Đại từ nhân xưng trong tác phẩm Nam Cao - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đại từ nhân xưng trong tác phẩm Nam Cao
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nam Cao là một nhà văn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam. Ông chính là
người hoàn thiện cho bức tranh hiện thực phê phán của văn học Việt Nam trước
cách mạng tháng Tám. Sáng tác của Nam Cao là những tiếng thở dài day dứt,
dằn vặt, những cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội của tầng lớp trí thức hay tiếng kêu
đau khổ, chua chát, tuyệt vọng của người nông dân dưới chế độ cũ. Ngòi bút
tỉnh táo, sắc lạnh của ông khiến người ta liên tưởng tới giọng văn của Lỗ Tấn.
Nam Cao cũng là một trong số ít những nhà văn xây dựng được cho mình
một phong cách nghệ thuật đặc sắc với những tác phẩm để đời như: Chí Phèo, Sống
mòn, Đôi mắt….Có thể nói, cả Nam Cao và tác phẩm của ông đều thu hút được
sự chú ý của các nhà nghiên cứu.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu xoay quanh vấn đề Nam Cao
và các tác phẩm của ông nhưng lại chủ yếu là về mặt nội dung và phong cách
nghệ thuật. Trong bài viết này người viết muốn tiếp cận các tác phẩm của ông
dưới góc nhìn của Ngôn ngữ học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề trong các tác phẩm của Nam Cao là rất nhiều nhưng bài viết này
chỉ tập trung tìm hiểu về đại từ nhân xưng.
Trong khuôn khổ của một niên luận, chúng tôi chỉ lựa chọn 4 tác phẩm
trước cách mạng của ông làm tư liệu khảo sát, đó là : Nghèo, Chí Phèo, Lão
Hạc, và Những chuyện không muốn viết.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện niên luận này chúng tôi nhằm mục đích khảo sát và phân loại
hệ thống đại từ nhân xưng trong tác phẩm của Nam Cao, đồng thời, tìm hiểu
cách sử dụng cũng như giá trị nghệ thuật trong ấy để khẳng định một lần nữa
những đóng góp to lớn của ông về nghệ thuật ngôn từ trong văn xuôi.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4. Phương pháp nghiên cứu

danh từ cụ thể và để chỉ định xác định các danh từ, các đại từ nhân xưng làm cho
chúng có tính xác định rõ ràng”
Đại từ chỉ người, chỉ vật chỉ ngôi trong tiếng Việt rất phong phú về sắc
thái tu từ ngay cả trong trường hợp dùng riêng. Bên cạnh đó, tiếng Việt còn có
một hệ thống đại từ lâm thời mượn danh từ như: anh, em , ông , bà, chú , bác,
cha, mẹ…cho nên việc chuyển đổi các ngôi càng phức tạp. Theo Nguyễn Văn
Thành “bên cạnh việc tách riêng các đại từ thay thế danh từ và phân loại ngữ
nghĩa đại từ như phân loại các từ loại khác, còn phải áp dụng khái niệm phạm
trù ngữ pháp hiện đại, để xác định các hệ hình đối lập, diễn đạt các ý nghĩa ngữ
pháp đối lập về ngôi thứ, về số ít, số nhiều và nêu rõ quy luật chuyển đổi hay
thay thế của chúng”. Ông còn phân loại đại từ thành các loại:
+ Đại từ chỉ người và chỉ vật: bao gồm các đại từ: ai, kẻ, người, người ta,
gì, cái gì.
+ Đại từ nhân xưng bao gồm: tao, tôi, chúng tao, chúng tôi (ngôi thứ
nhất), mày, chúng mày (ngôi thứ hai), nó, họ, chúng nó (ngôi thứ ba). Và trong
Tiếng Việt còn một loạt các danh từ được sử dụng chuyển loại thành đại từ nhân
xưng như: bố, mẹ, con, anh, chị, em…
+ Đại từ chỉ định bao gồm: này, kia, nọ, đấy, nay, ấy, đây, làm sao, thế
nào, ra sao, đó nào…,
+ Đại từ xác định bao gồm: cả, tất cả, mọi, từng, mỗi, ai đó, cái gì, suốt,
thâu…
+ Đại từ không xác định bao gồm: bất kì, ai đó, cái gì đó.
+ Đại từ nghi vấn bao gồm: ai, cái gì, thế nào, ra sao, này, kia
+ đại từ phản thân: mình
+ Đại từ tương hỗ phản thân: nhau
Việc sử dụng các đại từ trong Tiếng Việt khá phức tạp để diễn đạt ý nghĩa
ngữ pháp và ý nghĩa tu từ. Cho nên, việc tách riêng phạm vi hoạt động của đại
Website: Email : Tel : 0918.775.368
từ sẽ giúp cho việc sử dụng đại từ được nhất quán và chặt chẽ.
1.1.2. Vị trí của đại từ trong hệ thống từ loại Tiếng Việt

xưng tiếng Việt bao gồm 2 lớp: lớp đại từ thực thụ và lớp đại từ lâm thời. Số đại
từ thực thụ chỉ gồm có 12 đại từ sau: tôi, tao, tớ, mày, nó, chúng tôi, chúng ta,
chúng mình, chúng mày, chúng nó, họ, chúng tao. Các đại từ lâm thời trong
tiếng Việt được mượn từ các danh từ chỉ người, mà trước hết là các danh từ chỉ
quan hệ thân thuộc như: ông, bà, chú, bác, bố, mẹ, anh, chị…Chính các đại từ
lâm thời này đã khiến cho hệ thống đại từ nhân xưng trong tiếng Việt cực kì
phong phú cả về số lượng lẫn chất lượng (40 từ). Các đại từ nhân xưng tiếng
Việt diễn đạt các ý nghĩa biểu cảm và tu từ tinh tế, mang sắc thái khác nhau. Do
đó khi xem xét chúng ta cần phải căn cứ vào ngữ cảnh cụ thể. Trong bài viết tác
giả Phạm Thành cũng đã nêu ra nguyên nhân của sự biến đổi từ danh từ sang đại
từ nhân xưng trong tiếng Việt. Theo bà, ác danh từ chỉ quan hệ thân tộc được sử
như các đại từ nhân xưng là do tiếng Việt không biến hình, từ trong tiếng Việt dễ
dàng chuyển hoá từ loại. Bên cạnh đó còn một nguyên nhân nữa thuộc về xã hội
đó là sự phân biệt thứ bậc rõ ràng trong quan hệ gia đình, mang tính độc lập giữa
thế hệ bậc trên và thế hệ bậc dưới
Ví dụ: cha, mẹ anh,chị ông, bà, chú, bác, cô, dì…
Con em cháu
Người Việt Nam lại rất coi trọng cách xưng hô theo quan hệ đó. Điều đó
đặt ra cho hệ thống đại từ nhân xưng thêm chức năng biểu đạt cách xưng hô ấy.
Vì vậy hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt phải mượn thêm một loạt các danh
từ chỉ quan hệ thân tộc.
Nếu như các đại từ thực thụ chịu sự ràng buộc vốn có của hệ thống (mỗi
từ chỉ hoạt động hạn chế trong pham vi một ngôi) thì các đại từ lâm thời lại hoàn
toàn khác. Chúng có thể hoạt động ở cả ba ngôi.
Ví dụ: Trong giao tiếp người Việt có thể nói:
- Mẹ tặng con món quà này.
Mẹ: ngôi thứ nhất
Con: ngôi thứ hai
Hoặc cũng có thể nói:
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
(Chí Phèo – Nam Cao)
Do đại từ nhân xưng lâm thời được mượn từ các danh từ chỉ quan hệ thân
tộc và chịu tác động của các yếu tố xã hội, yếu tố tâm lý nên chúng luôn biến
động. Theo lịch sử và theo thói quen giao tiếp có nhiều đại từ dần ít được sử
dụng như: nàng, thiếp, chàng… và cũng có những đại từ mới nảy sinh như: đồng
chí, bạn… Bên cạnh làm phong phú hệ thống đại từ nhân xưng, các đại từ lâm
thời còn khiến cho sắc thái, phong cách của hệ thống này trở nên phức tạp. Điều
này gây khó khăn cho những người học tiếng Việt do phải lựa chọn đại từ trong
từng hoàn cảnh giao tiếp.
Hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt mang đặc trưng về sắc thái biểu
cảm. Mỗi đại từ dù thuộc lớp đại từ thực thụ hay lớp đại từ lâm thời, dù ở chức
năng xưng hô hay ở chức năng thay thế đều mang một sắc thái biểu cảm nhất
định. Vì vậy việc lựa chọn đại từ nhân xưng trong giao tiếp của người Việt cũng
là một yêu cầu rất quan trọng. Và như tác giả Phạm Thành viết: “sắc thái biểu
cảm của câu nói thể hiện trong cách sử dụng đại từ nhân xưng, cho nên có thể
nói đại từ nhân xưng tiếng Việt mang ý nghĩa giao tế rộng lớn. Sự phong phú về
số lượng và sức biểu cảm mạnh mẽ của chúng thể hiện cách ứng xử tế nhị, muôn
màu muôn vẻ của con người Việt Nam.
2. Vài nét về tác giả, tác phẩm Nam Cao
2.1. Tác giả Nam Cao
Nam Cao tên là Trần Hữu Tri, sinh năm 1915 ở làng Đại Hoàng, Lý Nhân,
Hà Nam. Làng Đại Hoàng nằm trong vùng chiêm trũng, nông dân quanh năm
nghèo đói, lại bị cường hào ức hiếp, đục khoét tàn tệ.
Gần gũi với nông dân cùng với kinh nghiệm long đong lận đận của một trí
thức nghèo đã khiến Nam Cao thấu hiểu sâu sắc cuộc sống vật chất cũng như
tinh thần của người nông dân, tri thức trước cách mạng. Nhân vật trong tác
phẩm của Nam Cao hiện lên như những con người thật đang hoạt động, suy
nghĩ, rên rỉ và gào thét trong cơn cùng quẫn, bế tắc. Các nhân vật ấy giao tiếp
với nhau bằng thứ ngôn ngữ của đời thường và được tác giả gọi bằng những cái

Cao cũng không là ngoại lệ. Trái lại, các sáng tác của Nam Cao là điển hình cho
việc sử dụng một hệ thống đại từ nhân xưng cực kỳ phong phú, đa dạng với
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những sắc thái biểu đạt khác nhau.
Nam Cao là một nhà văn xuất sắc, ngôn ngữ Nam Cao “sống động, uyển
chuyển, tinh tế rất gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng”. Nó phản ánh
trực tiếp trạng thái ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại. Và điều này một phần có được
là do nghệ thuật sử dụng linh hoạt, toàn diện hệ thống đại từ nhân xưng. Có thể
nói ông là nhà văn bậc thầy trong lĩnh vực này. Sáng tác của Nam Cao trần thuật
từ cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Dường như hệ thống đại từ nhân xưng của
phương ngôn Bắc Bộ đã được thâu tóm trong tác phẩm của Nam Cao. Thế giới
nhân vật trong văn Nam Cao rất đông đảo: những người nông dân dưói đáy xã
hội, những quan lại bề trên chỉ chuyên bóc lột đè nén dân đen, những trí thức
tiểu tư sản nghèo. Cho nên hệ thống đại từ nhân xưng trong tác phẩm của Nam
Cao cũng rất phong phú. Trong phạm vi hẹp của một niên luận là cũng do hạn
chế về trình độ chúng tôi chỉ khảo sát hệ thống đại từ nhân xưng trong bốn tác
phẩm: Nghèo; Chí Phèo; Lão Hạc; Những chuyện không muốn viết.
Trong bốn tác phẩm chúng tôi đã thống kê được 49 đại từ nhân xưng với
1457 lần xuất hiện:
- Ngôi thứ nhất xuất hiện 317 lần chiếm 21.77%
- Ngôi thứ hai xuất hiện 133 lần chiếm 9.13%
- Ngôi thứ ba xuất hiện 1006 lần chiếm 69.1%
3.2. Các tiểu loại đại từ nhân xưng trong tác phẩm Nam Cao
2.2.1. Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
2.2.1.1. Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít
Bao gồm các đại từ như: Tôi: xuất hiện 252 lần
Tao: xuất hiện 11 lần
Con: xuất hiện 8 lần
Ta: xuất hiện 11 lần
Bu: xuất hiện 6 lần

đó hắn luôn gọi Bá Kiến là “cụ” và xưng “con”, nhưng lần này hắn lại xưng
“tao”. Đó giống như tiếng nói đòi quyền bình đẳng, đòi quyền sống và đòi lương
thiện. Đó cũng là tiếng nói chống lại chế độ, tiếng nói của những người cùng
cực nhằm xoá bỏ ách thống trị, áp bức của tầng lớp địa chủ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bên cạnh đó, đại từ tao còn đước sử dụng với thái độ tức giận và khinh
ghét đồng thời khẳng định vị thế bề trên của mình như lời bà Huyện nói với cái
Gái con chị đĩ Chuột:
- Mày về bảo con mẹ mày nội ngày mai không trả tiền tao thì
tao đào mả lên đấy! (Nghèo).
* Đại từ tớ
Đại từ tớ thuộc văn phong bình dân, được dùng trong xưng hô bạn bè, tỏ
ý thân mật, nhưng Nam Cao lại sử dụng trong một lời tỏ tình của đôi trai gái
đang yêu:
- Hay mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui! (Chí Phèo)
Đó là câu nói phong tình của Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Chỉ
với đại từ tớ Nam Cao đã lột tả hết vẻ ngượng ngùng, gượng gạo và sự cố gắng
của Chí Phèo . Và chỉ với từ tớ Nam Cao đã thay đổi hẳn Chí Phèo về mặt chất:
từ một con quỷ dữ, một kẻ cướp giật, ăn vạ trở thành một con người hiền lành
lương thiện, suồng sã, dễ gần.
* Các đại từ khác như: bu, thầy, con được dùng với tư cách đại từ nhân xưng
ngôi thứ nhât số ít thể hiện nét văn hoá Bắc Bộ cũ trong văn Nam Cao . Đó là
cách xưng hô quen thuộc của người nông dân xưa thể hiện quan hệ thứ bậc trong
gia đình cũng là tình cảm thân thuộc, ruột thịt
* Đại từ ông
Đại từ ông, bên cạnh thể hiện quan hệ thứ bậc, còn thể hiện thái độ
ngạo ngược
Ví dụ:
- Hôm nay ông không có tiền, nhà mày bán chịu cho ông một chai (Chí
Phèo)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status