Ôn tập ngữ văn lớp 9 luyện thi vào lớp 10 trung học phổ thông - Pdf 27

Ôn tp ng văn lp 9 luyn thi vo lp 10 trung hc ph thông
Bi 1: “ĐỒNG CHÍ ” - CHÍNH HỮU.
A. Kiến thức cần nhớ.
1.Tác giả
- Chính Hữu tên là Trần Đình Đắc, sinh năm 1926, quê ở Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Ông tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ. Từ người lính Trung đoàn Thủ
đô trở thành nhà thơ quân đội. - Chính Hữu làm thơ không nhiều, thơ ông thường viết về
người lính và chiến tranh, đặc biệt là những tình cảm cao đẹp của người lính, như tình
đồng chí, đồng đội, tình quê hương đất nước, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương.
- Thơ ông có những bài đặc sắc, giàu hình ảnh, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ cô đọng,
hàm súc.
- Chính Hữu được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
năm 2000.
2. Tác phẩm
- Bài “Đồng chí” sáng tác đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến
đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông năm 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn
của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc.
- Bài thơ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của
văn học thời kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954).
- Bài thơ đi theo khuynh hướng : Cảm hứng thơ hướng về chất thực của đời sống kháng
chiến, khai thác cái đẹp, chất thơ trong cái bình dị, bình thường, không nhấn mạnh cái
phi thường.
- Mạch cảm xúc (bố cục)
Phần 1: 6 câu thơ đầu: Lý giải về cơ sở của tình đồng chí. Câu 7 có cấu trúc đặc biệt
(chỉ với một từ với dấu chấm than) như một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinh
tình cảm giữa những người lính.
Phần 2: 10 câu thơ tiếp theo 9từ câu 8 -> 17) : Những biểu hiện cụ thể và sức mạnh của
tình đồng chí, đồng đội của người lính
+ Đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng của nhau (Ruộng nương anh gửi
bạn thân cày…… nhớ người ra lính)
+ Đó là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính (Áo anh

đấu thành “tri kỉ”, về sau trở thành “đồng chí”.
- Đến đây, câu thơ 7,8 được nhà thơ đột ngột rút ngắn và hạ xuống một dòng thơ thật đặc
biệt với hai tiếng: “Đồng chí”! Câu thơ ngắn, cùng với hình thức cảm thán mang âm
điệu vui tươi, vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định. Hai tiếng “đồng chí”
mới mẻ biết chừng nào, nửa quen, nửa lạ đã nói lên một tình cảm lớn lao, mới mẻ của
thời đại. “Đồng chí” theo nghĩa gốc là những người cùng chí hướng trong việc mưu đồ
một sự nghiệp chung ở trong một tổ chức. Nhưng đến bài thơ này thì tình đồng chí vừa
là tình chiến đấu vừa là tình thân. Đó là một tiếng gọi sâu thẳm và thiêng liêng. Tình
đồng chí, đồng đội của những người lính bắt đầu ngân vang từ hai chữ “đồng chí”.Dòng
thơ chỉ có một dòng mà có tác dụng khép mở tài tình, khép lại đoạn một - một đoạn
đường từ “xa lạ” đến “quen nhau” và mở ra đoạn hai – những biểu hiện cao đẹp của tình
đồng chí.
=> Tóm lại, đoạn thơ không nhiều lời mà kết tinh được chân lí lớn lao, đúng là một
phong cách thơ riêng của Chính Hữu: “Trong thơ, tôi cố gắng để nói cái cần nói, không
nói dài, nói thừa. Tôi mong có được sự hàm súc của lời thơ”.
b. Những biểu hiện cảm động của tình đồng chí:
- là sự cảm thông sâu sắc tâm tư nỗi niềm của nhau. Những người lính gắn bó với
nhau, họ hiểu đến những nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng đội mình:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Người lính đi chiến đấu để lại sau lưng mình những gì thân thương nhất của quê hương:
ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa…. Từ “mặc kệ” cho thấy tư thế ra đi dứt
khoát của người lính. Nhưng sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương, hình dung
những người ở nhà đang thương nhớ họ, dõi theo tin tức của họ. HÌnh ảnh “giếng nước
gốc đa” là hình ảnh thân thương của làng quê được nói nhiều trong ca dao xưa, được
Chính Hữu vận dụng, đưa vào thơ thật thật đâm đà, kín đáo mà ý nhị biết bao! Gian nhà,
giếng nước, gốc đa được nhân hoá, đang đêm ngày dõi theo bóng hình anh trai cày ra
trận? Hay “người ra lính” vẫn đêm ngày ôm ấp bóng hình quê hương? Biết bao nhớ
nhung! Những người lính không nói mình nhớ, lại chỉ nói người khác nhớ.

chia sẻ của những người đồng đội. Vượt qua những cơn lạnh thấu xương chỉ có thể bằng
nghị lực, bản thân, bằng sự nâng đỡ của tình người, tình đồng chí.
c. Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính.
- Ba câu cuối cùng kết thúc bài thơ bằng những hình ảnh thơ thật đẹp:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
- Nổi lên trên nền cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo - hiện thực khắc nghiệt của
những đêm rừng Việt Bắc là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Đó
là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã “đứng
cạnh bên nhau” giữa cái nơi giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây
phút “chờ giặc tới”. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả… Tầm
vóc của người lính bỗng chốc trở nên lớn lao, anh hùng.
- Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc: “Đầu súng trăng treo”- một hình ảnh cô đọng giàu
cảm xúc. Đó là một hình ảnh thật mà bản thân CHữu đã nhận ra trong những đêm phục
kích giữa rừng khuya: “… suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc
như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với
chúng tôi như một người bạn; rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật….”
- Nhưng Chính Hữu đã dùng hình ảnh vầng trăng treo trên đầu súng tạo ra những liên
tưởng phong phú và giàu chất lãng mạn. “Súng” biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện
thực khốc liệt. “Trăng” biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, mơ mộng và lãng mạn. Hai hình
ảnh “súng và “trăng” kết hợp với nhau tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người
3
lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Phải nói đây là những phút kì diệu, sự
thăng hoa cao độ của tâm hồn tình cảm, Chính Hữu mới có được những hình ảnh thơ đẹp
nhất của chiến trường. Hình ảnh ấy mang cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến - một nền
thơ giàu chất hiện thực và dạt dào cảm hứng lãng mạn. (Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ
nan”). Vì vậy mà câu thơ này đã được Chính Hữu lấy làm nhan đề cho cả một tập thơ -
tập “Đầu súng trăng treo”.
4. Tng kết:

Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa.
- Đồng đội ta
Chia tay nhau đứng trong chiến hào chật
hẹp
Chia tay nhau cuộc đời, chia nhau cái
chết.
- Ba thằng quặp chặt gió lùa vào đâu?
Nửa đêm sương gội mái đầu,
Chòi cao phần phật mấy tàu lá khô
(Lê Kim)
- Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế,
Gió qua rừng, Đèo Khế gió sang
(Tố Hữu)
- Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.
- Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)
Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông)
Bấm tay tính buổi anh đi
Mẹ thường vẫn nhắc: Biết khi nào về?
Lúa xanh xanh ngắt chân đê
Anh đi là để giữ quê quán mình
Cây đa bến nước sân đình
Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường
Hoa cau thơm ngát đầu nương
Anh đi chín đợi mười chờ
Tin thường thắng trận, bao giờ về
anh?”
- Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả Đô Thành nghi ngút cháy sau lưng

và tầm nhìn nào đó, vầng trăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phục
kích chờ giặc.
+ Lãng mạn vì trong hoàn cảnh hết sức gian khổ khốc liệt : đêm đông giá lạnh , rừng
hoang sương muối, cái chết cận kề, tâm hồn nhạy cảm của người chiến sĩ vẫn tìm thấy
chất thơ bay bổng trong vẻ đẹp bất ngờ của trăng . “Súng” là biểu tượng của chiến đấu ,
“trăng” là biểu tượng của cái đẹp , cho niềm vui lạc quan , cho sự bình yên của cuộc
sống . Súng và trăng là hư và thực , là chiến sĩ và thi sĩ , là “một cặp đồng chí “tô đậm vẻ
đệp của những cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau . Chính tình đồng chí đã làm cho
chiến cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp , vẫn thơ mộng , tạo cho họ sức mạnh và chiến thắng.
=> Hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa dẹp vừa mang đầy ý nghĩa như “Đầu súng
trăng treo” . Đây là một sáng tạo đầy bất ngờ . Hình tượng này góp phần nâng cao giá trị
bài thơ , tạo nên được dư vang trong lỏng người đọc .
=> Như vậy tình cảm đồng chí trong bài thơ là tình cảm sâu lắng chân thành của
những con người gắn bó keo sơn trong cuộcchiến đấu vĩ đại vì một lí tưởng chung.
.
Câu hỏi tương tự: Sửa lỗi câu văn sau : Với hình ảnh « đầu súng trăng treo » đã diễn tả
đầy sức gợi cảm mối tình tình đồng chí keo sơn trong bài bài thơ « đồng chí » được sáng
tác năm 1954 sau chiến thắng Việt Bắc.
Triển khai đoạn văn có câu chủ đề trên.
Câu 2: Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí”
- Bài thơ về tình đồng chí đã cho ta thấy vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách
mạng, cụ thể ở đây là anh bộ đội hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
+ Hoàn cảnh xuất thân: họ là những người nông dân nghèo ra đi từ hai miền đất xa nhau:
“ nước mặn đồng chua”, “ đất cầy lên sỏi đá.”
5
+ Họ ra đi vì nghĩa lớn (hai chữ “mặc kệ” nói được cái dứt khoát, mạnh mẽ mặc dù vẫn
luôn lưu luyến với quê hương “giếng nước gốc đa ”
+ Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sốt rét run người, trang
phục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá => Những gian khổ càng làm nổi bật vẻ đẹp
của anh bộ đội: sáng lên nụ cười của người lính (miệng cười buốt giá)

ghi trong lòng người về hai tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó . Tình đồng chí là cùng giai
cấp , cùng nhau từ những chi tiết nhỏ nhất của đời sống “Áo anh rách vai - Quần tôi có
vài mảnh vá- Miệng cười buốt giá- Chân không giầy”. Trong buốt giá gian lao, các anh
truyền cho nhau hơi ấm tình đồng đội : “ Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Những bàn
tay không lời mà nói được tất cả, các anh sát cánh bên nhau để cùng đi tới một chiều
cao : “Đêm nay rừng hoang sương muối - Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới - Đầu súng
trăng treo” cùng chung chiến hào , cùng chung sống chết , đó chính là biểu hiện cao đẹp
nhất của tình đồng chí . Chính tình đồng chí đã khiến các anh ngay giữa nnguy hiểm
gian lao vẫn thấy tâm hôn thanh thản và lãng mạn . Và đó cũng chính là tình cảm xã hội
thiêng liêng nhất , là cội nguồn của tình yêu nước , của sức mạnh con ngươờiViệt Nam
Câu 6
6
Có người chưa hiểu được hết câu thơ được coi là hay nhất trong bài thơ « Đồng
chí » : « Đầu súng trăng treo »
- Vì sao trăng vốn vời vợi trên cao nhưng lại có thể treo trên đầu súng nơi mặt
đất ?
- Với việc đặt trăng trên đầu súng , câu thơ đã gợi ra những vẻ đẹp gì về tâm hồn
người chiến sĩ ?
- Xét quan hệ với hai câu thơ trên , hình ảnh này giúp người đọc cảm nhận được
những điều gì về đời sống và tình người lính giữa những người chiến sĩ ?
Trong bài thơ « Đồng chí » của Chính Hữu , hình ảnh người lính luôn tự tin , đoàn
kết sát cánh bên nhau trong hoàn cảnh chién đấu gian khổ :
« Đầu súng trăng treo ».
Hình ảnh thơ hết sức độc đáo và lí thú , vừa hiện thực vừa lãng mạn bay bổng. Đêm
đã khuya , vầng trăng hạ thấp ngang trời. Vì vậy mà trong tầm ngắm, người lính phát
hiện ra một điều lí thú : Vầng trăng vốn cao vời vợi nhưng lại có thể treo trên đàu súng
nơi mặt đất .Quả là một tâm hồn lãng mạn bay bổng. Giữa giây phút hiểm nguy , người
lính vẫn say sưa với nét đẹp trong dời, một vầng trăng sáng. Súng và trăng cách xa nhau
trong không gian , thế nhưng lại được xếp cạnh nhau. Súng là biểu tượng cuộc chiến đấu
đầy gian khổ, trăng là biểu tượgn cho cuộc sống thanh bình. Phải chăng hai hình ảnh đối

“Đồng chí”. Tác phẩm đã diễn tả thật cảm động mối tình đồng chí thiêng liêng và xứng
đáng là một bài thơ trữ tình hay trong nền văn học VN.
Kết bi 2: “Đồng chí”là một bài thơ hay vì bằng một ngôn ngữ nghệ thuật hàm súc,
chắt lọc, với những chi tiết thơ đầy gợi cảm, tác giả đã khắc hoạ được gương mặt những
chiến sĩ vệ quốc một thời, và quan trọng hơn đó là gương mặt tinh thần, tình cảm đồng
chí mới mẻ, thiêng liêng, là sức mạnh để những con người áo rách, chân không giày
chiến thắng giặc Pháp.
Mở bi 3: ( Đề 4: Vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu)
Đồng đội ta
Chia tay nhau đứng trong chiến hào chật hẹp
Chia tay nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.
Vâng! Đó là tình cảm đồng đội keo sơn gắn bó từ trong tâm hồn thơ Chính Hữu mà để
sau này ông viết lên bài thơ “Đồng chí” như kết tinh tình cảm thiêng liêng chân thành
ấy khiến rung động bao trái tim bạn đọc.
Kết bi 3: Đồng chí! Hai tiếng thân thương lắng đọng trong lòng người đọc hơn nửa
thế kỉ nay. Tình cảm đồng chí, đồng đội là một nét đẹp truyền thống của người lính và
được nhân lên trong đời sống, trở thành một nét đẹp riêng tư tình đời, tình người của
nhân dân Việt Nam.
Kết bi 4: Bài thơ với một bút pháp đặc trưng, điển hình, đó là hiện thực nhưng không
bị khô cứng cũng không bị sa vào ước lệ hào hoa với tất cả những cảm xúc của người
trong cuộc, Chính Hữu đã tái hiện được những hình ảnh thơ chân tình, giản dị, hàm súc
lắng đọng nhưng vẫn kiêu sa. “Đồng chí” mãi mãi là sự kết tinh và thăng hoa cao độ
cho những người cầm bút, khởi nguồn cảm xúc cho thơ ca.
Mở bi 4: “Đồng ch”í là bài thơ hay nhất của Chính Hữu viết về người nông dân mặc
áo lính trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bài thơ
được viết vào đầu xuân năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, nó đã
đi qua một hành trình hơn nửa thế kỉ, làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính
Hữu.
Kết bi 5 : « Đồng chí » là bài thơ độc đáo viết về anh bộ đội cụ Hồ - người nông dân
mặc áo lính, những anh hùng áo vải trong thời đại Hồ Chí Minh. Bài thơ là một tượng

chién đấu, « Đầu » là ý thức là lí tưởng , tình cảm. Hai hình ảnh đó hoà nhập vào nhau
diẽn tả người chiến sĩ chung nhiệm vụ , chung chí hướng và lí tưởng cao đẹp. Điệp từ
« súng » và « đầu » được nhắc lại hi lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu
của người đồng chí.
- Họ cùng trải qua những khó khăn gian khổ trong buổi đầu của cuộc kháng chiến
gian nan : « Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ » . « Tri kỉ » là người bạn thân thiết
hiểu rất rõ về ta. Vất vả nguy nan đã gắn kết những người đồng chí khiến họ trở thành
những người bạn tâm giao gắn bó. Hình ảnh thật giản dị nhưng xúc động.
- Với caí chung và cái riêng ấy , họ đã trở thành « đồng chí ». Từ « Đồng chí »
được đặt thành cả một dòng thơ tạo hơi thở trầm lắng thiêng liêng. Nó như một nốt nhấn
mạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình cảm mới mẻ này. Nó đã lí giải ví so những người
lính từ bốn phươn g trời lại tụ họp về đây thân thiết gắn bó như máu thịt. Khi họ gọi
nhau bằng tiếng đồng chí họ không chỉ còn là người nông dân nghèo đói lam lũ , mà họ
trở thành anh em trong cả một cộng đồng với một lí tưởng cao cả vì đất nước quên thân
để tạo nên sự hồi sinh cho quê hương cho dân tộc.
=> Đoạn thơ gây ấn tượng với một tình cảm giai cấp mà lên , từ lí tưởng mà có.
2. Nhng biểu hin cao đẹp của tình đồng chí
Nếu ở khổ thơ thứ nhất tác giả lí giải cơ sở của tình đồng chí thì ở khổ thơ thứ hai ,
tác giả đã nêu lên những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí.
- Họ gắn bó với nhau trong những đêm rét chung chăn, trong những lúc hành quân
và họ hiểu những nỗi lòng sâu kín của nhau :
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
+ Họ xuất thân là những người nông dân nghèo bởi vậy họ gắn bó với ruộng đồng
chòm xóm. Ra đi vơi họ là bao khó khăn day dứt nhưng tiếng gọi của tổ quốc lớn lao
hơn đã cho họ quyết tâm . Hai chữ « mặc kệ » đã nói lên được cái kiên quyết dứt khoát
mạnh mẽ ấy và trách nhiệm vì cuộc sống bình yên nơi quê hương mà họ ra đi . Song
chính thái độ gồng mình lên ấy cho ta hiểu rằng thực sự những người lính đã bỏ lại đằng
sau bỏ thương mến nhớ nhung và tình cảm ấy càng cố kìm nén bao nhiêu thì càng trở

Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Sử dụng hình ảnh tương phản đối lập : “ Rừng hoang sương muối” với những đêm
dài lạnh giá đối lập với những người lính đứng cạnh bên nhau trong cái nơi sự sống và
cái chết chỉ trong gang tấc . Chính Hữu càng làm nổi bật sức mạng của tình đồng chí .
Từ “ chờ” cũng đã nói rõ cái tư thế , cái tinh thần chủ động đánh giặc của họ . Rõ ràng
khi những người lính đứng cạnh bên nhau vững chãi thì cái gian khổ , ác liệt của cuộc
chiến bị mờ đi . Tầm vóc những người lính bỗng trở nên lớn lao anh hùng.
- Những câu thơ tự do đang trải dài thì câu kết lại thu vào trong bốn chữ “Đầu súng
trăng treo “làm nhịp thơ đột ngột thay đổi , dồn nén, trắc gọn, gây sự chú ý cho người
dọc. Trong đêm phục kích giặc, ngươi chiến sĩ b ỗng phát hiện mũi súng như treo một
vầng trăng . Từ “ treo” đã tạo nên một mối quan hệ bất ngờ, độc đáo, nối liền mặt đất với
bầu trời, gợi những liên tưởng lí thú vừa hiện thực lại vừa lãng mạn.
+ Hiện thực vì đêm khuya trăng trên vòm trời cao đã sà xuống thấp dần, ở một vị trí
và tầm nhìn nào đó, vầng trăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phục
kích chờ giặc.
+ Lãng mạn vì trong hoàn cảnh hết sức gian khổ khốc liệt : đêm đông giá lạnh , rừng
hoang sương muối, cái chết cận kề, tâm hồn nhạy cảm của người chiến sĩ vẫn tìm thấy
chất thơ bay bổng trong vẻ đẹp bất ngờ của trăng . “Súng” là biểu tượng của chiến đấu ,
“trăng” là biểu tượng của cái đẹp , cho niềm vui lạc quan , cho sự bình yên của cuộc
sống . Súng và trăng là hư và thực , là chiến sĩ và thi sĩ , là “một cặp đồng chí “tô đậm vẻ
10
đệp của những cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau . Chính tình đồng chí đã làm cho
chiến cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp , vẫn thơ mộng , tạo cho họ sức mạnh và chiến thắng.
=> Hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa dẹp vừa mang đầy ý nghĩa như “Đầu súng
trăng treo” . Đây là một sáng tạo đầy bất ngờ . Hình tượng này góp phần nâng cao giá trị
bài thơ , tạo nên được dư vang trong lỏng người đọc .
=> Như vậy tình cảm đồng chí trong bài thơ là tình cảm sâu lắng chân thành của
những con người gắn bó keo sơn trong cuộcchiến đấu vĩ đại vì một lí tưởng chung.

trường.
- Bài thơ mở đầu bằng một câu thơ rất lạ, giản dị như một lời nói thường:
Không có kính không phải vì xe không có kính.
-Câu thơ như một câu văn xuôi, chẳng có gì là thơ cả. Hình ảnh thơ lại càng lạ và có sức
hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo. Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền
nếu đưa vào thơ thì thường được “mĩ lệ hoá”, “lãng mạn hoá” và thường mang ý nghĩa
tượng trưng hơn là tả thực. Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính là một
11
hình ảnh thực, thực đến trần trụi, đó là những chiếc xe “không kính” rồi “không đèn”,
“không mui” ấy vẫn chạy băng ra tiền tuyến.
- Cái nguyên nhân của nó cũng rất thực: Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi”.Hình ảnh
“bom giật, bom rung” vừa giúp ta hình dung được một vùng đất từng được mệnh danh là
“túi bom” của dịch vừa giúp ta thấy được sự khốc liệt của chiến tranh.
- Những chiếc xe như vậy vốn không hiếm trong chiến tranh chống Mĩ trên đường
Trường Sơn lửa đạn nhưng phải có một hồn thơ nhạy cảm với nét ngang tàng, tinh
nghịch thích cái lạ như Phạm Tiến Duật mới nhận ra đụơc và đưa nó vào thơ thành hình
tượng thơ độc đáo của thời chiến tranh chống Mĩ. Không tô vẽ, không cường điệu mà tả
thực nhưng chính cái thực đã làm người đọc suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của
chiến tranh, bom đạn giặc Mĩ. Hơn nữa, viết về những người lái xe thì không gì gắn họ
với hình ảnh chiếc xe, qua xe mà làm nổi bật hình ảnh ngưới lái xe.
- Bởi thế, hai câu thơ mở đầu bài đã thu hút sự chú ý của người đọc, người đọc bỗng
nhận ra chất thơ rất đẹp từ hình ảnh ấy: Bom đạn khốc liệt của chiến tranh cũng chỉ đủ
để làm cho những chiếc xe mất kính, thậm chí “không có kính, rồi xe không có đèn –
Không có mui xe thùng xe có xước”. Và những chiếc xe như vậy vẫn ngang tàng băng ra
chiến trường. Chính chất thơ ấy đâ làm cho những chiếc xe không kính trở thành hình
ảnh thơ độc đáo.
b. Hình ảnh những chiếc xe không kính đó làm nổi bật hình ảnh những chiến sĩ lái
xe ở Trường Sơn.
*Trên chiếc xe không kính, người lính hin ra vi tư thế ung dung, hiên ngang,
bình tĩnh

Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
- Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những người lính đã nếm trải đủ mùi
gian khổ. Những câu thơ giản dị như lời nói cửa miệng của người lính: “không có kính ừ
thì có bụi, ừ thì ướt áo”, “chưa cần rửa”, “chưa cần thay”…Điệp khúc ấy tạo nên giọng
điệu ngang tàng, bất chấp. Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng mà
các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn, chấp nhận thử thách như một tất yếu. Đầu tóc mặt
mũi bụi bám trắng không cần rửa, áo ướt không cần thay, và vẫn có thể “phì phèo châm
điếu thuốc – Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Sự bình thản đã đạt đến mức vô tư lự một
cách thật trẻ trung, cái thái độ “phót tỉnh” cũng rất trẻ trung. Niềm vui và tiếng cười của
những người lính trẻ sôi nổi, tinh nghịch cứ vút lên giữa gian khổ khắc nghiệt, giữa cả
nguy hiểm chết người của chiến tranh với những “bom giật, bom rung”. Câu thơ cuối 7
tiếng cuối đoạn có đến 6 thanh bằng “mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” gợi cảm giác
nhẹ nhõm, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản. Ý thơ rộn rã, sôi động như sự sôi động
hối hả của đoàn xe trên đường đi tới.
* Tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, thắm thiết - một nét đẹp phẩm chất của
người lính.
- Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ sôi nổi, yêu
đời từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lí tưởng đã gắn bó nhau
như ruột thịt, gia đình:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

không mui, không đèn, thùng xe có xước ” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh.
Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng
thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính / rồi xe không có đèn/ Không có mui xe/ thùng xe
có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai, bom đạn.
- Ấy vậy mà hai câu cuối, âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Những chiếc
xe mang trên mình đầy thương tích đó lại như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trên
bom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến. Phía trước ấy là miền Nam thân yêu. Sức mạnh để
chiếc xe băng mình ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính, một trái tim nồng
nàn tình yêu nước và sôi trào ý chí chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
- Điệp ngữ “không có”, các từ ngữ tương ứng “vẫn … chỉ cần có” đã làm cho giọng
thơ, ý thơ trở nên mạnh mẽ, hào hùng. Vẫn là cách nói thản nhiên ngang tàng của lính
nhưng câu thơ lại lắng sâu một tinh thần trách nhiệm và có ý nghĩa như một lời thề
thiêng liêng. Quyết tâm chiến đấu và chí khí anh hùng của người lính không có đạn bom
nào của kẻ thù có thể làm lay chuyển được.
5. Tng kết:
Bài thơ đã sáng tạo một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính, qua đó khắc hoạ
nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống
Mĩ cứu nước, với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm,
niềm vui sôi nổi của tuổi trẻ và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam.
Tác giả đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường,
cùng với ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ tự nhiên, khoẻ khoắn.
5. Liên h mở rộng.
Bi ca lái xe đêm (Tố Hữu)
Ơi chiếc xe vận tải
Ta cầm lái đi đây
Nặng biết bao ơn ngãi
Xe ơi cùng ta bay
Ta đi xe trong đêm Trường Sơn.
Nhạc và lời của Tân Huyền
Những đêm Trường Sơn

Cả nước hôn anh chàng trai chân đất
Sống hiên ngang bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi.
Một dây ná, một cây chông cũng tiến
công giặc Mỹ
- Vẫn đôi dép lội chiến trường
Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy.
(Tiếng hát sang xuân - Tố Hữu)
- Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai. (Tố
Hữu)
Những đêm Trường Sơn
Đường tiền tuyến uốn quanh co,
Mây trời đẹp quá,
Vỡ kính rồi, trăng tràn cả vào xe!
Tay lái thân yêu đã cùng ta
Bao chuyến đi về vượt từng hố bom
Từng ngọn cây vách đá
Tay lái thân yêu vẫn cùng ta
Đinh ninh trong dạ
Chi viện tiền phương xe lăn hối hả
Mang lửa nhiệt tình, đi giải phóng quê
hương

TRường Sơn Đông, Trường Sơn Tây
Phạm Tiến Duật
Phổ nhạc: Hoàng Hiệp
- Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm

a. Chép tiếp: Không có kính rồi xe không có đèn.
Không có mui xe thùng xe có xước.
Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
b. (tham khảo phần kiến thức cần nhớ)
c. Từ “Trái tim” trong câu thơ cuối cùng có thể hiểu theo nghĩa chuyển:
- Chỉ người lính lái xe
- Chỉ sự nhiệt tình cứu nước, lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước.
d. Đoạn văn phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung và hình thức (tham khảo câu 3,4)
- Cuộc chiến đấu ngày càng gian khổ, ác liệt (qua hình ảnh những chiếc xe ngày càng
méo mó, biến dạng)
- Bất chấp gian khổ, hi sinh, những chiếc xe vẫn thẳng đường ra tiền tuyến.
- Những người lính lái xe quả cảm vững tay lái vì học có một trái tim tràn đầy nhiệt tình
cách mạng, tình yêu tổ quốc nồng nàn, ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam sắt đá.
Câu 2 : Triển khai câu chủ đề sau : Cả bài thơ là dòng cảm xúc của người lính lái xe
trên con đường xe ra tiền tuyến.
Thật vậy , dòng cảm xúc ấy tuôn chảy dào dạt trong suốt bài thơ . Đi vào cuộc chiến
đấu với tất cả tính chất chủ động , tự tin của người có lí tưởng co đẹp , có sức mạnh và
tiềm lực nên tâm hồn người lính cũng có nét thanh thản, vui tươi. Điều khiến những
chiếc xe không kính với tốc độ phi thường như lướt nhanh trong bom đạn họ có cmr giác
thích thú, như cảm nhận cả con đường “ chạy thẳng vào tim” . Qua khung cửa xe không
kính các anh cảm nhận được vẻ đẹp của những cánh chim và cả những ánh ứao đêm lấp
lánh trên bầu trời . Gió cũng được nhan hoá và chuyển đổi cảm giác thật ấn tượng : “ gió
vào xoa mắt đắng”, mắt đắng , mắt cay là con mắt của những người đói ngủ vì phải thức
thâu đêm . Trong gian khổ ấy họ vẫn cất lên nụ cười lạc quan , yêu đời từ những khuôn
mặt lám lem khi đồng đội gặp nhau. Những câu thơ lạc quan yêu đời như thách thức với
mọi khó khăn : “ Không có kính ừ thì có bụi . Bụi phun tóc trắng như người già. Chưa
cần rửa phì phèo châm điếu thuốc. Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” . Cái bắt tay của
những người lính cũng thật hồn nhiên , mộc mạc mà cũng thấm thía tình đồng chí đồng

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng gió lùa mau khô thôi
Chuyện vặt ấy mà, có hề gì ! Nhịp điệu câu thơ, đặc biệt là các từ “ừ thì” đã nói lên
rất rõ điều đó. Đọc những câu thơ trên , ta tưởng như nhìn thấy mái đầu bạc trắng , bộ
mặt lấm lem và nghe rõ tiếng cười ha ha , sảng khoái của người lính. Nhưng đằng sau
những chữ bông đùa đáng yêu này là một bản lĩnh chiến đấu vững vàng thì không thể
đùa vui như vậy giữa cái tuyến đường TS ác liệt này . Và điều đó đã ngân lên câu hát
nâng bước chân người lính đi tiếp những chặng đường mới: “ Lại đi lại đi trời xanh
thêm”. Không dễ gì có được thí độ dũng cảm đến ngang tàng và lạc quan đến như thế
nếu không mang trong mình một trái tim yêu nước can trường.
Câu 4: Cảm nhận của em về hình ảnh người lính lái xe trong bài thơ “Bài thơ về
tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
Câu 5:
a. Phân tích giá trị biểu cảm của từ “Chông chênh” trong câu thơ: “Võng mắc chông
chênh đường xe chạy. Lại đi, lại đi trời xanh thêm”
b. Chỉ với hai câu thơ trên, Phạm Tiến Duật đã cho ta hiểu vẻ đẹp người lái xe Trường
Sơn thời chống Mĩ. Hãy viết tiếp từ 7 đến 12 câu tạo đoạn văn diễn dịch hoàn chỉnh
(trong đó có sử dụng phép nối và câu đơn mở rộng thành phần chủ ngữ)
Câu 6: Khi phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, trong phần giải
quyết vấn đề, bạn em đã nêu được một nhận xét:
“Bài thơ không chỉ phản ánh được cái khốc liệt, sự gian khổ của chiến tranh qua hình
ảnh những chiếc xe không kính mà từ trong những gian khổ, sự khốc liệt ấy bài thơ còn
là lời khẳng định ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường
Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mĩ”
a. Câu văn trên chứa đựng đề tài gì?
b. Triển khai 1 ý trong đề tài trên thành một đoạn văn hoàn chỉnh.
Gợi ý:
a.Đề tài:
- Bài thơ phản ánh được cái khốc liệt, gian khổ của chiến tranh qua hình ảnh những
ch iếc xe không kính.

Duật) là hai bài thơ tiêu biểu viết về đề tài người lính cách mạng trong hai thời kì
chống Pháp và chống Mỹ - so sánh hình ảnh người lính cách mạng ở hai bài thơ
này.
Gợi ý : Tham khảo h thống lun điểm phần thân bi của đề 4,5
1. Luận điểm 1 : Đánh giá chung vấn đề.
- Về đề ti : Dân tộc ta đứng lên tiến hành hai cuộc chiến tranh cách mạng oanh liệt
chống Pháp và chống Mỹ. Lẽ tất nhiên, ở đất nước ta hơn ba mươi năm chưa rời tay
súng, hình ảnh anh « Bộ đội cụ Hồ » là hình ảnh « con người đẹp nhất » đáng yêu nhất
trong văn thơ và là niềm tự hào lớn của dân tộc.
- Về hai tác phẩm : Cùng với nhiều bài thơ khác, hai bài thơ « Đồng chí » sáng tác năm
1948 khi tác giả Chính Hữu chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc và « Bài thơ về tiểu đội
xe không kính » sáng tác năm 1969 khi tác giả Phạm Tiến Duật tham gia hoạt động ở
tuyến đường Trường Sơn đã khắc hoạ thành công về đề tài người lính.
- Về vấn đề : Hình tượng « anh bộ đội cụ Hồ » được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ
trong văn chương Việt Nam hai gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong hai thời
kì lịch sử.
2. Luận điểm 2 : Phân tích
a. Nhng điểm chung :
* Yêu nước, yêu quê hương, có tình đồng chí gắn bó, keo sơn.
18
- Có thể phân tích tình yêu quê hương da diết, cháy bỏng của người lính trong bài thơ
« Đồng chí » qua nỗi nhớ quê được thể hiện trong hình ảnh thơ « giếng nước gốc đa
nhớ người ra trận » ; và những trái tim yêu nước luôn hướng về miền Nam thân yêu với
khát vọng cháy bỏng là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước « xe vẫn chạy vì miền
Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim ».
- Có thể phân tích cử chỉ nắm tay chất chứa bao tình cảm không lời trong cả hai bài thơ
thể hiện sự gắn bó đồng chí. (Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Hoặc : « Bắt tay qua
cửa kính vỡ rồi )
- Có thể phân tích câu thơ: « Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ/ Đồng chí !
* Vượt qua mọi khó khăn gian khổ để quyết tâm tiêu diệt giặc, hoàn thành nhiệm vụ.

Mĩ. Mà lòng phơi phới dậy tương lai ».
+ Người lính thời kì chống Mĩ hiện lên với vẻ đẹp trẻ trung, ngang tàng, tâm hồn nhậy
cảm, tính cách riêng mang chất «lính » đáng yêu. Họ chiến đấu vì miền Nam ruột thịt với
trái tim yêu nước cháy bỏng (xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước. Chỉ cần trong xe có
một trái tim)
3. Luận điểm 3 : Đánh giá chung.
19
- Hình tượng người lính dù ở thời kì kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến chống Mỹ
đều mang phẩm chất cao đẹp của « anh bộ đội cụ Hồ » - thời đại đã cung cấp cho các
nhà thơ những nguyên mẫu đẹp đẽ để họ tạo nên những hình tượng làm xúc động lòng
người.
- Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những người đồng đội của
mình. Vì thế, hình tượng người lính chân thật và sinh động.
***********************************************
Bi 3: ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ - HUY CẬN
A. Kiến thức cần nh.
1. Tác giả:
- Huy Cận bút danh là Cù Huy Cận, sinh năm 1919, quê ở hà Tĩnh. Ông mất năm 2005
tại Hà Nội.
- Huy Cận là một cây bút nổi tiếng của phong trào thơ mới với tập thơ “Lửa thiêng”
giàu chất triết lí và thấm thía bao nỗi buồn.
- Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Sau cách mạng tháng Tám, ông giữ
nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là một nhà thơ tiêu biểu của
nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945.
- Thơ Huy cận sau cách mạng tràn đầy niềm vui, niềm tin yêu cuộc sống mới. Thiên
nhiên, vũ trụ là nguồn cảm hứng dồi dào trong thơ Huy Cận và nó mang những nét đẹp
riêng. Hàng loạt tập thơ nối tiếp ra đời: “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958), “Đất nở hoa”
(1960), “bài thơ cuộc đời” (1963), “hai bàn tay em” (1967)…
- Huy Cận mất năm 2005, tại Hà Nội.
2. Tác phẩm.

- Ở nước ta, thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển. Như vậy, “mặt trời xuống
biển” là một cảnh tượng lạ, chỉ có thể nhìn thấy từ một hòn đảo nào đó ngoài khơi, hoặc
từ một con thuyền đang ra biển. Ngoài khơi xa, bốn bề là nước, nhìn về phía tây có cảm
giác mặt trời như một hòn than cháy hồng đang lặn xuống biển. Sau lúc hoàng hôn là
màn đêm buông xuống. Trong câu thơ: “Sóng đã cài then đêm sập cửa”, Huy Cận đã có
một liên tưởng thật bất ngờ: vũ trụ như một ngôi nhà lớn với màn đêm buông xuống là
tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng hiền hoà gối đầu nhau chạy ngang trên biển như
những chiếc then cài cửa.
- Với sự liên tưởng so sánh thú vị, với hình ảnh nhân hoá đặc sắc, Huy Cận đã miêu tả
rất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển vào đêm thật kì vĩ,
tráng lệ như thần thoại. Phác hoạ được một bức tranh phong cảnh kì diệu như thế hẳn
nhà thơ phải có cặp mắt thần và trái tim nhậy cảm.
*.Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi trong thời điểm ấy.
- Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày. Giữa lúc vũ trụ, đất trời như
chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hoạt động: “Đoàn
thuyền đánh cá lại ra khơi. Câu hát căng buồm trong gió khơi. -> Sự đối lập này làm nổi
bật tư thế lao động của con người trước biển cả.
+ Nhịp thơ nhanh mạnh như một quyết định dứt khoát. Đoàn ngư dân ào xuống đẩy
thuyền ra khơi và cất cao tiếng hát khởi hành. Từ “lại” vừa biểu thị sự lặp lại tuần tự,
thường nhật, liên tục mỗi ngày của công việc lao động vừa biểu thị ý so sánh ngược
chiều với câu trên: đất trời vào đêm nghỉ ngơi mà con người bắt đầu lao động, một công
việc lao động không ít vất vả.
+ Hình ảnh “câu hát căng buồm” - cánh buồm căng gió ra khơi- là ẩn dụ cho tiếng hát
của con người có sức mạnh làm căng cánh buồm. Câu hát là niềm vui, niềm say sưa
hứng khởi của những người lao động lạc quan yêu nghề, yêu biển và say mê với công
việc chinh phục biển khơi làm giầu cho Tổ quốc.
*Câu hát của người lao động còn mang theo một niềm mong mỏi tha thiết, vừa hiện
thực vừa lãng mạn:
Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển đông như đoàn thoi

*Biển giầu đẹp nên thơ và có thật nhiều tài nguyên:
Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nước Hạ Long
- Huy Cận đã ngợi ca sự giàu có của biển cả bằng cách liệt kê tên các loài cá và tập
trung miêu tả màu sắc của chúng trong đêm trăng. Những con cá song giống như ngọn
đuốc đen hồng đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn
dụ độc đáo. Tuy nhiên “cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” lại là hình ảnh đẹp nhất. Ánh
trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quẫy ánh trăng tan ra vàng chóe.
Phải thật tinh tế mới có được những phát hiện tuyệt vời ấy. Cảnh biển về đêm mới đẹp
đẽ và thi vị làm sao!
- “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình ảnh nhân hóa đẹp. Đêm được miêu tả như
một sinh vật đại dương: nó thở. Tiếng thở của biển đêm chính là ánh sao lùa sóng nước,
hoà với tiếng gõ thuyền trong nhịp điệu hối thúc của đêm tàn… . Nhưng tưởng tượng
của nhà thơ lại được cắt nghĩa bằng một hình ảnh bất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làm
nên tiếng thở của đêm. Đây là một hình ảnh đảo ngược, sóng biển đu đưa lùa bóng sao
trời nơi đáy nước chứ không phải bóng sao lùa sóng nước. Đây là một hình ảnh lạ - một
sáng tạo nghệ thuật của Huy Cận khiến cho cảnh thiên nhiên thêm sinh động. Tất cả làm
nên một cuộc hoà nhịp diệu kì giữa con người lao động và thiên nhiên vũ trụ.
*.Biển không những giầu đẹp mà còn rất ân nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ.
Biển cho con người cá, nuôi lớn con người. Những người dân chài đã hát bài ca gọi cá
vào với họ:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
22
Không phải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là “trăng cao gõ”. Trong đêm
trăng sáng, vầng trăng in xuống mặt nước, sóng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạn
thuyền thành hình ảnh “nhịp trăng cao gõ”. Có thể nói đây là hình ảnh lãng mạn đầy chất
thơ làm đẹp thêm công việc lao động đánh cá trên biển. Thiên nhiên đã cùng với con

nhô lên trên sóng nước xanh lam , chiếu tỏa ánh sáng rực rỡ, cảnh biển bừng sáng và còn
đẹp hơn với kết quả lao động. Con thuyền chở về khoang nào cũng đầy ắp cá. Mắt cá
phản chiếu ánh mặt trời giống như muôn vàn mặt trời nhỏ li ti. Đó thật sự là một cảnh
tượng đẹp, huy hoàng giữa bầu trời và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động.
d. Tổng kết.
Theo hành trình chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, bài thơ đã khắc họa nhiều
hình ảnh đẹp tráng lệ về thiên nhiên vũ trụ và người lao động, thể hiện sự hài hoà giữa
thiên nhiên và con người, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và
cuộc sống.
Bài thơ có nhiều sáng tạo trong xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong
phú độc đáo; có âm hưởng khoẻ khoắn, hào hùng lạc quan.
4. Liên hệ mở rộng.
23
Bi ca mùa xuân 1961 (Tố Hu)
Tôi viết bài thơ xuân
Nghìn chín trăm sáu mốt
Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt
Nắng soi sương giọt long lanh….
Nào đi tới! Bác Hồ ta nói
Phút giao thừa, tiếng hát đêm xuân
Kế hoạch năm năm. Mời những đoàn quân
Mời những bàn chân, tiến lên phía trước
Tất cả dưới cờ, hát lên và bước!
Đi ta đi ! Khai phá rừng hoang
Hỏi núi non cao, đâu sắt đâu vàng?
Hỏi biển khơi xa, đâu luồng cá chạy?
Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông
Chảy
Hỏi đâu thác nhảy, cho điện quay
chiều?

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.
Hãy tìm một ví dụ cũng có sử dụng biện pháp tu từ nghệ thuật giống như câu thơ
trên (trong chương trình đã học)
Câu 8: Phân tích giá trị các biện pháp tu từ trong câu thơ sau:
Biển cho ta cá như lòng mẹ.
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”
Hãy viết 1 đoạn văn phân tích hai câu thơ trên.
Câu 9: (Đề thi vào THPT năm học 2005 – 2006)
24
1) Bài “cành phong lan bể” có câu: “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về”. Bài “Đoàn
thuyền đánh cá” cũng có câu thơ giàu hình ảnh tương tự. Hãy chép chính xác khổ thơ
có câu thơ đó và nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ?
2) Con cá song và ngọn đuốc là hai sự vật khác nhau trong tưởng tượng nhưng Huy
Cận lại có sự liên tưởng hợp lí. Tại sao vậy? Câu thơ của ông giúp người đọc hiểu
thêm gì về thiên nhiên và tài quan sát của ông?
3) Dưới đây là câu chủ đề cho một đoạn văn trình bầy cảm nhận về khổ thơ yêu cầu
chép ở câu 1: “Chỉ với bốn câu thơ, Huy Cận đã cho chúng ta thấy một bức tranh
kì thú về sự đẹp đẽ của biển cả quê hương”.
Em hãy viết tiếp khoảng 8 đến 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn trên theo phép lập
luận diễn dịch (trong đó có một câu ghép và một câu có thành phần tình thái)
Câu 10: Viết đoạn văn tổng phân hợp khoảng 15 câu:
Cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ kết hợp hài hoà với cảm hứng lao động đã tạo nên
những hình ảnh rực rỡ, bay bổng, lãng mạn trong khổ thơ thứ hai và thứ ba của bài thơ :
“Đoàn thuyền đánh cá”. (Đoạn văn có sử dụng câu bị động và câu có thành phần phụ
chú)
Câu 11:Trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, tác giả có viết :
“đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
a) Hãy phân tích cái hay của phụ từ “lại”
b) “ Câu hát căng buồm” là cách viết rất đặc sắc, mới đọc tưởng như pji lí nhưng lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status