I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU
1. Khái niệm, đặc trưng và vai trò của thuế nhập khẩu
a. Khái niệm thuế nhập khẩu
Xét về phương diện kinh tế, thuế NK được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ
chức và cá nhân vào NSNN theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi NK hàng hoá qua biên
giới một nước.
Xét về phương diện pháp lý, thuế NK có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh
giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực
hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế NK.
b. Đặc trưng thuế nhập khẩu
Thuế NK có 3 đặc trưng sau đây:
- Thuế NK có đối tượng chịu thuế là các hàng hoá được phép vận chuyển qua biên giới.
- Thuế NK không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu.
- Thuế NK có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động NK.
c. Vai trò thuế nhập khẩu
Thuế NK có 3 vai trò đó là:
- Tạo nguồn thu cho NSNN. Thuế NK không chỉ trực tiếp tạo ra nguồn thu cho ngân sách
nhà nước mà còn có tác động tới số lượng và cơ cấu các nguồn thu từ các sắc thuế khác có liên
quan. Trong mối quan hệ hữu cơ với các sắc thuế khác, thuế NK ảnh hưởng trực tiếp đến số thu
ngân sách từ những hình thức thuế gắn với hoạt động kinh doanh, thương mại như thuế giá trị gia
tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp…
- Điều tiết hoạt động kinh tế. Thuế NK là công cụ điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh
của nhà nước đối với nền kinh tế. Thông qua thuế NK nhà nước điều chỉnh quá trình phân bổ và
phân bổ lại các nguồn lực của nền kinh tế. Với việc tác động trực tiếp đến giá cả của hàng hóa
trong thương mại quốc tế, thuế NK điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên
thị trường và như vậy tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực trong các ngành sản xuất.
- Thuế NK là công cụ hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước. Thông qua thuế NK nhà
nước gián tiếp tác động vào việc điều tiết sản xuất trong nước. Thuế NK đánh thuế ở mức khác
nhau đối với từng loại hàng hóa nhập khẩu, từ đó điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa
chịu thuế trên thị trường và từ đó tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực cho các ngành sản xuất.
pháp luật đối với hoạt động hành thu thuế NK ở một nước. Ở Việt Nam hiện nay phần lớn các
quy định về thuế XK, thuế NK được thể hiện tập trung trong luật thuế XK, thuế NK ban hành
ngày 14 tháng 6 năm 2005.
- Các quy phạm pháp luật quốc tế về thuế NK
Thực tế cho rằng các quy phạm pháp luật quốc tế có liên quan đến thuế NK thể hiện trong
các điều ước quốc tế như hiệp định GATP, hiệp định CEPT hay hiệp định Việt Nam - Hoa kì và
các hiệp định thương mại khác.
- Các sự kiện pháp lý:
+ Một là, chủ thể thực hiện hành vi chính là người nộp thuế hoặc cơ quan thu thuế.
+ Hai là, hành vi pháp lý làm pháp sinh quan hệ pháp luật về thuế NK đều được dự liệu rõ
trong các văn bản pháp luật về thuế NK và phải được chứng minh bằng các chứng cứ cụ thể.
c. Căn cứ tính thuế nhập khẩu
- Trị giá hải quan (trị giá tính thuế): Nguyên tắc cơ bản nhất cần tuân thủ khi xác định trị
giá hải quan để tính thuế NK là cần phải tôn trọng giá trị thực tế của hàng hoá vốn dĩ được xác
định theo giá cả thị trường tại thời điểm phát sinh giao dịch, theo các điều kiện bình thường trong
giao dịch thương mại quốc tế. Thông thường trị giá hải quan (hay trị giá tính thuế) được xác định
bằng cách lấy giá tính thuế của đơn vị hàng hoá NK nhân với số lượng hàng hoá NK được ghi
trong tờ khai hải quan.
- Thuế suất: Thuế NK chỉ cần căn cứ vào biểu thuế suất. Tuy nhiên để đảm bảo khả năng
điều tiết của các hoạt động kinh tế trong nước một cách hiểu quả, các mức thuế suất cụ thể trong
biểu thuế NK sẽ do chính phủ quy định phù hợp với khung thuế suất do Uỷ ban thường vụ Quốc
2
hội quy định. Biểu thuế suất này có thể được thay đổi và điều chỉnh theo đề nghị của Bộ tài chính
và Bộ thương mại cho phù hợp với yêu cầu điều tiết hoạt động kinh tế.
d. Trình tự, thủ tục hành thu thuế nhập khẩu
Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế Việt Nam, trình tự thủ tục hành thu thuế NK
bao gồm các bước sau:
- Thứ nhất, kê khai thuế và tính thuế NK. Theo luật định mỗi lần có hàng hoá NK, tổ chức
và cá nhân đứng tên làm thủ tục NK hàng hoá phải tiến hành kê khai số lượng, giá tính thuế đối
Pháp luật về thuế NK đang ngày càng hoàn thiện phần nào đã đáp ứng được yêu cầu của sự
phát triển kinh tế cũng như đảm bảo được việc thực hiện chức năng quản lý hoạt động xuất NK
cũng như chức năng quản lý nền kinh tế của nhà nước trong bối cảnh hội nhập nhiều cơ hội
3
nhưng cũng đầy khó khăn và thách thức. Sau khi LTXKTNK 2005 ra đời, đặc biệt là kể từ khi
Việt Nam chính thức gia nhập WTO, pháp luật về thuế NK đã đạt được những kết quả đáng ghi
nhận.
Về mặt kinh tế - chính trị - xã hội: pháp luật về thuế NK đã tạo nên một hành lang pháp lý
vững chắc cho việc thực hiện các chính sách về thuế quan góp phần thúc đẩy hoạt động NK hàng
hóa. Khi chính sách về thuế NK ngày càng được nới rộng, mức độ mở cửa thị trường ngày càng
đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước phải cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất lao động, chất
lượng để tăng cường khả năng cạnh tranh với hàng hóa NK. Khi đó người tiêu dùng có thêm cơ
hội để được sử dụng những mặt hàng có chất lượng tốt hơn và giá thành lại rẻ hơn, góp phần
thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng trong nước. Và như vậy, có thể nói pháp luật về thuế NK đã gián
tiếp tác động tới sự phát triển của nền kinh tế trong nước.
Pháp luật về căn cứ tính thuế hiện nay đã phản ánh được chủ trương mở rộng hợp tác kinh
tế, mở rộng quan hệ ngoại gia “cùng hợp tác, cùng có lợi, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền
quốc gia”.
Những kết quả đạt được trong nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước: pháp luật về thuế NK
cùng với hệ thống pháp luật về thuế đã tạo một hành lang pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc
thực hiện mục tiêu thu NSNN. Trong những năm gần đây ngành Hải quan luôn nỗ lực hết mình
để hoàn thành những chỉ tiêu về thu ngân sách được Đảng và nhà nước giao phó. Trong nguồn
thu hàng năm của ngành Hải quan thì thu từ thuế NK luôn chiếm một tỷ trọng cao. Theo báo cáo
của Tổng cục hải quan tính đến hết tháng 7/2007 ngành hải quan đã thu được 44.898 tỷ đồng đạt
64,23% kế hoạch được giao và tăng 34,5% so với cùng kỳ năm 2006. Thực hiện luật quản lý thuế
có hiệu lực ngày 01/07/2007 ngành Hải quan đã tích cực thực hiện các biện pháp và hành động
hoàn thành chỉ tiêu thu nộp NSNN theo đúng kế hoạch. Tính đế 31/11/2008 toàn ngành hải quan
đã thu được 117.394 tỷ đồng, đạt 138,87% kế hoạch (117.394tỷ/84.500 tỷ) và bằng 130,39% chỉ
tiêu phấn đấu (117.394 tỷ/89.000 tỷ).
- Khai thấp giá trị đối với hàng hóa thử, sau đó nhập ồ ạt theo trị giá thất đã khai trước đó;
- Khai thấp trị giá đối với những mặt hàng nhạy cảm có thuế suất cao, NK số lượng lớn rồi
bỏ trốn hoặc giải thể;
- Lợi dụng quy định hàng khuyến mại để gian lận;
- Lợi dụng quy định về chiết khấu, giảm giá.
Với những thủ đoạn như trên, đòi hỏi cán bộ hải quan phải thu thập các nguồn thông tin và
bằng các kĩ năng nghiệp vụ giỏi mới có cơ sở bác bỏ trị giá khai báo của doanh nghiệp nhập
khẩu. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp công tác xác định trị giá tình thuế gặp nhiều khó khăn
khi tham vấn giá với các doanh nghiệp. Cụ thể là:
Bán hàng độc quyền, trị giá tính thuế khai báo cực thấp và riêng với mặt hàng ấy chỉ có duy
nhất một công ty nhập và phân phối trên thị trường. Nếu xây dựng cơ sở dữ liệu giá sẽ gặp khó
khăn và không thể cập nhật chính xác giá NK vì nhà sản xuất không bao giờ cung cấp mà chỉ
định đến liên hệ với đại lý của chính hãng – chính là doanh nghiệp NK. Những trường hợp này
thường xảy ra với những ngành hàng rượu và mỹ phẩm.
Trị giá thanh toán hay sẽ phải thanh toán của nhà NK cho nhà XK sẽ được khai thấp hơn so
với trị giá giao dịch thực tế nhờ sự thông đồng của cả hai bên như đã phân tích ở trên.
Việc xác định mối quan hệ đặc biệt trong giao dịch có ảnh hưởng đến trị giá giao dịch đối
với những người trong gia đình hay theo mô hình công ty mẹ con. Đối với những tình huống này
đòi hỏi cán bộ hải quan phải có nguồn thông tin có sẵn, phải có nghiệp vụ kiểm toán và được
quyền đọc sổ sách tài chính của công ty, nếu không rất khó bác bỏ trị giá mà doanh nghiệp khai
báo.
Việc XK sản phẩm đến nước của nhà NK nhưng không phải đóng thuế NK tại nước đó
cùng là một trường hợp khó xác định. Sản phẩm khi được bán thông qua đó đánh giá được nhu
cầu thị trường mở rộng nguồn tiêu thụ hoặc trưng bày quảng cáo thương hiệu sản phẩm mới,
được thông qua hàng F.O.C như trên hoặc tính gộp vào giá hàng nhập, đôi bên đều có lợi: nhà
NK được lợi từ trị giá hàng hóa sau khi bán, nhà XK không cần tốn chi phí quảng cáo thăm dò thị
trường.
5