẩn và thi vị hoá cảnh quê, một đừng là nói những
cái bất bình nhìn từ con mắt của chính một người nông dân nhìn ra. Suốt trong
sáu thập kỷ qua. Tắt đèn đã được tái bản nhiều lần, và giá trị của cuốn tiểu
thuyết ngày càng được khẳng định vững chãi hơn, ở những tầng vỉa giá trị hiện